Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tính khả thi của việc áp dụng pháp luật phá sản đối với tổ chức tín dụng

Phá sản tổ chức tín dụng là một trong những điểm nhấn đáng chú ý của Luật Phá sản 2014, chính thức có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2015. Đây là vấn đề được người dân và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm bởi lần đầu tiên luật phá sản dành hẳn một chương quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết phá sản tổ chức tín dụng và cũng bởi từ trước đến nay chưa từng có tổ chức tín dụng nào phá sản ở Việt Nam mặc dù Luật Phá sản 2004.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016

Tính khả thi của việc áp dụng pháp luật
phá sản đối với tổ chức tín dụng


Cao Thị Thùy Nhƣ

Trường Đại học Thủ Dầu Một - Email: nhuctt@tdmu.edu.vn
(Bài nhận ngày 29 tháng 9 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 25 tháng 01 năm 2016)

TÓM TẮT
Phá sản tổ chức tín dụng là một trong
những điểm nhấn đáng chú ý của Luật Phá sản
2014, chính thức có hiệu lực thi hành vào ngày
01/01/2015. Đây là vấn đề được người dân và
doanh nghiệp đặc biệt quan tâm bởi lần đầu tiên
luật phá sản dành hẳn một chương quy định cụ
thể trình tự, thủ tục giải quyết phá sản tổ chức
tín dụng và cũng bởi từ trước đến nay chưa từng
có tổ chức tín dụng nào phá sản ở Việt Nam mặc
dù Luật Phá sản 2004 đã có đề cập đến vấn đề
này. Khi thảo luận về việc phá sản tổ chức tín

dụng, hầu hết các nhà khoa học Luật và người
dân đều đặt ra câu hỏi:“Liệu những quy định về
phá sản tổ chức tín dụng được đề cập trong Luật
Phá sản 2014 có phải là một bước tiến hay
không và tính khả thi của những quy định này
trên thực tế như thế nào?”. Để giải quyết câu
hỏi trên, bài viết sẽ phân tích những quy định
mới của Luật Phá sản 2014 về thủ tục phá sản
tổ chức tín dụng, đồng thời đi sâu làm rõ thực
tiễn áp dụng và tính khả thi của những quy định
này trên thực tế.

Từ khóa: tính khả thi, phá sản, tổ chức tín dụng.

1. GIỚI THIỆU
Tổ chức tín dụng (TCTD) là doanh nghiệp
thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD
phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ
tín dụng nhân dân1. Như vậy, TCTD cũng là một
doanh nghiệp có chức năng kinh doanh và do đó
phá sản là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị
trường nếu TCTD đó không đủ năng lực để cạnh
tranh với các TCTD khác. Tuy nhiên, khác với
các doanh nghiệp thông thường, TCTD là một
loại doanh nghiệp đặc biệt, thể hiện ở nội dung
hoạt động và cách thức hoạt động. Về nội dung
hoạt động, TCTD hoạt động với tư cách là một

1

Khoản 1, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010.

Trang 60

trung gian tài chính trong nền kinh tế. Về cách
thức hoạt động, TCTD có thể có rất nhiều tài
khoản phục vụ cho hoạt động của mình và đồng
thời phải quản lý một số lượng tài khoản vô
cùng lớn của khách hàng. Chính vì vậy, khả
năng tác động của TCTD, đặc biệt là ngân hàng
thương mại, đối với nền kinh tế rất lớn. Chỉ cần
một ngân hàng sụp đổ sẽ kéo theo những hệ quả
khôn lường cho hệ thống tài chính quốc gia, cụ
thể như sau:
Thứ nhất, phá sản TCTD sẽ gây ảnh hưởng
đến quyền lợi người gửi tiền. Đối với khách
hàng là cá nhân, khoản tiền gửi trong TCTD là
khoản tiền tiết kiệm mà họ tích góp được trong
quá trình lao động. Họ gửi tiền vào TCTD với
hy vọng đảm bảo an toàn cho khoản tiền gửi và

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016
thu được một khoản lãi từ số tiền này. Đối với
khách hàng là tổ chức, đây là khoản tiền vốn
nhàn rỗi chưa có nhu cầu sử dụng hoặc khoản
lợi nhuận không chia nhằm tái sản xuất kinh
doanh trong thời gian tới. Xuất phát từ tầm quan
trọng của khoản tiền gửi đối với người gửi tiền,
việc tổ chức nhận tiền gửi bị tuyên bố phá sản sẽ
gây ra hậu quả không nhỏ đối với đời sống và
hoạt động sản xuất kinh doanh của người gửi
tiền.
Thứ hai, phá sản TCTD sẽ gây đổ vỡ cả hệ
thống tài chính. Hiện tượng này được gọi là
“hiệu ứng domino” trong phá sản. Theo lý
thuyết chung, trong nền kinh tế, các doanh
nghiệp đều có mối quan hệ hợp tác kinh doanh
với nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Một
doanh nghiệp bị phá sản thì tất yếu sẽ dẫn đến
sự đổ vỡ của những doanh nghiệp có mối quan
hệ hợp tác với nó và dần dần sự đổ vỡ này sẽ lan
sang các doanh nghiệp khác, cuối cùng sẽ gây
sụp đổ cả nền kinh tế. Đối với TCTD, do là một
loại doanh nghiệp đặc biệt nên hiệu ứng domino
diễn ra càng nhanh và gây hậu quả nặng nề hơn.
Theo đó, việc một số khách hàng bị mất tiền gửi
tại TCTD bị tuyên bố phá sản sẽ gây tâm lý
hoang mang cho khách hàng gửi tiền ở những
TCTD khác, dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng
loạt trong hệ thống TCTD. Khi tất cả khách
hàng đều yêu cầu rút tiền trước thời hạn, TCTD
sẽ không thể xoay vòng vốn và không đủ khả
năng chi trả, điều này có thể dẫn đến nguy cơ
phá sản ở cả những TCTD lẽ ra đang hoạt động
bình thường.
Thứ ba, phá sản TCTD sẽ gây mất trật tự xã
hội. Việc người dân chen chúc, đổ xô đi rút tiền
với tâm lý hoang mang cũng sẽ gây ảnh hưởng
không tốt đến trật tự an toàn xã hội và sẽ rất khó
cho cơ quan chức năng trong việc ổn định trật tự
và trấn an người dân khi toàn bộ tài sản của họ
đều đang ủy thác cho TCTD. Bên cạnh đó, khi
hệ thống TCTD sụp đổ, số lượng lớn người lao
động làm việc trong TCTD sẽ bị thất nghiệp và

khó có thể tìm được công việc phù hợp trong
thời gian ngắn. Đây sẽ là một gánh nặng rất lớn
cho xã hội.
Từ những hậu quả nặng nề mà việc phá sản
TCTD có thể gây ra cho nền tài chính quốc gia,
việc phá sản TCTD trở thành một trong những
vấn đề nhạy cảm được Nhà nước cân nhắc rất kỹ
lưỡng. Đó là lý do tại sao trong một khoảng thời
gian dài từ khi Luật Phá sản lần đầu tiên được
ban hành vào năm 1993 đến nay, Tòa án Việt
Nam chưa từng tiếp nhận bất kỳ vụ việc phá sản
nào liên quan đến TCTD trong khi số lượng
TCTD hoạt động yếu kém ở nước ta không nhỏ.
Đáng nhớ nhất trong lịch sử là vào những năm
1990, hàng loạt hợp tác xã tín dụng đổ vỡ để lại
hàng loạt khó khăn cho nền kinh tế và xã hội.
Tuy nhiên, Luật Phá sản 1993 không có bất kỳ
quy định nào đề cập đến vấn đề phá sản TCTD,
do đó các hợp tác xã tín dụng yếu kém được giải
quyết bằng cách hợp nhất, sáp nhập, mua lại đổi
tên, trường hợp xấu nhất là giải thể. Năm 2004,
Luật Phá sản mới được ban hành thay thế cho
Luật Phá sản 1993, theo đó danh mục các doanh
nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm được áp dụng Luật
Phá sản do Chính phủ quy định2. Và theo Đề án
“Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn
2011-2015” ban hành kèm theo Quyết định
254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 do Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt, tạm thời chưa áp dụng
giải pháp phá sản TCTD theo quy định của Luật
Phá sản trong giai đoạn hiện nay để bảo đảm giữ
vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội. Thay vào đó, Ngân hàng
Nhà nước khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại các TCTD theo nguyên tắc tự nguyện,
bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các
quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên
quan. Như vậy, phá sản TCTD là sự việc chưa
từng xảy ra trong khoảng thời gian có hiệu lực

2

Khoản 2, Điều 2 Luật Phá sản 2004.

Trang 61

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
của Luật Phá sản 1993 và Luật Phá sản 2004.
Đến năm 2014, Luật Phá sản mới được thông
qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2015. Một trong những đổi mới căn bản
của luật này là đã dành hẳn một chương riêng để
quy định việc phá sản TCTD. Điều này đồng
nghĩa với việc Nhà nước đã chính thức cho phép
áp dụng pháp luật phá sản đối với những TCTD
yếu kém.
Trên cơ sở quan điểm mới mang tính bước
ngoặc của Luật Phá sản 2014, bài viết sẽ tập
trung vào các nội dung sau:
(i) Phân tích thực tiễn giải quyết tình trạng
TCTD mất khả năng thanh toán trong khoảng
thời gian có hiệu lực của Luật Phá sản 1993 và
Luật Phá sản 2004;
(ii) Làm rõ quy định của Luật Phá sản 2014
về thủ tục phá sản TCTD;
(iii) Đánh giá tính khả thi của các quy định
về phá sản TCTD trong Luật Phá sản 2014 trên
cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của hệ
thống các TCTD ở nước ta hiện nay và quan
điểm của Nhà nước đối với vấn đề phá sản
TCTD.
Trong số các nội dung được đề cập trên, bài
viết xin tập trung đi sâu vào nội dung thứ (iii) để
xem liệu Luật Phá sản 2014 nói chung và các
quy định về phá sản TCTD nói riêng có khả
năng khắc phục được nhược điểm của hai luật
phá sản trước không, hay nói cách khác là liệu
Luật Phá sản 2014 có thể góp phần giải quyết
một cách “gọn gàng” hậu quả sau phá sản của
các doanh nghiệp, hợp tác xã nói chung và
TCTD nói riêng để làm lành mạnh hóa nền kinh
tế hay không.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Trang 62

Phá sản TCTD là vấn đề đã được đề cập từ
khá lâu và là chủ đề được đưa ra thảo luận sôi
nổi trong khoảng thời gian chuẩn bị sửa đổi Luật
Phá sản 2004. Sở dĩ vấn đề này nhận được nhiều
sự quan tâm của dư luận là do thực trạng nợ xấu
và khả năng hoạt động yếu kém của hàng loạt
TCTD trong thời gian qua, đặc biệt là các ngân
hàng thương mại. Trên các phương tiện thông
tin đại chúng đã có nhiều bài viết cập nhật quy
định mới của Luật Phá sản 2014 về thủ tục phá
sản TCTD khi Luật này còn trong giai đoạn lập
dự thảo và khi Quốc hội chính thức thông qua.
Nội dung các bài viết này cũng có đề cập đến
tính khả thi của những quy định pháp luật phá
sản trên thực tế, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ
bài báo mang tính thời sự, chưa phân tích một
cách cụ thể và khoa học.
Về công trình nghiên cứu, đã có một số bài
báo khoa học được công bố trên các tạp chí
trong nước có nội dung liên quan đến vấn đề
phá sản TCTD, bao gồm một số bài viết tiêu
biểu sau:
Bài viết “Định hướng xây dựng pháp luật
phá sản các tổ chức tín dụng” của tác giả
Nguyễn Văn Vân đăng trên Tạp chí Khoa học
pháp lý số 8/2002 ra đời vào thời điểm Nhà
nước chuẩn bị sửa đổi Luật Phá sản doanh
nghiệp 1993. Bài viết nhấn mạnh sự chồng chéo
trong các quy định của Luật Phá sản doanh
nghiệp 1993, Luật Các tổ chức tín dụng 1997 và
các văn bản dưới luật khác dẫn đến nhiều bất
cập trong quá trình xây dựng và áp dụng thủ tục
phá sản TCTD. Ưu điểm của bài viết là tác giả
đã đóng góp hai xu hướng ban hành pháp luật
phá sản TCTD và một số nội dung khác có liên
quan thông qua việc nghiên cứu pháp luật phá
sản của một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, do
bài viết ra đời từ khá lâu nên một số phân tích
của bài viết đã không còn phù hợp với quy định
của pháp luật hiện hành và tình hình thực tế của
xã hội.

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016
Bài viết “Giải quyết phá sản tổ chức tín
dụng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt
Nam” của tác giả Cao Đăng Vinh đăng trên Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số 12/2009 nhấn mạnh
sự cần thiết phải có những quy định đặc thù đối
với những TCTD lâm vào tình trạng phá sản
xuất phát từ chính những yếu tố đặc thù trong
quá trình hoạt động của loại hình kinh doanh
này. Đồng thời, bài viết cũng trình bày sơ lược
về các xu hướng ban hành pháp luật phá sản của
một số quốc gia trên thế giới và nhấn mạnh quan
điểm của những quốc gia theo xu hướng cho
phép phá sản TCTD. Tuy nhiên, bài viết chưa
phân tích điều kiện thực tế của Việt Nam và
chưa chỉ ra những kinh nghiệm quốc tế nào có
thể được áp dụng một cách hiệu quả vào thực
tiễn hoạt động của các TCTD ở Việt Nam.
Ngoài hai bài viết trên, vẫn còn một số bài
viết khác được công bố ở Việt Nam có liên quan
đến đối tượng nghiên cứu. Nhìn chung, quan
điểm của hầu hết các tác giả là cần thiết xây
dựng cơ chế đặc thù để giải quyết triệt để vấn đề
phá sản TCTD. Không phủ nhận sự đóng góp
của các bài viết trên nhưng chúng đều đã tương
đối lạc hậu và không còn giá trị cập nhật bởi sự
ra đời của Luật Phá sản 2014 - điều sẽ được
khắc phục trong bài viết này. Đồng thời, trong
phạm vi bài viết, người viết muốn tiếp cận vấn
đề phá sản TCTD theo một góc nhìn khác, đó là
đánh giá tính khả thi của những quy định này
trên thực tế.
Trên cơ sở đối tượng và mục đích nghiên
cứu, bài viết được bố cục như sau:
1. Giới thiệu
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu
3. Kết quả và thảo luận
4. Kết luận và kiến nghị

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp sau:
(i) Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái
quát hóa: Phương pháp này được sử dụng để
làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý liên
quan đến vấn đề phá sản TCTD.
(ii) Phương pháp thống kê, điều tra xã hội
học: Phương pháp này được sử dụng nhằm làm
rõ thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các
TCTD yếu kém trong thời gian qua, từ đó đưa ra
các ý kiến nhận xét, đánh giá về vấn đề phá sản
TCTD ở Việt Nam.
(iii) Phương pháp so sánh, đối chiếu pháp
luật: phương pháp này được sử dụng để làm rõ
những điểm tương đồng và khác biệt giữa Luật
Phá sản 2014 với Luật Phá sản 1993 và Luật
Phá sản 2004, từ đó nhấn mạnh những điểm mới
của Luật Phá sản 2014 về phá sản TCTD.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu
Thủ tục phá sản TCTD là một thủ tục tư
pháp được tiến hành bởi Tòa án. Điều này hoàn
toàn phù hợp với thông lệ chung của đa số các
nước trên thế giới, ngoại trừ một số nước xem
thủ tục phá sản là một thủ tục hành chính (Hoa
Kỳ, Italy) hay là sự kết hợp giữa thủ tục hành
chính và thủ tục tư pháp (Australia, Pháp, Hà
Lan). Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm cho rằng
Nhà nước nên ban hành một văn bản Luật riêng
điều chỉnh vấn đề phá sản TCTD nhưng theo
quan điểm của người viết thì việc lồng ghép nội
dung này vào Luật Phá sản 2014 là hoàn toàn
phù hợp bởi TCTD cũng là một loại hình doanh
nghiệp và cần phải được thể hiện sự ngang bằng
về vị thế với các loại hình doanh nghiệp, hợp tác
xã khác. Tính đặc thù của TCTD trong quá trình
giải quyết thủ tục phá sản đã được Nhà nước
xem xét bằng cách tách nội dung này thành một
chương riêng trong Luật Phá sản 2014.

Trang 63

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
Theo quy định của Luật Phá sản 2014, thủ
tục phá sản TCTD bao gồm các bước cơ bản
sau:
(1) Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Khác với thủ tục phá sản doanh nghiệp thông
thường, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với TCTD chỉ được thực hiện sau khi
Ngân hàng nhà nước đã có văn bản xác nhận
không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng
thanh toán hoặc đã qua giai đoạn kiểm soát đặc
biệt nhưng TCTD vẫn không thể phục hồi. Quy
định này hoàn toàn phù hợp với Luật các tổ
chức tín dụng 2010 nhằm đảm bảo rằng khi một
TCTD bị mở thủ tục phá sản thì chắc chắn rằng
TCTD này đã thực sự mất khả năng thanh toán
và không thể phục hồi, tránh gây tâm lý hoang
mang và ảnh hưởng đến hoạt động của TCTD
nói riêng và cả hệ thống TCTD nói chung. Có
thể nói giai đoạn kiểm soát đặc biệt chính là giai
đoạn áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động
kinh doanh cho TCTD và nó được thực hiện
trước khi tiến hành thủ tục phá sản. Hầu như
không có quốc gia nào trên thế giới cho phép
TCTD áp dụng giai đoạn phục hồi hoạt động
kinh doanh sau khi mở thủ tục phá sản bởi Nhà
nước luôn mong muốn vực dậy TCTD càng sớm
càng tốt, và một khi TCTD bị mở thủ tục phá
sản thì việc thanh lý tài sản của TCTD đó là tất
yếu. Đây cũng là lý do tại sao thủ tục phá sản
TCTD được rút gọn đi các bước tổ chức hội
nghị chủ nợ và phục hồi hoạt động kinh doanh.
Về đối tượng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản, tương tự như đối với vụ việc phá sản
thông thường, các chủ thể sau có quyền nộp đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD: (i)
Chủ nợ không bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm
một phần; (ii) Người lao động, công đoàn cơ sở,
công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi
chưa thành lập công đoàn cơ sở; (iii) Cổ đông
hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần
phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất

Trang 64

06 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ
TCTD quy định; (iv) Thành viên hợp tác xã
hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác
xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã. Luật
cũng quy định rõ nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản của bản thân TCTD mất khả
năng thanh toán sau giai đoạn kiểm soát đặc
biệt, đồng thời thừa nhận quyền nộp đơn của
Ngân hàng Nhà nước trong trường hợp TCTD
không thực hiện nghĩa vụ này. Đương nhiên, các
chủ thể này chỉ có quyền nộp đơn đến Tòa án
sau khi có văn bản xác nhận của Ngân hàng Nhà
nước như đã phân tích trên.
Có thể nhận thấy rằng quyền nộp đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD không
được thực hiện một cách tùy tiện như đối với
các doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường. Bỏ
qua dấu hiệu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán tại Khoản 1, Điều 4 Luật Phá
sản 2014, chỉ có Ngân hàng Nhà nước là cơ
quan duy nhất được quyền xác định TCTD có
mất khả năng thanh toán hay không. Ngoài ra,
theo quy định của một số quốc gia trên thế giới,
quyền tuyên bố TCTD mất khả năng thanh toán
còn có thể được giao cho cơ quan giám sát ngân
hàng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi hoặc Tòa án.
Đồng thời, các chủ thể này cũng có quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD
mà mình giám sát. Cụ thể, theo pháp luật của
Hoa Kỳ, tổ chức bảo hiểm tiền gửi tín dụng và
Ủy ban thanh tra tài chính có quyền nộp đơn yêu
cầu phá sản ngân hàng.
(2) Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản TCTD ngay khi có đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản và có văn bản chấm dứt kiểm
soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng
hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả
năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Việc giải quyết vụ việc phá sản được tiến
hành ngay mà không cần phải qua các bước điều

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ: Phần 1 - PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài (chủ biên) (ĐH Kinh tế Quốc dân)

Phần 1 Giáo trình Lý thuyết tài chính - tiền tệ do PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài (chủ biên) biên soạn gồm các chương: Đại cương về tài chính và tiền tệ, tổng quan về hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian.


INTEREST RATE RISK MANAGEMENT: A CASE STUDY OF GBS MUTUAL BANK

Having studied the effect of monetary policy and capital ows shocks on housing activity, our second contribution is to explore how nancial innovation affects the transmission of the two shocks. Using an index of mortgage market development constructed in IMF (2008), 1 we split our sample in two groups of countries (with high and low mortgage market development) and estimate our panel VAR model across the two subsamples. We also split the sample using the ratio of mortgage debt to GDP in 2004. Comparing impulse responses across countries with high and low levels of mortgage market development accounts for cross-sectional variation, but assumes that there is no variation in...


Annuities and Other Retirement Products: Designing the Payout Phase (Directions in Development)_12

Tham khảo tài liệu 'annuities and other retirement products: designing the payout phase (directions in development)_12', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Định giá tài sản trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và giải pháp

Bài viết Định giá tài sản trong hoạt động ngân hàng - Thực trạng và giải pháp giới thiệu tới các bạn những nội dung về lựa chọn phương pháp định giá tài sản phù hợp, thực trạng và giải pháp định giá tài sản trong hoạt động ngân hàng.


Công thức tài chính kế toán

tài liệu rất bổ ích cho các bạn muốn tìm hiểu về kế toán, tài chính doanh nghiệp: tổng hợp tất cả những công thức tài chính, lý thuyết và bài tập tình huống trong phân tích tài chính doanh nghiệp.


Chương trình học phần: Thực tập nghề nghiệp - ĐH Nha Trang

Danh mục chủ đề của học phần Thực tập nghề nghiệp bộ môn Tài chính - ngân hàng gồm 4 chủ đề sau: giới thiệu tổng quát về đơn vị thực tập, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, các thành phần quản trị tài chính tại doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và phân tích chuyên đề chuyên sâu.


Chuyên đề 3: Tiền tệ, tín dụng

Tiền là bất cứ một phương tiện nào được xã hội chấp nhận làm phương tiện trao đổi với mọi hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế. Dù biêủ hiêṇ dươi hình thưc nào, tiền tệ cũng có cać chưc năng: Phương tiện trao đôỉ , đơn vi ̣ đań h gia ́ va ̀ phương tiêṇ dư trư gia ́ tri.


Các phương thức thanh toán quốc tế

Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh Trần Phương Minh Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn. Bạn thử hình dung nếu bạn có quan hệ đối tác làm ăn với các thương nhân nước ngoài mà bạn không có các phương thức thanh toán quốc tế thì sẽ như thế nào? Hẳn là không thể kinh doanh được rồi. Những phương thức...


Trắc nghiệm Thanh toán quốc tế có đáp án

Tài liệu "Trắc nghiệm Thanh toán quốc tế có đáp án" gồm 115 câu trắc nghiệm có đáp án giúp bạn ôn tập các kiến thức: các điều kiện thương mại quốc tế, điều kiện Incoterm, tỷ giá hối đoái,... Cùng tham khảo nhé.


Impact Evaluation in Practice

A national infrastructure bank would help spur more infrastructure investment by creating a strong federal lending authority capable of financing and coordinating high-value infrastructure investments throughout the country. It could provide low-interest loans and loan guarantees to state, local, and private investors, and help stakeholders connect available capital with financially viable projects and willing partners. Because all of the funds distributed by the bank would be paid back with interest by borrowers following the completion of their projects, the costs to the federal government following the initial capitalization of the bank would be remarkably low. Every federal dollar put into...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bài tập nhóm HỐI PHIẾU
  • 07/10/2012
  • 42.973
  • 779

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu