Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tản văn về văn hoá và văn minh kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ hậu WTO

Không nghi ngờ gì về ý nghĩa thực tiễn và tính cần thiết của việc xây dựng văn hoá mang tính cách riêng của từng Ngân hàng thương mại Việt nam thời kỳ phát triển kinh tế thị trường và hội nhập



Đánh giá tài liệu

4.3 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Tản văn về văn hoá và văn minh kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ hậu WTO Tản văn về văn hoá và văn minh kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ hậu WTO ngân hàng, tín dụng
4.3 5 3132
  • 5 - Rất hữu ích 824

  • 4 - Tốt 2.308

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. Tản văn về văn hoá và văn minh kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ hậu WTO TS - Nguyễn Đại Lai Không nghi ngờ gì về ý nghĩa thực tiễn và tính cần thiết của việc xây dựng văn hoá mang tính cách riêng của từng Ngân hàng thương mại Việt nam thời kỳ phát triển kinh tế thị trường và hội nhập. Văn hoá doanh nghiệp trong từng NHTM VN sẽ làm cho cả khách hàng và chủ hàng rõ hơn đó là Ngân hàng nào, văn hoá của NH đó ở đẳng cấp nào, nghĩa vụ của từng thành viên thuộc từng NHTM đang và sẽ phải làm gì để phát huy và tiếp tục nâng cao tầm văn hoá của Ngân hàng mình trong hoạt động cũng như trong con mắt của cuộc sống?... Hàng loạt câu hỏi, cách nói từ thực tiễn ấy, đủ đoán rằng văn hoá nói chung, văn hoá kinh doanh của từng NH nói riêng là cái để phân biệt đẳng cấp cao hay thấp, sang hay hèn khác nhau của đối tượng. Vậy văn hoá là gì?, Văn hoá kinh doanh của NHTM là gì? Không phải đơn giản và cũng không phải quá kỳ bí! Người ta đã thống kê có đến hàng 100 định nghĩa về văn hoá. Tuy nhiên, qua nghiên cứu từ thực tiễn và cảm nhận từ cuộc sống, tôi cũng xin đưa ra một cách tiếp cận đơn giản nhất về văn hoá mà theo tôi, Văn Hoá là cái dôi ra có lợi so với cái căn bản và tôi cũng đồng tình một phần với một cách tiếp cận khác cho rằng: Văn Hoá là cái còn đọng lại hoặc thăng hoa lên từ cốt vật chất hoặc cốt sự vật, hiện tượng sau tất cả những cái mà người ta đã quên – Vâng, “thăng hoa” thì đúng, nhưng “đọng lại” thì chỉ đúng một phần. Bởi lẽ như “các cụ” ta thường dạy rất đúng rằng: “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, hình như “đòn đau” mới là cái nhớ dai hơn, nhưng Văn Hoá thì chẳng đánh ai cả mà sao ai cũng đã và sẽ thấy nhớ lâu làm vậy – Cũng là “đọng” nhưng là đọng cái hay, cái nhân văn hay tựu chung là cái “có lợi” được dôi ra hay được thăng hoa từ sự vật, hiện tượng cụ thể. Trong kinh doanh, cái dôi ra do các hành vi chộp giật, chèn ép, nội gián hay quảng cáo sai sự thật v.v. không phải là văn hoá. Như thế, văn hoá vừa rất trừu tượng, vừa rất cụ thể. Trừu tượng vì người ta không sờ mó, ngắm nghía, cân đo được văn hoá...; Cụ thể vì nói đến văn hoá là phải nói đến văn hoá gì, nó dôi ra từ cái gì, thăng hoa lên từ nguồn cội vật chất hay tinh thần nào. Văn hoá cũng có nhiều tầng nấc và qui mô vật chất mà từ đó văn hoá kết tinh để thăng hoa. Người ta có thể nói: “nền văn hoá dân tộc”, nhưng không thể nói: “nền văn hoá NHTM” cũng như có thể nói: “nền kinh tế thị trường” chứ không thể nói: “nền kinh tế thị trường chứng khoán”! – Văn hoá do đó là một phạm trù vì nó phản ánh được bản chất của nhiều lớp sự vật, hiện tuợng. Vì vậy, muốn nghiên cứu phạm trù văn hoá thì cách tốt nhất là nên bắt chước K.Mác về phương pháp trừu tượng hoá, cụ thể hoá để đi từ cái riêng đến cái chung, từ cái “căn bản” đến cái “dôi ra có lợi”. Nhờ vậy, chúng ta có thể biểu đạt văn hoá một cách đơn giản theo định nghĩa mà định nghĩa được nêu trên đây chỉ là một cách tiếp cận. Ví dụ trong đoạn văn của tôi sau đây :”Làng tôi – với chưa đầy 250 nóc nhà tưởng như hiền hoà và “êm đềm” dưới luỹ tre xanh mà thời chống Mỹ 1965-1975 đã cống hiến cho tổ quốc 270 thanh niên tuấn tú tham gia quân đội trên mọi nẻo chiến trường. Trong đó, sau ngày giải phóng miền nam đã có 72 người không bao giờ trở về. Họ đã hy sinh cho tổ quốc và mãi mãi ở tuổi hai mươi; 94 người để lại một phần xương máu trên các chiến trường ác liệt và trở về với thân hình không trọn vẹn. Họ cùng với những người lính còn lành lặn đến ngày chiến thắng hiện đang tiếp tục cống hiến trên khắp các mặt trận xây dựng tổ quốc thời bình...”. Đó là lịch sử, không phải là văn hoá. Tuy nhiên, nói đoạn: “...những con người này đã được ghi sổ vàng truyền thống quê tôi, họ được nhắc đến như những anh hùng làm “giáo cụ trực quan” sống động trong bài giảng của các môn đạo đức, văn học, lịch sử ở trường làng kể từ sau ngày non sông được thu về một mối; Tại chính giữa sân đình làng, một đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ với 2 tầng, 8 mái cong vút, 6 trụ cột đứng thành hình lục lăng đỡ mái ngói hình ống đúc bằng gốm màu nâu sẫm bảo vệ tấm bia đá thiên nhiên cỡ 1,7x2,5 mét tạc tên và phủ nhũ vàng danh sách các liệt sỹ quê hương, dọc theo 2 cột ở mặt chính nam của tượng đài là đôi hàng câu đối được sơn son thiếp vàng ghi bằng chữ quốc ngữ cách điệu kiểu chữ Tàu với nội dung: vế 1: “Lòng thương xót tạc thành Bia Ân Nghĩa – Người Thượng phúc đời đời nhớ ơn Liệt sỹ”; Vế 2: “Chí quật cường dâng trọn Đời Vì Nước – Lính quê hương ngàn thủa rạng danh Bất tử”; Nơi đây cũng chính là điểm mở Hội Làng
  2. cứ mỗi độ xuân về, là nơi những làn điệu chèo chưa bao giờ đứt trong những chương trình văn nghệ quê tôi...” - Thì chính những hiệu quả giáo dục truyền thống thăng hoa lên, những đặc trưng nhân văn thể hiện trên đài tưởng niệm liệt sỹ quê tôi sẽ trường tồn mãi mãi, và cũng không thể mang danh sách liệt sỹ ở đó hay mang đôi câu đối ở đây đi treo ở bất kỳ thôn nào khác thôn Thượng Phúc quê tôi được...Đó là văn hoá - Đó là Logo, là tấm danh thiếp của Làng tôi – Thôn Thượng Phúc... Tôi muốn dài dòng như vậy là để nói rằng: Văn hoá của một đơn vị cụ thể, ví dụ của một Ngân hàng cụ thể thì không thể không bao gồm “những cái căn bản” chưa phải là văn hoá nhưng lại chứa văn hoá mà từ đó được “dôi ra” hay “thăng hoa” lên – Nó không thể “lắp vào đâu cũng được” vì vậy, nói “xây dựng văn hoá Ngân hàng” trước hết phải là xây dựng những cái “căn bản”, cái chứa văn hoá...thông qua việc thiết lập những qui trình công việc, những nguyên tắc ứng xử, những sản phẩm chất lượng, những tấm gương về nghề, về người, về thành tựu nhiều năm mang đặc sắc riêng có của từng NHTM. Trên nền đó, Văn hoá của một Ngân hàng cụ thể sẽ tự nhiên xuất hiện. Một ví dụ điển hình khác, trong chuyến đi khảo sát tại Cộng hoà dân chủ Đức và Cộng hoà Pháp hồi tháng 7/2006, tôi được đến thăm và cảm nhận trực tiếp không gian văn hoá của Tập Đoàn HypoVereins Bank (HVB) của Đức và Tập Đoàn Ngân hàng BNP Paribas của Pháp. Tại 2 Tập Đoàn này, dù đến nay tôi đã không nhớ nó có bao nhiêu người, ai là giám đốc, lương bình quân của họ bao nhiêu...nhưng không thể quên cách mà mỗi Tập Đoàn này phân chia tổ chức theo từng nhóm sản phẩm cũng như cách mà họ thống nhất các mẫu báo cáo cập nhật cho từng nhóm sản phẩm cũng như việc sử dụng chung Logo trong toàn Tập Đoàn, thậm chí từ quyển sổ, cây bút, bàn họp...cũng khắc hình Logo, hoặc cách mà Hội Đồng quản trị Tập Đoàn quản lý toàn bộ Tập đoàn trải rộng khắp toàn cầu theo một bộ qui tắc thống nhất. Với Tập đoàn BNP Baribas là Tập Đoàn có 3 nhóm sản phẩm khá tương đồng với Ngân hàng đầu tư và phát triển của Việt nam được gọi thành tên Ngân hàng thành viên gồm: NH đầu tư cho DN lớn (có các dịch vụ tư vấn đầu tư, tư vấn tham gia thị trường vốn, trực tiếp đầu tư vào thị trường vốn...), NH bán lẻ (phân ra hai nhóm: khách hàng cá nhân giàu có và nhóm khách hàng hạng trung bình ở Pháp và cũng phân như thế ở từng nước có chi nhánh của Tập đoàn “phủ sóng” tới 84 quốc gia), NH dịch vụ quản lý tài sản (dịch vụ mua, bán đất đai; dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ lưu ký, thanh toán chứng khoán). Logo của Tập Đoàn này là hình của 2/3 Elip vẽ bởi 4 con chim én màu xanh lam đang bay theo hướng vút lên (tự nó vút lên rất hiên ngang) từ trái sang phải kéo theo dòng chữ: BNP PARIBAS với lời giải thích rất gọn gàng: BNP Baribas luôn là mùa xuân và mang mùa xuân đến với toàn cầu. Kèm với Logo là phong cách dịch vụ, là trang phục, là mô hình tổ chức giống nhau ở khắp các chi nhánh toàn cầu – Giống nhau về kiểu dáng, nơi in biểu tượng trên trang phục, về hình thức công sở, về mẫu báo cáo, về mô hình tổ chức các Phòng, Ban của từng Ngân hàng con ứng với từng nhóm khách hàng...Không lẫn với bất kỳ Tập đoàn nào. Thư báo tin cho khách hàng hoặc lệnh rút tiền mang hình 4 con chim én từ Tập đoàn này có thể được thực hiện nhanh chóng ở bất kỳ chi nhánh nào tại 84 quốc gia phân bổ khắp các Châu Lục trên thế giới...Khi viết những dòng này, tay tôi cứ tự nhiên mân mê và ngắm nhìn chiếc bút bi và tấm danh thiếp có hình 4 con chim én đang kéo dòng chữ mang tên Tập đoàn mà “người ta” đã tặng từng thành viên sau khi Đoàn chúng tôi kết thúc chuyến thăm họ. Thì ra văn hoá không phải là sự mô tả qui mô số lượng hay công việc mà chính lại là ở sự cảm nhận về vẻ đẹp, tính đặc sắc cũng như nỗi nhớ gia giết của những người đã từng một lần tiếp cận hoặc được làm khách hàng của Ngân hàng – Văn hoá ở Tập Đoàn này tuyệt nhiên không do bán được hàng với giá cao, cũng không phải do quyến rũ được khách hàng chỉ vì bán rẻ hàng hoá của họ mà vấn đề lại nằm ở tính thống nhất, tính minh bạch, tính chuyên nghiệp, sự thân thiện...đã thuyết phục được cảm tình của khách hàng, đã mở rộng được nhóm sản phẩm và nhất là mở rộng được không gian kinh doanh...làm cho hiệu suất của đồng vốn tăng cao. Lại một lần gần đây nhất – Tháng 6/2007 tôi may mắn có dịp được tham gia một đoàn công tác liên ngành của Việt Nam đi khảo sát hoạt động của hệ thống tài chính và Ngân hàng tại Hồng Kông và Mỹ. Từ những quan sát sau đây, chưa phải là văn hoá, nhưng chính những cái “dôi ra”, “sự tâm phục” trong tôi đã làm cho những điều tôi mắt thấy, tai nghe trong chuyên đi đã trở thành cái chứa văn hoá. Tại Mỹ, việc quản trị kinh doanh của bản thân nội bộ từng ĐCTC đã “có tiếng” là rất minh bạch và hết sức chuyên nghiệp. “Tin lành đồn xa” này đã theo tôi đến Mỹ. Quả không sai. Cụ thể là việc kinh doanh của một Ngân hàng đa năng tại Mỹ mà tôi quan sát được thì thấy
  3. nó khác xa so với Việt nam và cũng khác nhiều so với Hồng Kông – Theo đó, ở Mỹ có thể nhìn thấy và chứng kiến rất nhiều mô hình Ngân hàng qui mô vừa và trung bình chuyên doanh chỉ một vài, hoặc một số sản phẩm như loại Ngân hàng chuyên nhận tiền gửi và thanh toán, loại Ngân hàng chuyên cấp tín dụng và thanh toán, loại Ngân hàng chuyên nhận tiền gửi tiết kiệm và bán buôn vốn cho Công ty đầu tư bất động sản v.v nhưng nếu cứ có từ 2 sản phẩm trở lên thì việc hạch toán giữa chúng là hạch toán hoàn toàn độc lập – Lỗ, lãi, doanh thu, tiền lương, thu nhập...giữa các bộ phận trong cùng một Ngân hàng là không giống nhau - Không “góp gạo thổi cơm chung” rồi cùng ngồi ăn một nồi theo kiểu cơ chế “bình quân chủ nghĩa” như ở Việt nam. Nếu là Tập đoàn tài chính lớn thì tính độc lập giữa các ngân hàng thành viên hay Định chế tài chính phi Ngân hàng thành viên trong Tập đoàn càng cao. Tập Đoàn City Bank là một ví dụ - Độc lập ở mức là các Pháp nhân độc lập, trừ việc “đội chung” một Lôgô Tập Đoàn và cùng có quyền lợi hoặc nghĩa vụ “nặng”, “nhẹ” khác nhau đối với Công ty mẹ. Trái lại, ở Hồng Kông, có thể nhìn thấy cùng một lúc rất nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính và dịch vụ Ngân hàng khác nhau được cung ứng dưới “cùng một mái nhà” của một Ngân hàng kinh doanh đa năng. Nhưng cũng tương đối giống Mỹ ở một nội dung là việc tổ chức hạch toán độc lập giữa các sản phẩm khác nhau, bao gồm cả việc “tiêu thụ” hàng hoá lẫn cho nhau trong cùng một Ngân hàng. Ví dụ: Phòng Đại lý phát hành chứng khoán cho doanh nghiệp có thể bán chứng khoán cho Phòng kinh doanh chứng khoán (Ngân hàng đầu tư) hoặc Phòng đầu tư mạo hiểm; Phòng huy động tiền gửi có thể vừa tự đầu tư tín dụng, vừa bán vốn cho cho Phòng chuyên đầu tư tín dụng hoặc Phòng đầu tư bất động sản; Phòng bảo hiểm có thể bán vốn cho Phòng Ngân hàng bán lẻ v.v Việc mua, bán nói trên là hoàn toàn sòng phẳng theo nguyên tắc thị trường nhưng lại được diễn ra trong môi trường hiểu biết lẫn nhau và giảm được rất nhiều thủ tục cũng như chi phí hành chính...vì chúng được diễn ra “trong một mái nhà” trước khi “các bên” truyền tải hàng hoá cuối cùng lên sàn hay ra bên ngoài cho những khách hàng của mình – Vốn liếng, lỗ, lãi tiền lương và thu nhập v.v giữa các Phòng khác nhau trong cùng một Ngân hàng do đó cũng không giống nhau – Qui mô tuy rất “hoành tráng”, “mái nhà chung” tuy rất lớn đến mức xuyên quốc gia như Ngân hàng HSBC...nhưng nghiệp vụ kinh doanh lại rất thống nhất (vì có cùng một bộ não chỉ huy), rất đơn giản và mang tính chuyên nghiệp cao...là đặc trưng của nhiều Ngân hàng ở Hông Kông. Vậy là, dù tôi có thể quyên đi rất nhiều con số, con người hay địa danh cụ thể nơi đóng trụ sở chính của các NHTM ở những nơi tôi đến, nhưng không sao quyên được cung cách “làm, ăn” minh bạch và mang tính chuyên nghiệp rất cao trong chính những Định chế tài chính đa năng của họ! Đó là văn hoá kinh doanh đã được “dôi ra” từ công việc, từ phong thái, từ qui tắc...hoạt động kinh doanh của những Định chế tài chính mà Đoàn chúng tôi đã đến “xem” tận nơi để rồi “tâm phục” và ghi dấu ấn đẹp đẽ về nó ở mọi nơi. Vậy thông điệp nào cho những “nỗ lực” xây dựng văn hoá ở các NHTM của Việt nam? Lời khuyên chung thì có vẻ dễ hơn, nhưng lời khuyên riêng cho “từng Bác” thì phải “vào ở nhà Bác” một thời gian “em” mới có thể “quân sư” giúp Bác được chút ít! Văn hoá xem trọng cái cụ thể để làm nguồn cội cho tư duy. Tuy không ai cân, đo, đong, đếm được nó nhưng cũng không thể có cái gọi là văn hoá doanh nghiệp chung chung cho mọi doanh nghiệp cũng như không thể có “nền văn hoá” chung chung cho mọi dân tộc vậy – Cũng là “bó lúa” biểu trưng của khối Asean, nhưng cứ mỗi lần kết nạp thêm một quốc gia là “bó lúa” ấy lại được bổ sung thêm 1 nhánh chứ không phải chỉ “to ra” chung chung để đại diện biểu trưng cho tất cả các nước (số “ông” sao nhiều dần lên ở biểu trưng liên minh tiền tệ EU cũng vậy). Dù sao, cách tiếp cận đến khái niệm văn hoá, hoặc “xem người mà ngẫm đến ta” v.v vẫn là có thể và quá bổ ích cho các nỗ lực làm giàu bản sắc văn hoá riêng có của từng Doanh nghiệp nói chung và từng NHTM VN nói riêng. Những dòng tản mạn trên đây cũng chỉ hy vọng đưa ra những thông điệp “phải ai nấy hưởng” như vậy! Những gợi ý dưới đây có thể tiến gần hơn một chút đến nội hàm “xây dựng văn hoá” của các NHTM VN - Để “xây dựng” văn hoá kinh doanh của mỗi NHTM VN trong bối cảnh hậu WTO, tôi cho rằng:Từng NHTM phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển của Ngân hàng của mình trong trung và dài hạn đến 2020 theo các quá trình: hoàn thiện các Modull quản lý – Cổ phần hoá - Tập đoàn hoá và tiến tới Siêu thị hoá...song mỗi NH phải tạo được sắc thái, phong thái và cách tiếp cận thị trường riêng mang “màu sắc” của mình. Muốn vậy, cần tập trung sự quan tâm đặc biệt của HĐQT vào việc chỉ đạo xây dựng các bộ qui chế hay qui tắc thống nhất trong toàn hệ thống riêng của Ngân hàng mình. Các chuẩn mực này phải toàn diện, bao
  4. gồm các các qui tắc: Về phương thức tổ chức cung ứng dịch vụ cho từng nhóm sản phẩm; Về phong thái giao tiếp riêng; Về Logo và các hình thức kiểu dáng bài trí công sở, kiểu dáng trang phục...gắn với Logo; Về khánh tiết, Hội họp hàng năm cho từng cấp, từng qui mô; Về hoàn thiện và quản lý các ấn phẩm, mẫu biểu phát ra thống nhất toàn hệ thống; Về nguyên tắc “chiêu hiền đãi sỹ”, sử dụng và trọng dụng nhân tài nói riêng và khích lệ tập thể người lao động có kiến thức, có tính chuyên nghiệp cao và thống nhất nói chung – Một NH không thể kinh doanh một cách có văn hoá nếu người lao động ở bất kỳ bộ phận nào đó có trình độ quá thấp và lạc lõng với NH. Mỗi NH phải có chủ thuyết về dùng người theo cách hấp dẫn riêng (không nhất thiết chỉ bằng cách trả nhiều tiền lương.?.); Về hoàn thiện, quản lý và hoạt động làm giàu Phòng truyền thống của Ngân hàng mình và về xây dựng bộ qui tắc thống nhất phong cách ứng xử, phương châm đối ngoại, hội nhập thích ứng với từng NHTM VN. Toàn Ngân hàng cụ thể nào đó hãy thống nhất “sống”, “kinh doanh” và “hành xử” theo đúng các qui tắc của mình một cách bền bỉ và sáng tạo theo thời gian thì tự nhiên bản sắc của NH đó sẽ dần hình thành, thăng hoa, “hữu xạ” và sự dôi ra ấy sẽ góp phần làm cho NH trở nên giàu có vững chắc. Một phần giá trị dôi ra cũng sẽ tạo thành một bộ phận quan trọng trong giá trị thương hiệu của Ngân hàng! Tóm lại: gọi là “xây dựng văn hoá kinh doanh” của mỗi NHTM VN nhưng thực chất phải coi là xây dựng những cái “chứa”, những cái vật chất “căn bản” để từ đó văn hoá tự nó thăng hoa. Văn hoá không thể nhờ “hô khẩu hiệu” mà có được, càng không thể ra lệnh cho việc xây dựng văn hoá để có ngay văn hoá trong “một sớm, một chiều” được. Văn hoá cũng không dễ dàng có được “ngay sau khi xây dựng xong” các bộ qui tắc, thậm chí cũng không dễ có được ngay sau khi xây xong toà “nhà truyền thống” nhưng chỉ với những hiện vật nghèo nàn và “vô hồn” cho dù ngôi nhà truyền thống đó có “vô cùng hoành tráng” cũng vô nghĩa. Các bộ qui tắc hay nhà truyền thống loại hoàn hảo thì tự nó cũng không phải là văn hoá, nhưng đưa được nó vào cuộc sống và vận hành hoàn hảo chúng thì cùng với thời gian và sự kiểm nghiệm của thực tế, chúng sẽ trở thành “nền”, thành cái “căn bản” để từ đó sẽ có cái dôi ra và “thăng hoa” làm giàu văn hoá cho mỗi NHTM VN thời hậu WTO. Admin (Theo SBV

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Rủi ro tại các Ngân hàng Thương mại khi thực hiện chính sách kích cầu kinh tế qua hỗ trợ lãi suất và giải pháp

Bài viết "Rủi ro tại các Ngân hàng Thương mại khi thực hiện chính sách kích cầu kinh tế qua hỗ trợ lãi suất và giải pháp" giới thiệu tổng quan về chính sách kích cầu qua lãi suất, nhận định về hiệu quả của chính sách, đồng thời phân tích những rào cản và rủi ro của chính sách kích cầu qua lãi suất đối với các NHTM, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để hạn chế rủi ro các NHTM.


Một số vấn đề về huy động vốn của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Ngân hàng thương mại vừa có chức năng là trung gian tài chính, trung gian thanh toán đồng thời ngân hàng thương mại cũng có chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Với chức năng cơ bản này trong những năm gần đây Ngân hàng Thương mại ngày càng đạt kết quả tốt hơn, tuy nhiên trong thời gian tới Ngân hàng Thương mại cần giải quyết tốt một số vấn đề sau: Ban hành lãi suất trần huy động; tăng cường công tác kiểm tra giám sát; thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao cả về lý thuyết lẫn thực tế nghiệp vụ kinh doanh; phát triển thêm nhiều sản phẩm huy động mới nhằm thu hút khách hàng; áp dụng nhiều công nghệ hiện đại… tất cả các hoạt động trên hướng tới một hệ thống ngân hàng lành mạnh và có hiệu quả hơn.


Bank Failures in Mature Economies

The government recognized most of its financial liabilities towards private depositors and committed itself to paying all the frozen deposits by 2011. Nevertheless, this law was, from the very beginning, full of technical and practical difficulties. It assumed the debt conversion into bonds on a voluntary basis. The bonds were issued in paper format and thus were liable to forgery and theft. The non-electronic format of bonds proved to be complicated for trading and clearing procedures as well. Finally, the law was financially based on GDP growth levels that were unattainable at that time. This ambitious but unrealistic attempt to pay frozen private deposits turned out to be...


Thuyết trình Phân tích, nhận định xu hướng phát triển của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới

Nội dung "Thuyết trình Phân tích, nhận định xu hướng phát triển của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới" trình bày: Những khó khăn, thách thức và cơ hội mà NHTM Việt Nam phải đối mặt trong thời gian tới, những xu hướng của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới, từ đó đưa ra kết luận.


LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Tham khảo tài liệu 'luật các tổ chức tín dụng', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Một số bài tập tự luận nghiệp vụ ngoại thương

Công ty lắp máy điện nước có nhu cầu vay để thực hiện một hợp đồng nhận m ua và lắp đặt trạm biến áp theo phương thức cho vay từng lần. Tổng giá trị hợp đồng khoán gọn trị gi á 5 tỷ (giả thiết hợp đồng đảm bảo nguồn thanh toán chắc chắn), thời gian thực hiện hợp đồng từ 1/4/200X đến 1/10/200X.


Bài giảng về CHƯƠNG III: NGÂN HÀNG VÀ CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG

Lý luận chung Ngân hàng trung ương Ngân hàng thương mại Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng I. Lý luận chung 1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng a. Sự ra đời của ngân hàng b. Sự phát triển hệ thống ngân hàng detail detail 2. Các hoạt động cơ bản của các ngân hàng a. Ngân hàng thương mại b. Ngân hàng trung ương detail detail 3 II. Ngân hàng trung ương 1. Định nghĩa 2. Lý do ra đời của ngân hàng trung ương 3. Vai trò của ngân hàng trung ương detail detail detail 4 III. Ngân hàng...


Lecture Principles of money, banking, and financial markets (12th edition): Chapter 9 - Ritter, Silber, Udell

Chapter 9 - Demystifying derivatives. In this chapter you will learn to visualize the structure of futures markets, describe how future contracts can be used to diversify portfolios, understand options contracts and their use in diversifying portfolios, recognize swap contracts and see their ability to limit interest rate risk.


Tài liệu cán bộ tín dụng cần biết part 4

hủ tịch Hội đồng thành viờn hoặc Giỏm đốc hoặc Tổng giỏm đốc là người đại diện theo phỏp luật của cụng ty theo quy định tại Điều lệ cụng ty. Người đại diện theo phỏp luật của cụng ty phải thường trỳ tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trờn ba mươi ngày thỡ phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khỏc theo quy định tại Điều lệ cụng ty để thực hiện cỏc quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo phỏp luật của cụng ty....


Bài giảng chuyên đề Sử dụng các công cụ phái sinh vào phòng ngừa rủi ro tỷ giá - Bài 1

Bài giảng Sử dụng các công cụ phái sinh vào phòng ngừa rủi ro tỷ giá - Bài 1: Tổng quan về thị trường ngoại hối. Nội dung cụ thể trong chương này gồm có: Các khái niệm, các đặc điểm, các chức năng của FX, những thành viên tham gia, tổ chức thị trường, phân loại FX. Mời các bạn tham khảo.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Kiến thức cơ bản về vàng
  • 21/05/2010
  • 43.724
  • 745
Quản lý tiền mặt
  • 24/12/2009
  • 17.258
  • 907

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu