Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tạo hình trong bệnh lý dính khớp sọ coronal một bên nhân 01 trường hợp và nhìn lại y văn

Đề tài nghiên cứu một trường hợp tạo hình lại hộp sọ của bệnh nhi 09 tháng tuổi với sự phối hợp liên chuyên khoa tạo hình và phẫu thuật thần kinh, tác giả đưa ra một số bàn luận và nhìn lại y văn. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

TẠO HÌNH TRONG BỆNH LÝ DÍNH KHỚP SỌ CORONAL MỘT BÊN  
NHÂN 01 TRƯỜNG HỢP VÀ NHÌN LẠI Y VĂN 
Bùi Mai Anh *, Ngô Mạnh Hùng **, Vũ Trung Trực *, Nguyễn Hồng Hà *, Lý Ngọc Liên ** 

TÓM TẮT 
Tạo hình lại hộp sọ trong bệnh lý sọ phẳng do dính khớp sọ một bên (unicoronal plagiocephaly) cho đến nay 
vẫn là một thách thức đối với các phẫu thuật viên tạo hình và phẫu thuật viên thần kinh. Mục đích chính của 
phẫu thuật là mở rộng hộp sọ làm giảm áp lực nội sọ và tạo hình lại trần ổ mắt bị biến dạng do nguyên nhân liền 
sớm khớp trán đỉnh ở trẻ nhỏ. Đã có nhiều báo cáo của các tác giả nước ngoài về tạo hình trong bệnh lý hẹp hộp 
sọ, tuy nhiên chúng tôi chưa thấy báo cáo nào về phẫu thuật này tại Việt Nam. Do vậy, nhân một trường hợp tạo 
hình lại hộp sọ của bệnh nhi 09 tháng tuổi với sự phối hợp liên chuyên khoa tạo hình và phẫu thuật thần kinh, 
chúng tôi đưa ra một số bàn luận và nhìn lại y văn.  
Từ khóa: Dinh khớp sọ một bên 

ABSTRACT  
RECONSTRUCTION OF UNICORONAL PLAGIOCEPHALY: A CASE AND LITERATURE REVIEW  
Bui Mai Anh, Ngo Manh Hung, Vu Trung Truc, Nguyen Hong Ha, Ly Ngoc Lien 
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 144 – 148 
Successful  repair  of  all  abnormal  characteristics  of  unicoronal  plagiocephaly  remains  a  challenge  for 
craniofacial surgeons and neuro surgeons. The aim of surgery is to expand skull reduced intracranial pressure 
and reshaped lateral orbital wall and supraorbital rim caused by one coronal suture fuses prematurely early. There 
have been many reports of foreign authors in surgical technique of unilateral coronal craniosynostosis, however 
we  have  not  seen  any  reports  of  this  surgical  technique  in  Vietnam.  Therefore,ʹs  a  case  of  reconstruction  of 
plagiocephaly’s 09‐month‐old patient with coordination specialist craniofacial surgery and neurosurgery, we give 
some discussions and literature review. 
 

 

Keyword: unicoronal plagiocephaly 

ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý dính khớp sọ sớm đã được mô tả từ 
những  năm  100  trước  công  nguyên  bởi 
Hypocrate. Những báo cáo của thời điểm đó đã 
chỉ ra rằng việc liền sớm các khớp sọ sẽ gây biến 
dạng hộp sọ. Theo nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ dị 
tật  dính  hộp  sọ  gặp  ở  1/2000  trẻ  bệnh  lý  dính 
khớp  sọ  (craniosynostoses)  là  độc  lập  với  hội 
chứng  dính  khớp  sọ  mặt  (craniofacial 
sysnostoses)  như  hội  chứng  Apert  hay 
Crouzon…Các biểu hiện của bệnh lý dính khớp 
sọ được chia thành nhiều thể phụ thuộc vào số 
lượng và vị trí đường khớp bị liền sớm. Hay gặp 
nhất  là  liền  sóm  khớp  dọc  giữa  (saggital 

synostoses)  gây  biểu  hiện  đầu  dài  hay  sọ  hình 
thuyền,  dính  khớp  trán  biểu  hiện  trán  nhọn, 
hoặc  dính  nhiều  khớp.  Liền  sớm  khớp  ngang 
(coronal) là bệnh lý hiếm gặp (chiếm 0,7%) trong 
bệnh  lý  dính hẹp  hộp sọ  nói  chung  và tần  suất 
gặp ở 1/10.000 trẻ sinh ra với biểu hiện sọ phẳng 
(plagiocephaly) một bên hoặc hai bên(5). Do vậy, 
nhân  một  trường  hợp  dính  khớp  sọ  ngang  hay 
sọ phẳng hiếm gặp được phẫu thuật phối hợp 2 
chuyên  khoa  phẫu  thuật  thần  kinh  và  phẫu 
thuật tạo hình hàm mặt chúng tôi tiến hành tổng 
quan các nghiên cứu trong y văn và đưa ra một 
số bàn luận. 

* Khoa Tạo hình Hàm mặt‐Bệnh viện Việt Đức 
** Khoa Phẫu thuật thần kinh‐Bệnh viện Việt Đức 
Tác giả liên lạc: BS. Bùi Mai Anh;  
ĐT: 0904218389  Email: drbuimaianh@gmail.com 

144

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
MÔ TẢ CA LÂM SÀNG 
BN nữ 09 tháng tuổi, đẻ thường con thứ hai 
trong  gia  đình.  Trong  quá  trình  mang  thai  mẹ 
phát triển bình thường. Tiền sử gia đình: Không 
gặp  trường  hợp  nào.  Bệnh  nhi  đến  khám  với 
biểu hiện trán, cung mày phải phẳng, lông mày 
bên dị tật bị đưa lên cao, mắt phải nhắm không 
kín, nhãn cầu nhô ra trước, vị trí tai phải đưa ra 
phía trước nhiều hơn, trục thẳng của mặt có xu 
hướng  vẹo  sang  bên  lành.  Trẻ  phát  triển  tâm 
thần  vận  động  bình  thường,  không  thấy  biểu 
hiện của tăng áp lực nội sọ. Hình ảnh chụp CT: 
không thấy đường khớp sọ trán đỉnh bên phải, 
thành ngoài ổ mắt ngắn hơn bên đối diện, xương 
trán  bên  bệnh  phẳng  lõm  vào  trong.  Hình  ảnh 
não thất, nhu mô não bình thường. 

gây  mê  nội  khí  quản  nằm  ngửa,  rạch  da  theo 
đường  bicoronal  cách  chân  tóc  02  cm  đến  sát 
xương. Bộc lộ toàn bộ trần ổ mắt 2 bên đến khớp 
xương  gò  má  và  xương  trán  ở  thành  ngoài  ổ 
mắt,  bảo  tồn  thần  kinh  trên  ổ  mắt  2  bên.  Tiến 
hành  cắt  khối  xương  trán  2  bên  theo  đường 
khớp coronal đến bờ trước của thành trên ổ mắt 
khoảng 2cm, cắt rời thành trước trần ổ mắt bên 
phải đến khớp trán‐gò má. Ghép xương tạo hình 
bờ trên trần ổ mắt để tạo độ cong, cố định bằng 
nẹp  vis  titanium.  Khối  xương  trán  đỉnh  2  bên 
được  xoay  180  độ  để  tạo  hình  lại  xương  trán 
cũng  như  làm  tăng  thể  tích  hộp  sọ  vùng  trán. 
Xương  được  cố  định  bằng  nẹp  vis  titanium. 
Bệnh nhân được đặt dẫn lưu dưới da, đóng vết 
mổ  2  lớp.  Bệnh  nhân  nằm  theo  dõi  nội  trú  1 
tuần. Không có biến chứng sau mổ như máu tụ 
nội  sọ,  sưng  nề,  vận  nhãn  bình  thường,  vận 
động, tinh thần bình thường. 

BÀN LUẬN 

Hình ảnh bệnh nhân và phim CT trước phẫu thuật 
Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán:  dính  khớp  sọ 
coronal  một  bên  (Unilateral  coronal 
craniosynostoses) hay sọ phẳng (Plagiocephaly). 
Bệnh  nhân  có  chỉ  định  phẫu  thuật  giải  phóng 
khớp sọ bị liền sớm và tạo hình lại hộp sọ, ổ mắt.  
Chúng tôi tiến hành phẫu thuật với sự phối 
hợp  2  chuyên  khoa:  Phẫu  thuật  thần  kinh  và 
phẫu  thuật  tạo  hình  hàm  mặt.  Bệnh  nhân  dưới 

Bệnh Lý Sọ Não 

Thông thường đường khớp cronal giúp trán 
và thùy trán phát triển ra phía trước. Sự hiểu biết 
về  giai  đoạn  phát  triển  về  hộp  sọ  giúp  phẫu 
thuật  viên  đưa  ra  thời  gian  tốt  nhất  để  phẫu 
thuật. Nghiên cứu cho thấy thể tích não của trẻ 
đạt  47%  của  người  trưởng  thành  khi  trẻ  11 
tháng, đạt 93% khi trẻ 07 tuổi. Khi 02 tuổi, nền sọ 
trước của trẻ đạt 70% so với người trưởng thành, 
khối phức hợp mũi xương hàm trên sẽ phát triển 
theo sự phát triển của nền sọ trước(1,5). Chính vì 
vậy theo các tài liệu cho thấy thời gian tốt nhất 
để phẫu thuật thường là từ 06‐09 tháng(5). Ngoài 
ra, thời điểm này tốt cho phẫu thuật do xương sọ 
lúc  này  khá  mỏng  dễ  cắt  uốn  để  tạo  hình,  các 
xoang tĩnh mạch chưa phát triển nên giảm thiểu 
nguyên  nhân  chảy  máu.  Tuy  nhiên,  vì  trẻ  còn 
nhỏ nên nếu mất máu khi phẫu thuật sẽ dẫn đến 
nguy  cơ  nguy  hiểm  tính  mạng,  do  vậy  việc 
chuẩn  bị  bệnh  nhân,  cầm  máu  khi  phẫu  thuật 
cũng như phối hợp gây mê hồi sức trong và sau 
phẫu thuật là rất quan trọng. Có một số tài liệu 
thời gian trung bình phẫu thuật là 13 tháng, mặc 
dù tác giả cũng cho rằng thời gian tốt nhất là 6‐9 

145

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
tháng tuy nhiên thường có một số nguyên nhân 
khách quan như trẻ có vấn đề về đường hô hấp 
do  vậy  ảnh  hưởng  đến  thời  điểm  phẫu  thuật. 
Mặt  khác,  có  một  số  tác  giả  lại  cho  rằng  nếu 
phẫu  thuật  sớm  khi  06  tháng  tuổi  thì  xương 
chưa  đủ  độ  cứng  sẽ  ảnh  hưởng  đến  kết  quả 
thẩm mỹ của tạo hình xương ổ mắt và phải tạo 
hình lại khi trẻ được 01 tuổi. 

 

Để  tạo  hình  khối  vòm  sọ  trán  chúng  tôi  cắt 
nguyên khối xương trán 2 bên giải phóng khớp 
trán đỉnh liền sớm, sau đó xoay 180 độ để tạo độ 
cong  cho  xương  trán  làm  tăng  thể  tích  hộp  sọ. 
Hình  ảnh  CT  sau  mổ  cho  thấy  khớp  trán  đỉnh 
được giải phóng và khối xương sọ được tạo lại 
cân đối so với bên lành. Theo nhiều báo cáo cho 
thấy việc cắt toàn bộ khối trán 2 bên sẽ cho kết 
quả tối ưu nhất do tỷ lệ ít phải sửa chữa lại sau 
khi trẻ phát triển lớn(2). 

  

Hình ảnh cắt xương và xoay 180 độ khối xương trán 

Hình ảnh CT trước và sau phẫu thuật 
Chúng  tôi  tiến  hành  phối  hợp  phẫu  thuật 
viên thần kinh và phẫu thuật viên hàm mặt tạo 
hình  để  tạo  lại  khung  thành  trên  trần  ổ  mắt. 
Chúng tôi tiến hành cắt rời xương thành trên ổ 
mắt bên lành từ khớp trán‐gò má của thành bên 

146

ổ mắt đến đường giữa. Để tạo hình lại thành trên 
cân đối với bên lành chúng tôi ghép xương vòm 
sọ  sau  khi  cắt  đôi  thành  trên  ổ  mắt  để  tạo  độ 
cong,  để  giữ  được  độ  cong  như  mong  muốn 
chúng tôi tạo hình dựa trên khung bên lành và 
cố  định  mảnh  ghép  bằng  nẹp  vis  titanium.  Có 
rất nhiều kỹ thuật được báo về việc tạo hình lại 
thành  trên  ổ  mắt  trong  bệnh  lý  dính  khớp 
coronal  một  bên.  McCarthy  và  cộng  sự  đã  báo 
cáo  về  kinh  nghiệm  đẩy  toàn  bộ  thành  trên  ổ 
mắt ra phía trước để tạo hình lại ổ mắt(4). Hilling 
và  cộng  sự  đánh  giá  các  kết  quả  thẩm  mỹ  của 
một  kỹ  thuật  tiến  bộ  trong  tạo  lại  thành  trên  ổ 
mắt(3). Trong loạt lớn 137 bệnh nhân của họ, các 
tác  giả  nhận  thấy  rằng  các  biến  dạng  sau  phẫu 
thuật  kéo  dài  là  hình  ảnh  hẹp  thắt  lại  ở  thái 
dương  và  vấn  đề  trở  nên  xấu  đi  với  thời  gian. 
Điều  thú  vị  là,  họ  cho  rằng  độ  tuổi  mà  bệnh 
nhân khi phẫu thuật không ảnh hưởng đến kết 
quả  thẩm  mỹ  sau  phẫu  thuật.  Những  kết  quả 
này tương phản với kết quả báo cáo của Jane và 
cộng sự gợi ý rằng một kỹ thuật phẫu thuật khác 
nhau nên được sử dụng tùy thuộc vào tuổi của 
bệnh  nhân  tại  thời  điểm  phẫu  thuật.  Ngoài  ra 

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
một số báo cáo như của Persing và cộng sự cho 
rằng có việc theo cơ thái dương bên bệnh lý sau 
phẫu  thuật  nên  tác  giả  đã  tiến  hành  tạo  vạt  cơ 
xương thái dương khi cắt xương sọ tạo hình để 
tránh hiện tượng teo cơ(6). Tuy nhiên, đây chỉ là 
báo  cáo  trên  một  ca  lâm  sàng.  Để  tránh  hiện 
tượng  này  chúng  tôi  đã  không  làm  tổn  thương 
cơ thái dương, tuy nhiên kết quả lâu dài chúng 
tôi vẫn đang tiếp tục theo dõi. Đối với thành trên 
ổ  mắt  chúng  tôi  không  can  thiệp  bên  lành  như 
các  tác  giả  mà  tiến  hành  ghép  xương  tạo  độ 
cong. Kết quả sau mổ cho thấy rất khả quan. 

KẾT LUẬN 
Bệnh lý dính khớp coronal một bên nói riêng 
cũng như bệnh lý dính hộp sọ nói chung vẫn là 
một thách thức với các phẫu thuật viên tạo hình 
và phẫu thuật viên thần kinh. Các kỹ thuật khác 
nhau  được  đưa  ra  nhằm  đạt  được  kết  quả  về 
thẩm  mỹ  và  chức  năng  tốt  nhất  vẫn  còn  đang 
được tranh luận rất nhiều.  

BN nữ 09 tháng tuổi, liền sớm khớp trán đỉnh bên 
trái 

Hình ảnh sau mổ 1 tháng 
Hình ảnh cắt xương và ghép xương tạo hình thành 
trên ổ mắt 
Về  vấn  đề  sử  dụng  vật  liệu  cố  định  mảnh 
xương sọ, chúng tôi sử dụng mesh titanium với 
02  lý  do  đó  là  chất  liệu  này  tạo  độ  cứng  thích 
hợp  để  tạo  hình  và  hiện  tại  chúng  tôi  chưa  có 
nẹp tự tiêu. Nhược điểm là sau 06‐09 tháng bệnh 
nhân  sẽ  phải  mổ  lấy  nẹp.  Theo  y  văn  cho  thấy 
nhiều  tác  giả  cũng  sử  dụng  vật  liệu  này  để  cố 
định mảnh xương sọ, một số khác dùng nẹp vis 
tự tiêu hoặc chỉ tự tiêu, tuy nhiên chỉ tự tiêu rất 
yêú  và  không  tạo  hình  lại  độ  cong  như  mong 
muốn(5).  

Bệnh Lý Sọ Não 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Arriaga  MA,  Chen  DA  (2002):  Hydroxyapatite  cement 
cranioplasty  in  translabyrinthine  acoustic  neuroma  surgery. 
Otolaryngol Head Neck Surg 126:512–517. 

2.

Bartlett SP, Whitaker LA, Marchac D (1990): The operative treat‐ 
ment  of  isolated  craniofacial  dysostosis  (plagiocephaly):  a 
comparison  of  the  unilateral  and  bilateral  techniques.  Plast 
Reconstr Surg 85:677–683. 

3.

Hilling DE, Mathijssen IM, Mulder PG, Vaandrager JM (2006): 
Long‐  term  aesthetic  results  of  frontoorbital  correction  for 
frontal pla‐ giocephaly. J Neurosurg 105 (1 Suppl):21–25. 

4.

McCarthy JG, Glasberg SB, Cutting CB, Epstein FJ, Grayson BH, 
Ruff G, et al (1995): Twenty‐year experience with early surgery 
for craniosynostosis: I. Isolated craniofacial synostosis—re‐ sults 
and unsolved problems. Plast Reconstr Surg 96:272– 283. 

147

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
5.

6.

Mesa JM., Fang F, Muraszko KM, and BuchMan SR (2011).
Reconstruction of unicoronal plagiocephaly with a hypercorrection
surgical technique. Neurosurg Focus 31 (2):E4. 
Persing  JA,  Mayer  PL,  Spinelli  HM,  Miller  L,  Criscuolo  GR 
(1994):  Prevention  of  “temporal  hollowing”  after  fronto‐orbital 
ad‐ vancement for craniosynostosis. J Craniofac Surg 5:271– 274. 

Ngày nhận bài báo  

 

 

16/10/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

27/10/2014 

Ngày bài báo được đăng: 

5/12/2014 

 

 

 
 

 

148

 

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

Bài giảng Viêm túi mật cấp không do sỏi - BSCKII. Đoàn Tiến Mỹ

Dưới đây là bài giảng Viêm túi mật cấp không do sỏi do BSCKII. Đoàn Tiến Mỹ biên soạn. Bài giảng cung cấp cho các bạn những kiến thức về lịch sử, yếu tố nguy cơ, sinh lý bệnh, lâm sàng, cận lâm sàng, siêu âm, điều trị đối với bệnh nhân bị bệnh viêm túi mật cấp không do sỏi.


VAI TRÒ CHẨN ĐOÁN SINH THIẾT TỨC THÌ TRONG MỔ CÁC U VÚ TÓM TẮT Mục đích: Xác

VAI TRÒ CHẨN ĐOÁN SINH THIẾT TỨC THÌ TRONG MỔ CÁC U VÚ TÓM TẮT Mục đích: Xác định tính chính xác, tỉ lệ âm tính giả, dương tính giả của phương pháp cắt lạnh cho các u vú, đối chiếu kết quả của cắt lạnh với cắt thường, từ đó phân tích, tìm nguyên nhân của những ca không tương hợp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên số mẫu 435 bệnh nhân có u vú được cắt lạnh, sau đó được đối chiếu với kết quả cắt thường. Kết quả: Gồm 190 ca u ác tính, 245...


Bệnh học phụ khoa - U nang buồng trứng

U nang buồng trứng : Là loại u lành tính, phát sinh từ các thành phần cấu trúc buồng trứng bình thường hay từ những di tích phôi thai của buồng trứng. - Là loại u có vỏ bọc bên ngoài gọi là vỏ nang, bên trong có chứa dịch tùy đặc điểm giải phẫu của từng loại u. - Tỉ lệ : Chiếm 90% các khối u của buồng trứng.


Suy Tim Sung Huyết (Phần 1)

Suy tim sung huyết (Congestive heart failure - CHF) là mất cân bằng do chức năng bơm của tim không bảo đảm tuần hoàn máu đầy đủ. * CHF có thể là do suy tim tiền gánh hay hậu gánh. Suy hậu gánh làm tăng áp hệ thống tĩnh mạch, trong khi suy thất trái làm giảm lưu lượng máu tiền gánh bơm vào hệ thống tuần hoàn... * Biểu thị CHF cấp nặng nhất là Phù phổi (OAP - œdème aigu du poumon - có 2 loại: do tim và tổn thương, ở đây chỉ đề cập do...


Bài giảng Điều trị tai biến mạch máu não cấp

Nội dung bài giảng "Điều trị tai biến mạch máu não cấp" của PGS.TS Cao Phi Phong trình bày về bệnh tai biến mạch máu não cấp, phân loại tai biến mạch máu não cấp, chẩn đoán và điều trị tai biến mạch máu não cấp.


SIÊU ÂM THẬN CẤP CỨU phần 1

nĐau ở mạn sườn hoặc đau bụng cấp kèm với tiểu máu là những lý do nhập viện tương đối hay gặp ở khoa cấp cứu. Tuy rằng tắc nghẽn hệ niệu có thể là một chẩn đoán khả dĩ nhất ở những bệnh nhân này, nhưng vẫn còn có những chẩn đoán phân biệt bao gồm những bệnh gây đe dọa tính mạng mà trong đó quan trọng nhất là dãn và vỡ túi phình động mạch chủ bụng. Siêu âm cấp cứu tại giường là một phương tiện giúp xác định nhanh chóng chẩn đoán trong tắc...


Nguyên nhân ung thư vòm họng từ HPV

Virut HPV là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh ung thư đối vơi đàn ông cũng như phụ nữ. Vậy nguyên nhân của việc gây ra bệnh ung the vòm họng từ hpv là gì? Mời các bạn tham khảo tài liệu Nguyên nhân ung thư vòm họng từ HPV sau đây. Tài liệu phục vụ cho các bạn chuyên ngành Y và những bạn quan tâm tới lĩnh vực này.


Viêm sinh dục nữ

Tham khảo tài liệu 'viêm sinh dục nữ', y tế - sức khoẻ, y dược phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Tài liệu: Viêm dạ dày do Helicobacter Pylori

Thuật ngữ viêm dạ dày dùng để chỉ sự viêm nhiễm liên quan tới tổn thương niêm mạc. Tuy nhiên, không phải lúc nào tổn thương và tái tạo tế bào biểu mô cũng liên quan tới viêm nhiễm biểu mô. Sự khác biệt này thường gây ra sự lúng túng bởi vì viêm dạ dày thường dựa vào đặc điểm nội soi hoặc X quang hơn là đặc điểm mô học.


한국 소아에서의 요골 및 척골 간부 내경 (Đường kính xương cẳng tay)

Flexible intramedullary nailing is a advanced method for treating forearm fractures with fewer complications. But sometimes these nails should not be used due to the narrower internal diameter of the forearm bones. We studied the inner diameter of the radius and ulna of children along with their age in relation to the width of the nail.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Clofazimin
  • 13/05/2011
  • 53.317
  • 544

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu