Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tổng quan nghiên cứu về thao túng lợi nhuận công bố bởi các ngân hàng thương mại

Bài viết tổng hợp các nghiên cứu về hoạt động thao túng hay điều tiết lợi nhuận (earnings management) theo 4 nhóm là đánh giá chất lượng các khoản dồn tích, thao túng dự phòng để ổn định lợi nhuận, điều tiết số liệu để đạt các mục tiêu về lợi nhuận, và khảo sát các gian lận và sai sót đã được phát hiện, đồng thời làm rõ những vấn đề còn tranh cãi hoặc chưa được giải quyết ở từng hướng nghiên cứu.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 120-134

Bài tổng quan

DOI:10.22144/jvn.2017.637

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THAO TÚNG LỢI NHUẬN CÔNG BỐ
BỞI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đào Nam Giang
Khoa Kế toán – Kiểm toán, Học viện Ngân hàng
Thông tin chung:
Ngày nhận: 02/06/2016
Ngày chấp nhận: 28/02/2017

Title:
A literature review on
earnings management in
banking industry
Từ khóa:
Thao túng/điều tiết lợi nhuận
kế toán, ổn định lợi nhuận,
các khoản dồn tích, dự phòng
rủi ro tín dụng, phân phối
của lợi nhuận
Keywords:
Accruals, earnings
distribution, earnings
management, earnings
smoothing, loan loss
provision

ABSTRACT
This paper is aimed to provide a literature review on earnings
management in banking industry through 4 research groups including
accruals quality, earnings smoothing through loan loss provision,
benchmark beating and external indicators of earnings misstatement. The
discussion on controversial issues among previous studies helps to
determine research gaps and propose direction for future research.
Specifically, earnings management in banking industry in developing
countries rarely dealt with by previous studies and is a fertile field for
future research. Besides, whether commercial banks, especially in Asian
countries, using loan loss provision to smooth earnings remains an open
question. Some proxies of earnings management have also been neglected
in banking industry, e.g. comparing variability of earnings and variability
of cashflow.
TÓM TẮT
Bài viết tổng hợp các nghiên cứu về hoạt động thao túng hay điều tiết lợi
nhuận (earnings management) theo 4 nhóm là đánh giá chất lượng các
khoản dồn tích, thao túng dự phòng để ổn định lợi nhuận, điều tiết số liệu
để đạt các mục tiêu về lợi nhuận, và khảo sát các gian lận và sai sót đã
được phát hiện, đồng thời làm rõ những vấn đề còn tranh cãi hoặc chưa
được giải quyết ở từng hướng nghiên cứu. Các phân tích trong bài đã chỉ
ra rằng hoạt động thao túng lợi nhuận ở các ngân hàng thương mại ở nền
kinh tế đang phát triển và chuyển đổi vẫn là một khoảng trống nghiên cứu
lớn. Câu hỏi về khả năng điều tiết dự phòng để ổn định lợi nhuận tại các
quốc gia châu Á như Việt Nam vẫn là một câu hỏi mở. Bên cạnh đó, tác
giả cũng chỉ ra cơ hội để vận dụng các thước đo chất lượng lợi nhuận phổ
biến trong các nghiên cứu ở lĩnh vực phi tài chính cho các ngân hàng
thương mại.

Trích dẫn: Đào Nam Giang, 2017. Tổng quan nghiên cứu về thao túng lợi nhuận công bố bởi các ngân hàng
thương mại. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 48d: 120-134.
Giới thiệu: Theo Healy & Wahlen (1999),
“Thao túng hay điều tiết lợi nhuận (earnings
management) xảy ra khi các nhà quản trị sử dụng
những xét đoán của họ trong quá trình lập báo cáo
tài chính (BCTC) và trong việc thiết kế các giao
dịch kinh tế nhằm bóp méo số liệu báo cáo hoặc
làm cho các bên có liên quan hiểu sai về kết quả
hoạt động kinh doanh thực của công ty, hoặc để tác

động đến số liệu kế toán báo cáo về các kết quả
theo hợp đồng giữa các bên”. Như vậy, việc thao
túng lợi nhuận sẽ làm cho lợi nhuận báo cáo không
phản ánh trung thực kết quả hoạt động của đơn vị
và do đó làm suy giảm chất lượng thông tin kế toán
công bố. Đây cũng chính là lý do mà trong khoảng
3 thập kỷ vừa qua, nghiên cứu đánh giá về mức độ
thao túng lợi nhuận báo cáo đã trở thành một trong
120

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 120-134

những chủ đề nghiên cứu rất được quan tâm trong
kế toán tài chính. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu về
thao túng lợi nhuận kế toán đã loại trừ các ngân
hàng thương mại (NHTM) khỏi mẫu nghiên cứu.
Lý do các đơn vị này có những khác biệt nhất định
trong hoạt động kinh doanh và kéo theo đó là các
quy định về chế độ kế toán và báo cáo tài chính áp
dụng. Các đơn vị trong ngành tài chính cũng bị chi
phối bởi các quy định giám sát và quản lý riêng ví
dụ quy định về an toàn vốn theo khuôn khổ của
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), hoặc các
quy định liên quan đến thanh tra giám sát ngân
hàng. Hệ thống ngân hàng cũng đóng vai trò rất
quan trọng trong hệ thống tài chính và sự ổn định
của nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng lại dựa rất
nhiều vào yếu tố niềm tin. Trong giám sát hoạt
động ngân hàng, BIS cũng đã chỉ ra 3 cột trụ cơ
bản, trong đó cột trụ thứ 3 chính là minh bạch
thông tin để tăng cường sự giám sát của thị trường.
Chính vì thế, các cuộc khủng hoảng tài chính gần
đây (khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998,
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008…), đã khiến
cho công chúng cũng như các nhà quản lý, các nhà
phân tích đầu tư và các nhà làm chính sách trở nên
đặc biệt quan tâm tới vấn đề về chất lượng thông
tin kế toán nói chung và thông tin lợi nhuận kế toán
công bố nói riêng của các NHTM. Trong gần hai
thập kỷ qua đã xuất hiện khá nhiều các bài viết tập
trung đánh giá hành vi thao túng lợi nhuận riêng
trong lĩnh vực ngân hàng. Vậy, khi tập trung vào
một lĩnh vực đặc thù cách tiếp cận và phương pháp
nghiên cứu có những khác biệt gì? Bài viết này
tổng hợp trên 60 nghiên cứu về hành vi thao túng
lợi nhuận công bố trong lĩnh vực tài chính ngân
hàng để tổng kết những hướng nghiên cứu chính và
chỉ ra những vấn đề còn tranh cãi cũng như một số
nội dung còn chưa được quan tâm đúng mức, từ đó
đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Cụ thể, kế
thừa các nghiên cứu về chất lượng thông tin lợi
nhuận báo cáo, các nghiên cứu trong lĩnh vực ngân
hàng cũng đánh giá mức độ số liệu kế toán bị thao
túng thông qua một số các tiêu chí: Chất lượng các
khoản dồn tích; điều tiết số liệu nhằm đạt được các
mục tiêu lợi nhuận; điều tiết nhằm đảm bảo mức độ
ổn định của lợi nhuận, và khảo sát các trường hợp
sai sót gian lận đã được báo cáo. Điểm khác biệt cơ
bản là do đặc thù trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng, việc xác định tổng dồn tích tương đối khác
biệt so với các doanh nghiệp phi tài chính. Đồng
thời, trong NHTM lại luôn có những khoản dồn
tích lớn, trọng yếu điển hình là dự phòng rủi ro tín
dụng, ngoài ra có thể kể đến lãi/lỗ chưa thực hiện
từ đầu tư chứng khoán, các khoản hạch toán theo
giá trị hợp lý. Đây là nhóm thông tin được đặc biệt
chú ý trong các nghiên cứu về chất lượng thông tin
lợi nhuận kế toán công bố của các NHTM.

1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG
CÁC KHOẢN DỒN TÍCH (ACCRUALS
QUALITY)
Các nghiên cứu đánh chất lượng thông tin lợi
nhuận công bố (earnings quality) trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng đi theo 2 hướng chính: xem chất
lượng của tổng các khoản hạch toán dồn tích và
đánh giá chất lượng các khoản dồn tích cụ thể như
dự phòng rủi ro tín dụng hoặc các khoản lãi/lỗ chưa
thực hiện từ đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
1.1 Các nghiên cứu xác định tổng dồn tích
và tổng dồn tích bất thường
Mô hình của Jone (1991) và sau đó được hiệu
chỉnh bởi Dechow et al. (1995) là một trong những
mô hình kinh điển trong ước tính giá trị tổng dồn
tích và dồn tích bất thường để đánh giá chất lượng
thông tin lợi nhuận kế toán công bố. Tuy nhiên, do
đặc thù trong hoạt động kinh doanh và kế toán của
các ngân hàng nên việc áp dụng trực tiếp mô hình
của Jone cho lĩnh vực này là không khả thi. Cụ thể
theo mô hình của Jone, giá trị hạch toán dồn tích
được xác định bằng thay đổi trong vốn lưu động
(không bao gồm tiền; thuế và các khoản phải nộp
ngân sách) trừ đi chi phí khấu hao. Các khoản dồn
tích bị chi phối bởi 2 nhân tố chính là tăng trưởng
doanh thu và giá trị tài sản cố định. Do đó, tổng
dồn tích bất thường là phần dư trong mô hình hồi
quy của giá trị dồn tích với các biến tác động là
tăng trưởng doanh thu và tài sản cố định hữu hình.
Khi áp dụng cho lĩnh vực ngân hàng, có 2 vấn đề
phát sinh với mô hình này:
 Về cách xác định giá trị dồn tích: Các ngân
hàng không phân chia tài sản ngắn hạn và dài hạn,
chi phí khấu hao cũng chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn
trong tổng chi phí nên việc xác định giá trị dồn tích
theo công thức của Jone là không khả thi và không
phù hợp.
 Về việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
giá trị dồn tích (và cũng là các biến độc lập trong
mô hình xác định giá trị dồn tích bất thường): Giá
trị tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong
tổng tài sản của ngân hàng và do đó không phải là
nhân tố chính ảnh hưởng đến giá trị các khoản dồn
tích. Hơn nữa, thu nhập và chi phí của các ngân
hàng thương mại được phân loại theo bản chất
không phải theo chức năng nên báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh không có chỉ tiêu tổng doanh
thu mà chỉ có thu nhập, chi phí và lợi nhuận ở từng
mảng hoạt động.
Yasuda et al. (2004) đã điều chỉnh mô hình của
Jone để áp dụng cho lĩnh vực ngân hàng ở hai
điểm:

121

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 120-134

 Thay đổi công thức xác định giá trị các
khoản dồn tích. Yasuda định nghĩa tổng dồn tích là
chênh lệch giữa lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
và lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, do báo cáo tài chính của các NHTM
Nhật Bản giai đoạn trước 1990 không trình bày
thông tin về luồng tiền từ hoạt động kinh doanh.
Do đó, chỉ tiêu này được xác định gián tiếp bằng
cách lấy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và trừ
đi một số thu nhập, chi phí không bằng tiền. Do đó,
tổng các khoản dồn tích được xác định bằng:

khoản dồn tích cụ thể, ví dụ các khoản dự phòng
hay lãi/lỗ chưa thực hiện từ đầu tư, kinh doanh
chứng khoán. Hướng nghiên cứu này đặc biệt hữu
ích trong việc đánh giá tác động của các nhân tố
khác nhau đến chất lượng thông tin thông qua xem
xét mối quan hệ giữa các yếu tố tác động và mức
dồn tích bất thường. Dự phòng rủi ro tín dụng là
khoản hạch toán lớn và quan trọng nhất của các
NHTM và xuất hiện trong hầu hết các nghiên cứu
đánh giá về hoạt động điều tiết thu nhập nhằm
tránh lỗ, báo cáo lợi nhuận cao hơn và tránh sự trồi
sụt quá mức của lợi nhuận trong ngân hàng. Các
nghiên cứu điển hình có thể kể đến như Ahmed et
al. (1999), Wall & Koch (2000), Kanagaretnam et
al. (2003), Agarwal et al. (2007), Fonseca &
González (2008), Kanagaretnam et al. (2010b),
Kanagaretnam et al. (2011), Leventis et al. (2011),
Cheng (2012), Leventis & Dimitropoulos (2012),
Meisel (2013), Beatty & Liao (2014),
Kanagaretnam et al. (2014), Hansen (2015),... Về
cơ bản, phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định sự
tồn tại của các động thái thao túng lợi nhuận báo
cáo cho các mục đích khác nhau thông qua dự
phòng rủi ro. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những kết luận
trái chiều theo đó, các NHTM không sử dụng các
khoản dồn tích để thao túng lợi nhuận, ví dụ Beatty
et al. (1995) hoặc Ahmed et al. (1999). Sự không
thống nhất này cũng được tái khẳng định trong
tổng kết về các nghiên cứu liên quan đến kế toán
dự phòng rủi ro trong các NHTM của Wall & Koch
(2000) và tổng quan nghiên cứu kế toán tài chính
trong lĩnh vực ngân hàng của Beatty & Liao
(2014).

ACCR = EXPL + GLSS – NCEX + ΔWC
Trong đó: EXPL là các khoản lãi/lỗ bất thường
GLSS: Lãi lỗ từ bán chứng khoán
NCEX: Chi phí không bằng tiền, gồm
chi phí khấu hao, dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí
xử lý nợ xấu, giảm giá trị chứng khoán và trái
phiếu, các chi phí hoạt động khác
ΔWC: Tăng/giảm của vốn lưu động,
được xác định bằng: Tăng/giảm chi phí trả trước +
Tăng/giảm trong thu nhập dồn tích + Tăng/giảm tài
sản khác – Tăng/giảm chi phí dồn tích – Tăng/giảm
doanh thu chưa thực hiện – Tăng/giảm nợ khác.
Như vậy, công thức xác định tổng dồn tích đã
được điều chỉnh để phản ánh các đặc điểm của
ngân hàng ví dụ bao gồm chi phí dự phòng rủi ro
tín dụng, lãi/lỗ từ bán chứng khoán. Việc xác định
tăng/giảm trong vốn lưu động cũng phức tạp hơn
so với các doanh nghiệp phi tài chính.
 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng dồn tích
gồm 2 nhân tố là tăng/giảm trong thu nhập hoạt
động (operating income) và tài sản cố định của
ngân hàng.

Các nghiên cứu trước cũng đưa ra bằng chứng
về việc các NHTM sử dụng lãi/lỗ chưa thực hiện từ
kinh doanh và đầu tư chứng khoán, hoặc lợi dụng
việc hạch toán theo giá trị hợp lý để thao túng lợi
nhuận, ví dụ Agarwal et al. (2007), Leventis &
Dimitropoulos (2012), Barth et al. (2012a), Kilic et
al. (2013), Wang & Sallehu (2014). Tuy nhiên, các
nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở các ngân hàng
Mỹ và Nhật Bản. Nói cách khác, chất lượng của
các khoản hạch toán dồn tích cụ thể ngoài dự
phòng rủi ro tín dụng chưa thực sự được quan tâm
thích đáng trong các nghiên cứu khác.

Mô hình hiệu chỉnh này sau đó đã được một số
nhà nghiên cứu sử dụng, ví dụ Leventis &
Dimitropoulos (2012), Ugbede et al. (2013a),
Ugbede et al. (2013b), Abaoub et al. (2013). Tuy
nhiên, khi xác định giá trị dồn tích bất thường, các
tác giả vẫn căn cứ vào phần dư từ mô hình hồi quy
của tổng dồn tích với tăng trưởng thu nhập hoạt
động và giá trị tài sản cố định hữu hình. Đây chưa
hẳn là hai nhân tố có ảnh hưởng rõ nét và quyết
định đến tổng dồn tích của các NHTM. Do đó,
hướng tiếp cận này không phổ biến trong nghiên
cứu về chất lượng thông tin lợi nhuận công bố
trong các NHTM.
1.2 Đánh giá chất lượng các khoản dồn tích
cụ thể

Khi tập trung đánh giá chất lượng của các
khoản dự phòng rủi ro tín dụng, cách xây dựng mô
hình sử dụng để xác định mức dự phòng có thể giải
thích được và dự phòng bất thường cũng là một
vấn đề có thể gây tranh cãi. Các nghiên cứu về chất
lượng của các khoản hạch toán dồn tích cho các
lĩnh vực phi tài chính chủ yếu sử dụng một số mô
hình phổ biến, điển hình là mô hình của Jone và
mô hình của Dechow-Dichew – theo trích dẫn
trong Dechow et al. (2010). Nhưng các nghiên cứu

Do khó khăn trong việc xác định tổng dồn tích
nên các nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng tập
trung vào việc đánh giá chất lượng của một số
122

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 120-134

về mức dự phòng bất thường của ngân hàng sử
dụng khá nhiều các mô hình khác nhau. Sự khác
nhau chủ yếu là từ việc lựa chọn các biến kiểm soát
để đưa vào mô hình, ví dụ có đưa vào mô hình các
biến về chi phí xử lý nợ xấu; hệ số an toàn vốn
CAR, cơ cấu danh mục cho vay, tỷ lệ dự phòng
cho vay trên tổng dư nợ hay không? Hay nói cách
khác, các nhà nghiên cứu trước không hoàn toàn
thống nhất trong việc xác định những nhân tố nào
ảnh hưởng đến mức dự phòng cần trích lập? Beatty
& Liao (2014) đã tổng kết ít nhất 9 mô hình khác
nhau đã được các nhà nghiên cứu trước sử dụng
trong đánh giá mức dự phòng bất thường. Trên cơ

sở phân tích nhân tố và kiểm định lại đồng thời cả
9 mô hình trên cùng một bộ dữ liệu, Beatty & Liao
(2014) đã đề xuất thêm 4 mô hình mới để đánh giá
về dự phòng bất thường (xem phụ lục 1). Mặc dù
vậy, Beatty & Liao (2014) cũng nhấn mạnh rằng
không nhất thiết các nghiên cứu trong tương lai
phải sử dụng mô hình phổ biến nhất hay có được
sự đồng thuận cao nhất.
Để thấy rõ hơn sự đa dạng trong các mô hình sử
dụng, Bảng 1 tập hợp các biến kiểm soát được các
nghiên cứu trước đưa vào mô hình để xác định giá
trị khách quan hay không bị điều tiết của dự phòng.

Bảng 1: Biến kiểm soát xác định giá trị dự phòng khách quan (non discrestionary provision) trong các
nghiên cứu trước
Nghiên cứu

Biến kiểm soát (xác định mức dự phòng khách quan)
- Tăng/giảm nợ xấu (NPL).
- Đánh giá của thị trường về rủi ro trong danh mục tài sản
Ahmed et al.
của ngân hàng.
(1999)
- Thay đổi trong môi trường kinh tế (tỷ lệ doanh nghiệp xin
phá sản).
- Nợ xấu NPL (loan loss).
Anandarajan et - Quy mô ngân hàng.
al. (2003, 2007) - Số chi nhánh.
- Thu nhập phí và hoa hồng.
- Tăng/giảm dư nợ tín dụng.
Fonseca &
- Số dư dự phòng rủi ro tín dụng đầu kỳ.
González
- Chi phí dự phòng của 2 năm trước liền kề để kiểm soát độ
(2008)
trễ trong việc điều chỉnh chi phí dự phòng.
- Quy mô ngân hàng (LnTA).
Leventis et al.
- Tỷ lệ thu nhập từ phí và hoa hồng.
(2011)
- Niêm yết chéo.
- Nợ xấu đầu năm.
- Tăng/giảm nợ xấu.
- Số dư dự phòng năm trước.
DeBoskey &
- Quy mô ngân hàng (Log Assets).
Jiang, (2012)
- Tăng /giảm tổng tài sản.
- Cơ cấu danh mục cho vay (cho vay bất động sản, cho vay
tiêu dùng và cho vay công nghiệp hoặc thương mại).
- Nợ xấu.
Curcio et al.
- Tăng/giảm dư nợ cho vay.
(2014)
- Quy mô ngân hàng (tài sản).
- Nợ xấu đầu kỳ.
- Tăng/giảm nợ xấu
Kanagaretnam
- Dư nợ đầu kỳ.
et al. (2003)
- Tăng/giảm dư nợ trong kỳ.
- Quy mô ngân hàng.
- Tăng/giảm dư nợ tín dụng.
- Xử lý nợ xấu.
Kanagaretnam
- Số dư dự phòng rủi ro tín dụng đầu kỳ.
et al. (2004)
- Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng kỳ trước.
- Tăng/giảm nợ xấu.
- Xử lý nợ xấu (LCO).
Kanagaretnam
- Dự phòng nợ xấu đầu kỳ.
et al. (2005)
- Tăng/giảm nợ xấu.
123

Ghi chú

Kế thừa mô hình của Ahmed
và có điều chỉnh.
Kế thừa mô hình của Ahmed
và có điều chỉnh.
Kế thừa Anandarajan et al.
(2003), Ahmed, Pérez et al.
(2008).

Kế thừa có bổ sung và điều
chỉnh mô hình của Ahmed

Kế thừa có điều chỉnh và bổ
sung mô hình của Ahmed có
điều chỉnh..
Kế thừa và phát triển từ mô
hình của Wahlen (1994);
Beaver & Engel (1996); Kim
& Kross (1998).
Kế thừa và phát triển từ mô
hình của Wahlen (1994);
Beaver & Engel (1996); Kim
& Kross (1998).
Kế thừa và phát triển từ mô
hình của Wahlen (1994);
Beaver & Engel (1996); Kim

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Nghiên cứu

Tập 48, Phần D (2017): 120-134

Biến kiểm soát (xác định mức dự phòng khách quan)

- Dự phòng rủi ro tín dụng đầu kỳ.
- Xử lý nợ xấu.
Kanagaretnam
- Tăng/giảm dư nợ tín dụng.
et al. (2011)
- Tổng dư nợ tín dụng.
- Cơ cấu danh mục cho vay.
- Chi phí dự phòng kỳ trước.
- Dư nợ tín dụng đầu kỳ.
Kilic et al.
- Tăng/ giảm dư nợ tín dụng trong kỳ.
(2013)
- Nợ xấu đầu kỳ.
- Tăng/giảm nợ xấu trong kỳ.
Bouvatier et al. - Dư nợ tín dụng.
(2014)
- Tỷ lệ gia tăng dư nợ tín dụng.
- Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng kỳ trước.
Laeven &
- Tăng/giảm dư nợ cho vay.
Majnoni (2003)
- Cơ cấu danh mục cho vay (các khoản cho vay đồng nhất
Chi-Chun &
(tiêu dùng) và cho vay không đồng nhất (cho vay thương
Ryan (2006)
mại và công nghiệp).
- Tăng/giảm nợ xấu.
- Quy mô ngân hàng (tài sản).
Agarwal et al. - Dư nợ cho vay.
(2007)
- Dự phòng rủi ro tín dụng đầu kỳ.
- Ngân hàng vùng hay không (Regional bank).
Gebhardt &
- Nợ xấu đầu năm.
Novotny-Farkas - Tăng/giảm nợ xấu.
(2011)
- Tăng giảm dư nợ tín dụng.
- Quy mô ngân hàng (logarit của tổng tài sản).
- Mức độ rủi ro (thể hiện bằng thay đổi trong độ lệch chuẩn
của lợi tức cổ phần hàng ngày.
- Tăng/giảm dư nợ tín dụng.
El Sood (2012)
- Tăng/giảm giá trị tài sản điều chỉnh trọng số rủi ro.
- Tăng/giảm nợ xấu.
- Cơ cấu danh mục cho vay (cho vay cá nhân, cho vay
thương mại hoặc công nghiệp, và cho vay chứng khoán).
Packer & Zhu - Nợ xấu.
(2012)
- Dư nợ cho vay.
- Tăng/giảm dư nợ cho vay.
- Quy mô ngân hàng (assets).
- Vốn huy động từ tiền gửi.
Barth et al.
- Tài sản dự trữ thanh khoản (liquid assets).
(2012)
- Đầu tư chứng khoán.
- Dư nợ tín dụng ròng.
- Tài sản cố định.
- Nợ không phải là tiền gửi.

Ghi chú
& Kross (1998).
Kế thừa Wahlen (1994),
Kanagaretnam et al. (2004).
Kế thừa Ahmed et al (1999);
Kanagaretnam et al (2004);
Liu & Ryan (2006);
Kanagaretnam et al (2010).
Kế thừa Wahlen (1994),
Beaver & Engel (1996), Hasan
& Wall (2004).

Kiểm soát các nhân tố ảnh
hưởng đến dự phòng cũng như
lãi lỗ thực hiện từ chứng
khoán sẵn có để bán.

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước

Bảng 1 cho thấy các biến kiểm soát sử dụng rất đa
dạng và khác nhau giữa các nghiên cứu. Phần tổng
hợp trên cũng cho thấy một xu hướng là các nghiên
cứu với mẫu là các ngân hàng Mỹ, nhờ có lợi thế
về dữ liệu đầy đủ và đa dạng nên thường đưa nhiều
biến kiểm soát vào mô hình hơn các nghiên cứu
với mẫu là các NHTM ngoài nước Mỹ. Xét từ góc

độ phương pháp nghiên cứu, Bảng 1 cho thấy có 2
nhóm nghiên cứu.
 Nhóm 1 là nhóm kế thừa trực tiếp mô hình
nghiên cứu của Ahmed et al. (1999). Mô hình của
Ahmed được xây dựng dựa trên ý tưởng các biến
nghiên cứu bao gồm 4 nhóm: đánh giá mức độ điều
tiết lợi nhuận, điều tiết hệ số vốn tự có, khả năng
sử dụng dự phòng để hạn chế tác động của chu kỳ
124

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

THE REFORM OF THE SAVINGS BANK SYSTEM IN FRANCE – A MODEL FOR OTHER COUNTRIES?

Up to the end of the twentieth century, the French banking industry consisted of four distinct groups of large banks. In addition to the large private banks comprising Banque Nationale de Paris, Société Générale and Paribas, which were major players in the corporate and foreign business, the government-owned banks Crédit Lyonnais1 and Post Office Savings Bank were of considerable importance for the retail banking. However, the retail banking was largely dominated by the coop- erative banks Crédit Agricole, Banques Populaires and Crédit Mutuel. The fourth mainstay of French banking was traditionally represented by the sav- ings banks. In 2000, the French savings banks entered a new phase of their development. Following a funda- mental reform of...


KHUNG KHỔ DỊCH THUẬT CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á

Bản dự thảo khung khổ dịch thuật của Ngân hàng Phát triển châu Á này chỉ dành cho mục đích tham vấn và không nhất thiết phải phản ánh quan điểm của Ban quản lý hay Ban Giám đốc Điều hành của Ngân hàng Phát triển châu Á.


Currency Strategy A Practitioner s Guide To Currency Investing Hedging And Forecasting Wiley_8

Tham khảo tài liệu 'currency strategy a practitioner s guide to currency investing hedging and forecasting wiley_8', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


The Distributional Effects of Asset Purchases Bank of England, 12 July 2012

The Reserve Banks perform these services as f iscal agents for these enti- ties. Securities are safekept in the form of electronic records of securities held in custody accounts. Securities are transferred according to instruc- tions provided by parties with access to the system. Access to the Fed- wire Securities Service is limited to depository institutions that maintain accounts with a Reserve Bank, and a few other organizations, such as federal agencies, government-sponsored enterprises, and state govern- ment treasurer’s off ices (which are designated by the U.S. Treasury to hold securities accounts). Other parties, specif ically brokers and dealers, typi- cally...


World Bank Guidelines on the Treatment of Foreign Direct Investment

The large size of the four banks relative to GDP and the banking system behooves careful attention to their vulnerabilities and resilience to shocks. 2 Any distress among these banks could have a sizable impact on the financial sector and the real economy in Australia and New Zealand. 3 Moreover, they may be perceived by the markets as too big to fail, which implies they could pose a potential fiscal liability. Against this backdrop and in the context of the ongoing discussion for systemically important global banks, the merits of higher capital requirements, complemented by intensive supervision, need to be considered for...


CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CHUNG phần 1

Mục tiêu của chính sách tín dụng 2. Nội dung của chính sách tín dụng chung 2.1. Quyền tự chủ của NHNo & PTNT VN 2.2. Đối tượng khách hàng vay tại NHNo & PTNT VN


FINANCIAL AUDIT Air Force Does Not Effectively Account for Billions of Dollars_part1

Hoa Kỳ Văn phòng Kế toán tổng hợp Washington, DC 20648 Tổng Kiểm soát viên của Hoa Kỳ B-234.326 của tháng Hai 23,199 Đối với Chủ tịch Thượng viện và loa của Hạ viện báo cáo này trình bày các kết quả rà soát của chúng ta về không quân của hoạt động quản lý tài chính và nỗ lực của nó để chuẩn bị báo cáo tài chính hợp nhất. W h ile các báo cáo tài chính, bao gồm các phụ lục I, dường như có ý để cho thấy...


Bài giảng Ngân hàng và hoạt động ngân hàng - Chương 5: Các nghiệp vụ tín dụng

Chương 5 - Các nghiệp vụ tín dụng. Chương này gồm có những nội dung chính sau: Các nghiệp vụ tín dụng theo hình thức tài trợ, nghiệp vụ tín dụng theo hình thức bảo đảm, nghiệp vụ tín dụng theo thời gian, tín dụng tiêu dùng.


Factoring

Khách hàng của bạn phải mất 30, 50 hoặc 60 ngày để thanh toán hoá đơn của họ? Mặc dù có chậm trả tiền khách hàng dự kiến trong môi trường kinh doanh ngày nay, họ thực hiện quản lý dòng tiền rất khó khăn nhiệm vụ. Trả tiền nhà cung cấp, tiền lương và tiền thuê nhà trở thành một thách thức. Tuy nhiên, có một cách để giải quyết vấn đề này. Các giải pháp liên quan đến việc thanh toán hoá đơn của bạn....


Commodity Trading Advisors: Risk, Performance Analysis, and Selection Chapter 7

CHAPTER 7 Simple and Cross-Efficiency of CTAs Using Data Envelopment Analysis. We apply data envelopment analysis and use the basic and crossefficiency models to evaluate the performance of CTA classifications. With the ever-increasing number of CTAs, there is an urgency to provide money managers


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

UCP 600 - full
  • 14/03/2009
  • 76.468
  • 185

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu