Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Trang 5 - Y khoa - Dược (22.817)

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và phòng chống bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1975- 2003

Qua phân tích tình hình, các kết quả nghiên cứu 1975- 2003, có một số nhận định như sau: Bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã có quá trình 105 năm (1898- 2003), dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có thể chia làm 4 thời kỳ dịch tễ học: xâm nhập: 1898- 1922; lắng dịu: 1923- 1960; bùng phát: 1961- 1990; thu hẹp: 1991- 2003. Bệnh nhân chủ yếu là thể hạch. Có ghi nhận thể phổi nguyên phát nhưng hiếm khi xảy ra dịch thể phổi lớn. Dịch có đặc điểm là dịch vùng dân cư của chuột gần người, không có dịch hoang dại. Dịch lưu hành dai dẳng ở vùng cực nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Các yếu tố liên quan đến sự dai dẳng của dịch là: nhiệt độ các tháng không quá 27oC, không bị ngập lụt, có mặt chuột Rattus exulans. Biện pháp phòng chống hiệu quả là diệt bọ chét bằng hóa chất. Đặt hộp mồi Kartman thanh toán được các ổ dịch dai dẳng. Đến nay dịch đã được khống chế một bước lớn, cần tiếp tục giám sát, phòng chống tiến tới thanh toán bệnh dịch hạch ở Việt Nam trong một tương lai không xa.


Thúc đẩy phòng lây truyền HIV/AIDS qua biên giới giữa Trung Quốc và các nước vùng sông Mê Kông

Dịch HIV/AIDS có khả năng bùng nổ ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc và các tỉnh phía bắc Lào, Myanmar và Việt Nam. Việc phân loại nhóm gen của HIV đã khẳng định sự lan truyền đáng kể vi rút qua biên giới giữa các nước này. Sử dụng ma túy, di biến động dân cư và mua bán tình dục là các yếu tố thúc đẩy dịch lan nhanh. Dù mỗi nước đã có nỗ lực phòng chống HIV nhưng sự cộng tác giữa hai bên để ngăn chặn lây lan qua biên giới còn hạn chế. Với sự hỗ trợ từ Bộ Ngoại giao Mỹ , PATH, và Hội Nghiên cứu và Sức khỏe Sinh sản Vân Nam đã triệu tập một cuộc hội tụ đại diện các tổ chức chính phủ, phi chính phủ ở các khu vực hai bên biên giới và dẫn dắt quá trình lập kế hoạch hành động. Bản kế hoạch nhằm vào cải thiện nhanh chóng những nỗ lực hòng chống HIV/AIDS ở các khu vực biên giới phía nam Trung Quốc và các nước vùng sông Mê Kông.


Giá trị, độ tin cậy của thang đo trầm cảm của vị thành niên và thanh niên và một số yếu tố liên quan tại huyện Chí Linh, Hải Dương năm 2006

Mục tiêu nghiên cứu này nhằm: (1) Xây dựng và bước đầu đánh giá giá trị và độ tin cậy của thang đo trầm cảm của vị thành niên và thanh niên tại 7 xã/thị chấn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; (2) tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố dân số xã hội và mức độ trầm cảm của những đối tượng trên. Thang đo trầm cảm được chúng tôi dịch dựa trên thang đo trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu dịch tễ học (CES-D), Mỹ và xây dựng theo quy trình cụ thể, sau đó được kiểm định với 12.447 vị thành niên và thanh niên huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.


Những rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người di cư mùa vụ độ tuổi 18 - 50 tại phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội năm 2012

Phân tích chủ đề được thực hiện sau khi gỡ băng và mã hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập thấp và không ổn định, chi phí khám chữa bệnh cao tại nơi đến chính là rào cản lớn đến tiếp cận và sử dụng dịch vu y tế. Bên cạnh đó, một số yếu tố khác như thời gian làm việc dài, thói quen tự điều trị, Bảo hiểm Y tế cũng góp phần ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người di cư. Khuyến nghị: các hoạt động nâng cao sức khỏe cộng đồng cần lôi kéo sự tham gia của người di cư và với người di cư nên đi khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần.


Khảo sát mức độ hút thuốc lá thụ động tại các địa điểm công cộng ở Hà Nội

Nghiên cứu được tiến hành để cung cấp những kết quả ban đầu về mức độ hút thuốc thụ động ở các địa điểm công cộng tại Hà Nội, từ đó làm cơ sở hỗ trợ xây dựng các chính sách phòng chống hút thuốc lá. Nghiên cứu được tiến hành tại 35 địa điểm cộng cộng gồm các cơ quan nhà nước, bệnh viện, trường phổ thông cơ sở, nhà hàng và các địa điểm vui chơi giải trí từ tháng 1/2010. Kết quả cho thấy nồng độ PM2.5 trong không khí ở trong nhà và ngoài trời tại tất cả các địa điểm trong mẫu nghiên cứu đều cao hơn tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ((25 µg/m3), nồng độ PM2.5 đặc biệt cao tại các địa điểm vui chơi giải trí, nhà hàng.


Gia đình và giáo dục tình dục, sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên

Mặc dù có những tranh cãi về tính thích hợp trong việc giáo dục tình dục cho trẻ em và vị thành niên (VTN) thì việc khám phá và phát triển đặc trưng tính dục là điều rất tự nhiên và cần thiết cho mỗi con người trong chặng đường phát triển. Vai trò của gia đình thông qua giáo dục giữa cha mẹ và con cái đã được coi là nguồn thông tin giáo dục quan trọng trong giáo dục tình dục và sức khỏe sinh sản cho VTN bên cạnh hai chủ đề khác là nhà trường và xã hội. Giáo dục tình dục và sức khỏe sinh sản trong gia đình không những giúp VTN ngăn ngừa được những hành vi thiếu lành mạnh mà còn giúp trẻ phát triển những giá trị tính dục bản thân, nâng cao sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản không những trong giai đoạn dậy thì mà còn trong suốt cuộc đờ


Cải cách tài chính y tế ở Đông Nam Á: Những thách thức để đạt được bao phủ toàn dân

Trong bài viết này, chúng tôi xem xét cải cách tài chính y tế tại 7 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, những nước đang cố gắng hạn chế sự phụ thuộc vào khoản chi trả trực tiếp (bằng tiền túi) của người bệnh, tăng tài chính y tế bằng quỹ chung, và mở rộng sử dụng dịch vụ y tế để dần tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.


Một số vấn đề trong cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc

Hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc đã có nhiều cải cách trong hai thập kỷ qua. Một hệ thống chăm sóc sức khỏe có thể coi là tốt khi hệ thống đó chăm sóc sức khỏe cho nhân dân với thước đo là chỉ số sức khỏe, bằng cách đảm bảo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cung cấp kịp thời cho mọi người dân không kể giàu nghèo, ở mức độ phù hợp với khả năng của nền kinh tế quốc gia.


Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân CHILILAB năm 2011: Thực trạng và một số đề xuất

Hiện nay, mô hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh đã có nhiều thay đổi so với những năm trước đây. Nghiên cứu này được thực hiện để bước đầu đưa ra bức tranh toàn cảnh của việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (DVKCB) trong phạm vi các xã, phường thuộc cơ sở thuộc cơ sở thực địa CHILILAB, Trường Đại học Y tế Công cộng (Chí Linh, Hải Dương). Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi định lượng để thu thập thông tin.


Thay đổi kiến thức của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu – Phát hiện từ chương trình can thiệp cộng đồng hướng tới người cha tại khu vực nông thôn Việt Nam

ai trò của người cha trong mối liên quan tới dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ nhỏ đã được nhìn nhận ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên chỉ có một số ít nghiên cứu về hiểu biết và vai trò của người cha trong nuôi còn bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Nghiên cứu này kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức cảu người cha sau chương trình can thiệp giao dục sức khỏe cộng đồng, sử dụng thiết kế nghiên cứu phỏng thực nghiệm, trước-sau, có đối chứng. Tại giai đoạn trước can thiệp, 251 cặp vợ chồng có vợ đang mang thai được chọn vào can thiệp (CHILILAB – Chí Linh) và 241 cặp tương ứng được chọn vào nhóm không can thiệp (Thanh Hà). Đối tượng can thiệp là những người cha có vợ đang mang thai.


Thực hành phát hiện sớm khuyết tật của trẻ dưới 3 tuổi của người chăm sóc trẻ chính xã Nam Thắng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

Phát hiện sớm các khuyết tật ở trẻ em, xác định đúng khó khăn và can thiệp phù hợp sẽ giúp cho trẻ có cơ hội để phát triển hết khả năng của mình. Cha mẹ, người chăm sóc chính (NCSC) của trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát hiện sớm (PHS) khuyết tật ở trẻ. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện cắt ngang trên 209 NCSC trẻ dưới 3 tuổi tại xã Nam Thắng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình nhằm tìm hiểu thực trạng thực hành phát hiện sớm khuyết tật của NCSC và các yếu tố liên quan.


Nguyên nhân tử vong ở CHILILAB giai đoạn 2008-2010 qua phương pháp phỏng vấn người đại diện

Đây là một nghiên cứu cắt ngang với mục tiêu: 1) Xác định nguyên nhân tử vong đặc trưng theo giới tính, nhóm tuổi ở CHILILAB giai đoạn 2008-2010; 2) Xác định tính đồng nhất về nguyên nhân tử vong giữa thông tin DSS và kết quả của VA. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chẩn đoán nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn người đại diện (VA) của 896 đối tượng tử vong tại 7 xã/thị trấn của địa bàn CHILILAB trong khoảng thời gian 2008-2010. Điều tra viên CHILILAB tiếp cận hộ gia đình có người tử vong, phỏng vấn người đại diện các thông tin được ghi nhận qua phiếu VA.


Thực trạng và động cơ đồng sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamine tại ba thành phố lớn ở Việt Nam

Bài viết này trình bày kết quả định tính từ một nghiên cứu lớn được thực hiện tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu: mô tả thực trạng đồng sử dụng heroin và ATS; và phân tích động cơ đồng sử dụng heroin và ATS của nhóm TCMT tại ba thành phố trên. Kết quả: hiện tượng đồng sử dụng ma túy là phổ biến trong nhóm TCMT, trong đó đồng sử dụng heroin và đá là phổ biến hơn cả.


Rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở cán bộ Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng

Rối loạn lo âu (RLLA) là một bệnh tâm thần phổ biến ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, sinh hoạt và công việc. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ RLLA và một số yếu tố liên quan ở cán bộ y tế (CBYT) Bệnh viện Tâm thần (BVTT) Đà Nẵng năm 2012. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng sử dụng bộ câu hỏi tự điền với toàn bộ cán bộ (tỷ lệ trả lời 89,3%).


Lợi ích kinh tế từ việc phòng ngừa được các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu ước tính lợi ích kinh tế từ việc phòng ngừa được các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam. Nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2010. Đây là nghiên cứu tính toán lợi ích kinh tế thông qua việc ước tính chi phí y tế cho các trường hợp mắc tiêu chảy phòng ngừa được nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.


Sự lan truyền và tính kháng kháng sinh của Escherichia coli trong nước thải ở Hà Nam

Bài viết nghiên cứu sự lan truyền và tính kháng thuốc của các kiểu hình riêng biệt E.coli đường ruột từ nước thải tới các sản phẩm liên quan đến việc sử dụng nước thải (như rau trồng bằng nước thải) và tới con người tại tỉnh Hà Nam.


Tình hình sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2008

Triển khai Bảo hiểm Y tế tự nguyện (BHYTTN) là một trong những biện pháp quan trọng để tiến tới BHYT toàn dân. Nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2008 tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nhằm: (1) Mô tả tình hình sử dụng thẻ BHYTTN; (2) Mô tả thái độ của người có thẻ với BHYTTN và đánh giá những thuận lợi, khó khăn của việc triển khai BHYTTN tại huyện Tiên Du.


Thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh tại Việt Nam năm 2015

Nghiên cứu “Thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh tại Việt Nam năm 2015” được thực hiện nhằm: (1) Mô tả thực trạng vi phạm các quy định (QĐ) cấm quảng cáo (QC), khuyến mại (KM) thuốc lá (TL) tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh, (2) Tìm hiểu những khó khăn, thách thức trong việc thực thi QĐ cấm QC, KM TL tại Việt Nam. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, với 1.199 điểm bán lẻ được quan sát bằng bảng kiểm, kết hợp phỏng vấn sâu thanh tra văn hóa, thể thao, du lịch.


Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sỹ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính được thực hiện năm 2006 nhằm mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên YTCC về chương trình đào tạo để giúp hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC. Tống số 146 cựu học viên trong sồ 187 người thuộc 7 khóa Cao học YTCC đã tham gia nghiên cứu này. Kết quả cho thấy nhìn chung cựu học viên đánh giá cao chương trình đào tạo đã học.


Hiệu quả tầm soát ung thư cổ tử cung tại cộng đồng sử dụng phương pháp VIA và PAP ở phụ nữ từ 30 đến 65 tuổi tại Bắc Ninh và Cần Thơ, 2013

Các phụ nữ tham gia nghiên cứu cắt ngang được hỏi thông tin về nhân khẩu học, tiền sử viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, được khám và lấy maux xét nghiệm VIA, PAP và sinh thiết mô bệnh học. Kết quả: Trong tổng số 1945 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng có kết quả VIA dương tính là 8,1%, tỷ lệ đối tượng có kết quả PAP dương tính là 6,1%. Nếu quy định tổn thương cổ tử cung từ nặng hơn hoặc bằng CIN1 là bất thường, cả VIA và PAP đều có độ nhạy cao tương úng là 85,71% (KTC 95%: 65,36-95,02) và 90,47% (KTC 95%: 71,09-97,35) và độ đặc hiệu tốt: của VIA là 68,12% (KTC 95%: 63,60-72,32) và 77,06% (KTC 95%: 72,89-80,76). Kết luận và Khuyến nghị: VIA là xét nghiệm tầm soát có giá trị khá tốt ở tuyển cơ sở và cộng đồng.


Hướng tới quản lí tích hợp phân người và phân động vật tại Việt Nam: Văn bản quy định và ảnh hưởng môi trường và sức khỏe

Phân người và phân động vật nếu chưa được xử lý tốt mà thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới sức khỏe con người do phân chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh. Việc quản lý tổng hợp phân người và phân động vật đang gặp nhiều khó khăn do nguồn phát thải phân người và động vật rất gần nhau và lượng phân được thải ra với khối lượng lớn do mật độ người và chăn nuôi cao. Trong khi đó nhu cầu tái sử dụng phân trong nông nghiệp và thủy sản lại yêu cầu hàm lượng dinh dưỡng cao nhưng phải đảm bảo an toàn. Bài báo này phân tích thực trạng quản lý phân người và phân động vật dưới góc độ các văn bản quy định và các ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe. Chúng tôi cũng giới thiệu những kết quả nghiên cứu ban đầu về cách quản lý tích hợp phân người và động vật ở Hà Nam. Cuối cùng bài báo đề xuất các khuyến nghị nhằm quản lý hiệu quả phân người và động vật nhằm tái sử dụng phân an toàn và cải thiện sức khỏe.


Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3 tại thành phố Hồ Chí Minh

Hiện có khoảng 17 triệu trẻ vị thành niên (VTN) tại Việt Nam (22%) và hơn 1 triệu trẻ VTN tại Tp HCM. Hoạt động tình dục sơm, nạo phá thai ở lứa tuổi này là mối lo của gia đình và xã hội. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là xác định mối liên quan của một số yếu tố với hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3.


Chức năng và nhiệm vụ của y tế công cộng

Kết quả nghiên cứu cho thấy: chấn thương chiếm tỷ lệ 13,3% trên tổng số các trường hợp nhập viện; tỷ lệ chấn thương ở nam cao gấp đôi so với nữ. Chấn thương giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (33%); ngộ độc đứng thứ 2 (18%); do đánh nhau đứng thứ 3 (15,8%). Với trẻ 0- 4 tuổi chấn thương do bỏng chiếm tỷ lệ cao nhất (44,2%); ngộ độc đứng thứ hai (32,2%) trong đó ngộ độc không do thức ăn chiếm tới 19%. Tỷ lệ tử vong do ngộ độc cao nhất chiếm 20,5% trong các trường hợp tử vong, trong đó ngộ độc không liên quan tới thức ăn là 10,8%; tỷ lệ tử vong do chấn thương giao thông và tự tử đứng hàng thứ 2 (cùng bằng 17,2%). Đuối nước là nguyên nhân tử vong xếp thứ 4 chiếm tỷ lệ 8,6%. Số năm sống tiềm tàng bị mất tính theo nguyên nhân chấn thương cho thấy ngộ độc vẫn là nguyên nhân tử vong do chấn thương có tỷ lệ số năm sống bị mất cao nhất chiếm 18,8%. Nguyên nhân tử vong có số năm sống bị mất cao thứ 2 là đuối nước.


Giáo dục sức khỏe- môt phần quan trọng của nâng cao sức khỏe

Năm 1986, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) nêu năm nguyên tắc nâng cao sức khỏe thông qua Hiến chương Ottawa: - Xây dựng chính sách công cộng có lợi cho sức khỏe. - Tạo môi trường hỗ trợ. - Tăng cường hoạt động cộng đồng. - Phát triển các kỹ năng cá nhân. - Định hướng lại các dịch vụ y tế.


Đương đầu với các đe dọa của bệnh truyền nhiễm ở châu Á- Thái Bình Dương qua cộng tác khu vực và quốc tế

Trong những năm gần đây, việc tăng cường cộng tác quốc tế qua các chương trình như Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, bệnh lao và sốt rét đang cung cấp các nỗ lực thiết yếu nhằm tăng nguồn lực để chiến đấu với các bệnh truyền nhiễm. Ngoài những hỗ trợ tài chính trực tiếp, các nước đã phát triển trong khu vực có thể cung cấp các hỗ trợ giáo dục và kỹ thuật rất cần thiết để cải thiện năng lực y tế công cộng cho các nước ít phát triển hơn về các lĩnh vực đa dạng như giám sát bệnh tật, kiểm soát nhiễm khuẩn, các phòng xét nghiệm chẩn đoán vi sinh, các chương trình kháng sinh và kháng retro vi- rút.


Tình trạng dinh dưỡng của học sinh hai trường THPT tại Hà Nội năm 2015

Nghiên cứu được thực hiện trên 620 học sinh PTTH thuộc 2 trường đại diện cho thuộc khu vực nội thành và khu vực ngoại thành trên địa bàn Hà Nội với mục tiêu xác định thực trạng dinh dưỡng của học sinh PTTH năm 2015. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả. Kết quả nghiên cứu cho thấy: cân nặng trung bình của học sinh là 52,2± 9,7 kg và chiều cao trung bình là 160,7± 7,9cm, có sự khác biệt về cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh khu vực nội thành và ngoại thành. Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) là 5,2% trong đó ở trường Ứng Hòa A (ƯHA) có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao gấp 2 lần học sinh ở trường Trần Nhân Tông (TNT). Tỷ lệ thừa cân- béo phì của học sinh là 7,8%, trường TNT có tỷ lệ học sinh thừa cân- béo phì cao hơn (8,9%) trong khi tỷ lệ này ở trường ƯHA chỉ có 3,6%. Học sinh nam có tỷ lệ thừa cân- béo phì cao hơn học sinh nữ và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p


Thực trạng sử dụng dịch vụ trước sinh và một số yếu tố liên quan ở các bà mẹ có con dưới một tuổi tại huyện tuy đức, tỉnh đăk nông, năm 2014

Nghiên cứu được tiến hành tại 6 xã trên địa bàn toàn huyện Tuy Đức trong năm 2015, từ tháng 2/2015 đến tháng 8/2015. Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ cư trú tại địa phương 2 năm trở lên, hiện đang có con dưới 1 tuổi. Thiết kế nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả cắt ngang có phân tích, với cỡ mẫu 360 đối tượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy 75,6% các bà mẹ có thai được khám thai định kỳ đầy đủ 3 lần, 89,2% bà mẹ được tiêm vắc xin uốn ván đầy đủ, và 89,4% các bà mẹ có uống viên sắt hoặc đa vi chất. Các yếu tố liên quan đến khám thai đầy đủ là trình độ học vấn và mức sống: học vấn dưới THCS khám thai không đầy đủ gấp 2,9 lần nhóm học vấn từ THCS trở lên; thuộc hộ nghèo khám thai không đầy đủ gấp 2 lần hộ không nghèo.


Thực trạng, cách thức sử dụng rượu bia và các yếu tố liên quan ở nhóm nam giới 25-64 tuổi tại Long Biên, Hà Nội, 2015

Đặt vấn đề: Sử dụng rượu bia quá độ là yếu tố nguy cơ chính của nhiều bệnh không lây nhiễm. Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và xu hướng sử dụng rượu bia trong nhóm nam giới 25-64 tuổi tại Long Biên, Hà Nội, 2015. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, sử dụng máy tính bảng và hình ảnh minh họa cốc rượu/bia theo đơn vị chuẩn để phỏng vấn đánh giá hiện trạng, mức độ sử dụng rượu bia. Kết quả: Có 485 nam giới đã tham gia vào nghiên cứu. Tỷ lệ nam giới có uống rượu bia trong vòng 12 tháng qua là 98,49%. Khoảng 50% nam giới nhóm 45-64 và 15% nhóm 25-44 uống từ 1 lon/chai nhỏ/cốc to bia hoặc 1 ly/chén rượu trở lên hàng ngày. Có 35,24% nam giới 25-44 uống rượu ở mức độ nguy hiểm cao gấp 2 lần so với nhóm tuổi lớn hơn. Tình trạng công việc là yếu tố liên quan đến việc uống thường xuyên và quá độ ở cả 2 nhóm tuổi. Khuyến nghị: Cần có chương trình can thiệp giảm tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nam giới, đặc biệt là việc uống ở mức nguy hiểm ở nam giới 25-44.


Cơ cấu nhân lực tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập: Từ văn bản tới thực tế triển khai

Luật Viên chức số 58/2010/QH12 được Quốc Hội thông qua năm 2010 đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng trong công tác quản lý cán bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trên toàn quốc. Ngành y tế với nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân thuộc phạm vi áp dụng của chính sách này. Bên cạnh đó, cơ cấu nhân lực tại các cơ sở y tế (CSYT) còn được quy định bởi các văn bản pháp quy nào, có mâu thuẫn, bất cập gì giữa các văn bản này trong quá trình thực hiện không là những câu hỏi nhóm nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất chính sách phù hợp. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát, phân tích các văn bản pháp quy liên quan và tổ chức 8 cuộc họp với đại diện các lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp y tế công lập (ĐVSNYTCL) tại 8 tỉnh để thu thập thông tin trả lời câu hỏi nghiên cứu.


Những nhân tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Nuôi con bằng sữa mẹ không những giúp cho trẻ phát triển cả về chiều cao và cân nặng trong 6 tháng tuổi đầu tiên nhanh hơn mà còn tạo quyền năng cho phụ nữ, góp phần vào thực hiện bình đẳng nam nữ. Các tác giả đã kết hợp phỏng vấn bảng hỏi 400 phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ với phương pháp quan sát và viết nhật ký. Những cản trở cho các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong bốn đến sáu tháng đầu là phụ nữ phải gánh vác cả công việc sản xuất trong nông nghiệp và công việc hàng ngày trong gia đình. Các bà mẹ có khả năng kinh tế khá hơn lại thích mua sữa ngoài cho con ăn bổ sung. Mong muốn có bốn con, hai trai và hai gái vẫn còn và phổ biến trong nhiều gia đình. Các tác giả đề nghị kết hợp các chương trình nâng cao nhận thức về giới và nuôi dưỡng trẻ nhỏ với chương trình khuyến khích nuối con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu tiên.


Tài liệu mới download

VSTEP speaking part 2 sample answers
  • 28/03/2017
  • 89.245
  • 826

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bệnh Viêm gan B (Phần 2)
  • 22/08/2011
  • 67.390
  • 711
Bài giảng về Bệnh học u
  • 14/09/2016
  • 13.365
  • 280
Dịch tả
  • 05/07/2011
  • 61.270
  • 374

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu