Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Tài liệu Truyền thông đa phương tiện

Mời các bạn tham khảo "Tài liệu Truyền thông đa phương tiện". Tài liệu môn học Truyền thông đa phương tiện gồm 5 chương, giới thiệu chung về truyền thông đa phương tiện, ứng dụng của đa phương tiện trong đời sống, các yêu cầu của hệ thống đa phương tiện và xây dựng ứng dụng đa phương tiện.



Đánh giá tài liệu

4.8 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Tài liệu Truyền thông đa phương tiện Tài liệu Truyền thông đa phương tiện Truyền thông đa phương tiện, Tài liệu Truyền thông đa phương tiện, Đa phương tiện, Hệ thống đa phương tiện, Xây dựng ứng dụng đa phương tiện, Truyền thông PR
4.8 5 1308
  • 5 - Rất hữu ích 1.017

  • 4 - Tốt 291

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. MỤC LỤC Trang MỤC LỤC................................................................................................................................................1 Trang ........................................................................................................................................................1 Lời nói đầu ...............................................................................................................................................2 CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN..............................3 1.1. Thông tin trong đời sống hiện đại.................................................................................................3 1.2. Các khái niệm cơ bản....................................................................................................................3 1.2.1. Thế nào là phương tiện? ........................................................................................................3 1.2.2. Truyền thông đa phương tiện là gì?.......................................................................................4 1.2.3. Thế nào là một hệ truyền thông đa phương tiện? ..................................................................4 1.2.4. Tính tương tác của các chương trình truyền thông đa phương tiện .......................................4 1.2.5. Phương tiện mới ....................................................................................................................5 1.3. Thông tin đa lớp, đa chiều ............................................................................................................6 1.4. Các chuẩn Mutimedia thông dụng ................................................................................................7 1.4.1. Chuẩn dành cho kiến trúc tài liệu ..........................................................................................7 1.4.2. Chuẩn dành cho tương tác .....................................................................................................8 1.4.3. Framework và mô hình tham chiếu .......................................................................................9 CHƯƠNG II. ỨNG DỤNG CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG ĐỜI SỐNG.....................................10 2.1. Truyền thông đa phương tiện trong đào tạo và giáo dục. ...........................................................10 2.1.1. giới thiệu chung ...................................................................................................................10 2.1.2. Phát triển E-learning trong đào tạo từ xa.............................................................................12 2.1.3. Cấu trúc của một hệ thống E- learning điển hình ................................................................18 2.1.4. Kết luận ...............................................................................................................................21 2.2. Truyền thông đa phương tiện trong thông tin và bán hàng.........................................................23 2.3. Truyền thông đa phương tiện trong y học...................................................................................25 2.4. Truyền thông đa phương tiện trong gia đình ..............................................................................29 CHƯƠNG III. CÁC YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG ĐA PHƯƠNG TIỆN ...........................................31 3.1. Yêu cầu của ứng dụng đa phương tiện trên máy đơn .................................................................31 3.2. Chất lượng dịch vụ trong các hệ thống Multimedia....................................................................32 CHƯƠNG IV. MỘT SỐ DỮ LIỆU ĐA PHƯƠNG TIỆN.....................................................................36 4.1. Ảnh .............................................................................................................................................36 4.1.1. Ảnh và ứng dụng .................................................................................................................36 4.1.2. Thu ảnh................................................................................................................................37 4.1.3. Kĩ thuật nén .........................................................................................................................37 4.1.3. Nén Fractal ..........................................................................................................................39 4.2. Âm thanh.....................................................................................................................................41 4.2.1. Các ứng dụng âm thanh .......................................................................................................41 4.2.3. Kĩ thuật nén .........................................................................................................................42 4.3. Video...........................................................................................................................................43 4.3. 1. Các ứng dụng video...........................................................................................................43 4.3.2. Nén video.............................................................................................................................43 CHƯƠNG V. XÂY DỰNG ỨNG DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN ..........................................................49 5.1. Các yêu khi xây dựng một ứng dụng đa phương tiện .................................................................49 5.2. Các thành viên tham gia dự án....................................................................................................49 5.3. Các bước xây dựng ứng dụng đa phương tiện ............................................................................50 5.3.1. Xác định đối tượng người xem............................................................................................51 5.3.2. Sơ đồ thiết kế của các đối tượng multimedia ......................................................................52 5.3.3. Thiết kế và viết kịch bản......................................................................................................54 5.3.4. Chọn các công cụ, tạo ra thông tin và sáng tạo ...................................................................55 5.3.5. Kiểm thử ..............................................................................................................................57 5.3.6. Phân phối thông tin truyền thông đa phương tiện ...............................................................58
  2. Lời Nói Đầu Trong vòng vài năm trở lại dây chúng ta nghe nói rất nhiều dấn từ multimedia. Vậy, một cách chính xác, multimedia là gì? Từ lâu thuật ngữ media dùng để chỉ các thực thể như là chiếc máy truyền th ảnh. máy truyền hình, nghĩa là không phải nói đến một vật mang thông tin đơn thuần, mà là một hệ thống tương đối phức tạp, có cơ cấu, có đối tượng nhắm tới. Loại truyền thông trực tiếp, từ miệng người này đến tai người kia, không sử dụng thành phần (media) trung gian. Không khí truyền các chấn động âm thanh không phải là một media. mà chỉ là một vật mang vật là làm công việc tái thông tin. Nếu dùng một máy cassette audio để ghi lời của người nói, nội dung trong cassette không thể đến người nghe bằng cách truy xuất trực tiếp, phải nhờ đến một hệ thống vật lý khác: máy đọc cassette. Nếu để rời, cassette này chỉ được xem là một vật mang. Nếu gộp cùng máy đọc cassette. thì đấy là một hệ thống truyền thông, một media. Media có mục đích là phát, truyền thông tin. không đòi hỏi chỉ bằng cách nghe và nhìn. Một tờ giấy in chữ nổi cho người mù. đòi hỏi sự sờ mó. Một tấm chức postalc có nhạc và mùi hương, đòi hỏi cùng lúc sự nhìn, nghe và ngửi. Bằng chừng ấy, chúng ta có thể nói đến một sự truyền thông đa phương tiện. Và như vật, từ multimedia xuất hiện kèm với nhiều d ảnh từ chung khác: centre de ressource multimedia (trung tâm tài nguyên đa phương tiện), post de formation multimedia (trạm đào tạo đa phương tiện), multimedia training (huấn luyện bằng đa phương tiện), multimedia personal computer MDC (máy tính cá nhân với đa phương tiện), digital multimedia system (hệ thống đa phương tiện dạng số...). Trong nội dung môn học này chúng ta sẽ nghiên cứu các khái niệm cơ bản về Multimedia. hiểu được các ứng dụng rỗng rãi của Multimedia trong đời sống: các yêu cầu và xu hướng phát triển ứng dụng hiện nay của Multimedia, các cấu trúc thiết kế ứng dụng và các bước cần thiết để xây dựng ứng dụng đa phương tiện, nắm bắt được một số công cụ có sẵn trong thực tế để thiết kế các ứng dụng Multimedia.
  3. CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN. 1.1. Thông tin trong đời sống hiện đại Khi công nghệ phát triển, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn. Trong thời đại của thông tin tốc độ cao, chúng ta mong muốn nhận được các thông tin ngay tức thì và đồng thời, thông qua nhiều cách thức khác nhau. Nhu cầu này giải thích tại sao các kênh tin tức trên truyền hình thường xuyên có các dòng chữ chạy phía dưới màn hình trong khi phát th ảnh viên nói và các hình ảnh đã thâu băng trước đó trôi qua. Nhu cầu đó giải thích tại sao các website ngày nay ngoài nội dung và các siêu liên kết còn gồm thêm các hình ảnh đồ hoạ, hoạt ảnh và âm thanh. Những nhu cầu này đã mở rộng cách chúng ta làm việc, học tập và giải trí. Nói một cách đơn giản, các thông tin “một chiều” không còn phù hợp với hầu hết chúng ta nữa. Thông tin, các bài học, trò chơi và mua sắm sẽ lôi cuốn hơn là khiến chúng ta chú ý hơn nếu chúng ta có thể tiếp cận và sắp xếp chúng trong các cách thức khác nhau, thậm chí theo một ý thích nào đó mà chúng ta chợt nảy ra. Những nhu cầu này và các tiến bộ về công nghệ đã tương quan mật thiết với nhau để đưa nghệ thuật và khoa học truyền thông đa phương tiện lên một tầm cao mới, dẫn đến kết quả là các sản phẩm có khả năng đan kết văn bản, hình ảnh đồ hoạ, hoạt ảnh, âm thanh và video. Khi chúng ta sử dụng các sản phẩm này - cho dù là một bộ bách khoa toàn thư trên web hay một trò chơi video trên CD - thì có nghĩa là chúng ta không đơn thuần chỉ làm việc với một chương trình máy tính. Chúng ta đã trải nghiệm qua một sự kiện truyền thông đa phương tiện. Các sản phẩm truyền thông đa phương tiện ngày nay đều thu hút nhiều giác quan cùng một lúc và đáp ứng với nhu cầu thay đổi của chúng ta với tốc độ ngày càng gia tăng. Phần dưới đây sẽ giới thiệu cho các bạn các khái niệm cơ bản về truyền thông đa phương tiện và giải thích cách hoạt động của các yếu tố truyền thông đa phương tiện. 1.2. Các khái niệm cơ bản 1.2.1. Thế nào là phương tiện? Trong suốt chiều dài lịch sứ, thông tin đã được chuyển tải thông qua một phương tiện duy nhất. Âm thanh, chẳng hạn như giọng nói của con người, chính là một loại phương tiện đó và qua nhiều thế kỉ trước khi chữ viết được sử dụng rộng rãi thì nói chuyện là một cách thức chủ yếu dễ trao đổi thông tin. Sau này con người bắt đầu kể chuyện và để lại thông tin về cuộc sống của mình thông qua các hình vẽ, các bức tr ảnh. Sự ra đời của chữ viết đã cho con người một phương tiện khác nữa để diễn đạt ý nghĩ của mình. Ngày nay, con người thường sử dụng lời nói, âm thanh, âm nhạc, văn bản, hình ảnh, đồ hoạ, hoạt ảnh và video để truyền tải thông tin. Những thứ này là tất cả các loại phương tiện khác nhau (thuật ngữ media là số
  4. nhiều của medium) và mỗi phương tiện thường được dùng để biểu đạt các loại thông tin nhất định. Như vậy trong ý nghĩa này, phương tiện chỉ đơn giản là một cách thức dễ truyền đạt thông tin. 1.2.2. Truyền thông đa phương tiện là gì? Kể từ lâu con người đã khám phá ra rằng các thông điệp sẽ trở nên tác động hơn (có nghĩa là người nghe sẽ hiểu và nhớ chúng dễ hơn) khi chúng được biểu đạt thông qua một kết hợp của các phương tiện khác nhau. Loại kết hợp này chính là ý nghĩa của thuật ngữ truyền thông đa phương tiện. Truyền thông đa phương tiện là sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện vào cùng một thời điểm Ví dụ: • Giáo viên sử dụng bảng đen trong lớp học để viết các lời giải thích cho bài giảng của họ. • Sử dụng phim ảnh, truyền hình kết hợp nhiều loại phương tiện (âm thanh, video, hoạt ảnh, hình ảnh tĩnh và chữ) để tạo ra nhiều loại thông điệp khác nhau có khả năng cung cấp thông tin và sự tiêu khiển cho mọi người theo những cách thức độc nhất là đầy ý nghĩa. 1.2.3. Thế nào là một hệ truyền thông đa phương tiện? Các hệ thống thông tin đa phương tiện dùng nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau (văn bản, dữ liệu ghi, dữ liệu số. đồ hoạ, hình ảnh, âm thanh, video..). Nhiều ứng dụng là đa phương tiện theo ý nghĩa là chúng dùng nhiều dạng trên. Tuy nhiên, thuật ngữ "đa phương tiện” thường được dùng để mô tả các hệ thống phức tạp hơn. nhất là các hệ thống hỗ trợ hình ảnh và âm thanh. Các thông tin mới chủ yếu được tạo ra bên ngoài máy tính. Lời nói, nhạc, hình ảnh và phim được chuyển từ dạng Analog (tương tự) sang Digital (số) trước khi được dùng trong các ứng dụng trong máy tính. Ngược lại, với văn bản, đồ hoạ và thậm chí phim hoạt hình đều được tạo trên máy tính và vì vậy nó chỉ đáp ứng những mục tiêu nhất định, không thể mở rộng ứng dụng được. Một hệ nền máy tính, mạng thông tin hay dụng cụ phần mềm là một hệ đa phương tiện nếu nó hỗ trợ ứng dụng tương tác cho ít nhất là một trong các dạng thông tin sau. không kể văn bản và đồ hoạ: âm thanh, hình ảnh tĩnh hoặc phim video chuyển động. 1.2.4. Tính tương tác của các chương trình truyền thông đa phương tiện Ngày nay, công nghệ máy tính đã đưa các sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên PC tiến thêm một bước xa hơn. Không giống như sách, phim hay chương trình truyền hình: máy tính có thể nhận dữ liệu nhập từ người sử dụng. do vậy nó có thể chứa các sự kiện truyền thông đa phương tiện tương tác có bao gồm vai trò người sử dụng. Thuật ngữ tương tác được hiểu là người sử dụng và chương trình phản ứng qua lại với nhau. Chương trình liên tục cung cấp cho người sử dụng một tập các lựa chọn để cho người sử
  5. dụng chọn, nhằm điều khiển các hoạt động của chương trình. Và thậm chí kiểm soát những gì họ thấy và nghe được. Bằng cách nhận vào dữ liệu nhập vào từ người sử dụng, các phương tiện tương tác tạo ra một vòng lặp phản hồi, nói chung hoạt động như sau: • Bắt đầu vòng lặp người sử dụng kích hoạt chương trình tương tác và chọn thông tin cần xem. • Chương trình đáp ứng lại bằng cách hiển thị ra cho người sử dụng thông tin với các lựa chọn. • Người sử dụng đáp ứng bằng cách chọn một lựa chọn. chẳng hạn như di chuyển đến một nơi khác trong chương trình hoặc chọn thông tin khác. • Chương trình đáp ứng với lựa chọn của người sử dụng và thường đưa ra một tập các tuỳ chọn mới. • Quá trình tiếp diễn - đôi khi nhịp độ rất nhanh và phức tạp như trong nhiều trò chơi máy tính: cho tới khi người sử dụng ngừng chương trình. Như vậy, các chương trình truytền thông đa phương tiện được mô tả là có tính tương tác nếu chúng nhận dữ liệu nhập từ người sử dụng và cho phép người sử dụng điều khiển dòng chảy thông tin hoặc hoạt động của chương trình. 1.2.5. Phương tiện mới Tương tác không chỉ liên quan đến một máy tính là một con chuột. Phương tiện mới (một thuật ngữ bao gồm tất cả các loại công nghệ truyền thông đa phương tiện tương tác) có thể kết hợp nhiều công nghệ truyền thông khác nhau chẳng hạn như truyền hình cáp, các dường dây điện thoại. các mạng riêng, mạng Internet và các công nghệ khác. Phương tiện mới được tạo ra như một sự hội tụ nhiều loại công nghệ, cho phép các cá nhân riêng le cũng như các tổ chức lớn giao tiếp và truyền đạt thông tin bằng cách sử dụng máy tính và các hệ thống truyền thông. Phần cốt lõi của phương tiện mới là một khái niệm được gọi là sự hội tụ kỹ thuật số. Người ta dùng các máy tính để tạo ra các loại thông tin kỹ thuật số khác nhau, từ loại chỉ thuần là văn bản đến thông tin video. Tất cả những loại thông tin kỹ thuật số này có thể chuyển đến người sử dụng theo cùng một con đường - có thể là qua một đĩa CD-ROM. một đường dây truyền hình cáp hay qua đường vệ tinh. Thay vì phải chuyền tải phim ảnh trong các trong các băng hình hay băng video, chuyển tải âm nhạc trên các băng nhạc hay đi và compact và chuyển tải sách bằng các trang in giờ đây ta có thể chuyển tải các loại thông tin khác nhau đến các máy tính hay hộp truyền hình cáp với cùng một cách thức. Do vậy. ta có một tập hợp các thông tin kết hợp với nhau và hội tụ vào một luồng thông tin kỹ thuật số. Đối với người sử dụng. công nghệ này có nghĩa là thông tin truyền thông đa phương tiện có thể được lưu trữ và chuyển tải theo nhiều cách. Nếu bạn sử dụng PC. thông tin truyền thông đa phương tiện có thể có trong một đĩa compact, một đĩaVCD, đĩa cứng, mạnt Internet hay một dịch vụ trực tuyến. Nếu bạn sử dụng các đặc tính thu tín hiệu truyền hình trong Windows 98. Windows 2000 bạn còn có thể nhận được các thông tin như trên ở dạng thức chương trình phát hình được chuyển đến màn hình của bạn. Nếu bạn sử dụng một dịch vụ chẳng hạn như WebTV, bạn có thể sử dụng đồng thời các chương trình phát hình và thông tin
  6. lnternet. Tuỳ theo công nghệ được dùng, một số các sự kiện truyền thông đa phương tiện là những ứng dụng một người sử dụng và chạy đơn độc chẳng hạn như một quyển sách tham khảo hay một chương trình dạy học trên CD-ROM. Các sự kiện khác có thể liên quan nhiều hơn đến một người sử dụng. Ví dụ như các trò chơi nhiều người có thể được truy xuất thông qua một mạng cục bộ hay mạng Internet, các cuộc hội thảo video cho phép những người tham gia nhìn thấy nhau và chia sẻ dữ liệu trong thời gian thực thông qua đường dây điện thoại hay các kết nối vệ tinh hoặc các chương trình truyền hình tương tác nhận các dữ liệu người sử dụng thông qua một Website hay một phòng tán gẫu trên Web. 1.3. Thông tin đa lớp, đa chiều Các nhà phát triển truyền thông đa phương tiện liên tục cố gắng để tìm ra cách thức làm cho sản phẩm của họ lôi cuốn người sử dụng hơn cho dù sản phẩm đó là một trò chơi hành động nhịp độ cao hay một bản hướng dẫn trên dĩa hoặc một website thương mại điện tử. Một chiến lược cơ bản trong việc phát triển thông tin truyền thông đa phương tiện là cung cấp thông tin được sắp thành lớp và thông tin đa chiều. Yêu cầu này có nghĩa là sản phẩm phải cung cấp cho người sử dụng các mảnh thông tin một cách đồng thời, chẳng hạn như một hình ảnh 3 chiều đang quay tròn của một mô tơ, một đoạn âm thanh mô tả các chức năng của nó và các hộp văn bản hiển thị tạm thời về các thông tin thêm khi người sử dụng trỏ chuột vào các phần nhất định của hình mô tơ. Trong một cách thức trình bày đa chiều, người sử dụng có cơ hội để trải nghiệm các thông tin từ nhiều góc độ khác nhau, ví dụ một người sử dụng nào đó có thể sẽ chỉ xem phần minh hoạ sống động của một dự án tạo cảnh quan, trong khi người sử dụng khác sẽ chọn đọc đoạn văn bản mô ta. Một trong những cách để khiến cho những văn bản thuần và hình ảnh lôi cuốn người xem là thêm vào các thông tin có yếu tố thời gian chẳng hạn như âm thanh, hoạt hoạ và video. Tuy nhiên, điều quan trọng là ở chỗ các phương tiện thông tin bổ sung không chỉ đơn thuần là lặp lại vai trò của các nội dung và hình ảnh tĩnh. Thực vậy, việc theo dõi một đoạn video chỉ đơn thuần là đọc các đoạn văn trên màn hình là rất nhàm chán. Nhưng nếu cùng với đoạn văn bản đó là phần video hiển thị kèm theo để diễn tả thì nội dung phần văn bản sẽ thú vị hơn rất nhiều. Ngày càng nhiều các tư liệu giáo dục, bao gồm các cuốn sách giáo khoa, và sách bách khoa toàn thư đang được phát triển thành các sản phẩm truyền thông đa phương tiện. Những sản phẩm này có sử dụng âm thanh: hoạt ảnh và đoạn trích video để làm cho phần nội dung sống động hơn. Điều cơ bản là ta phải biết tập trung vào nội dung của chương trình. Đó là cái mà người sử dụng cần. Ví dụ, sức lôi cuốn của một bộ phim hoạt hình chính là có cốt truyện hấp dẫn, cách xây dựng nhân vật tốt. Tương tự, các bộ phim hành động sử dụng công nghệ hoạt ảnh và đồ hoạ máy tính để cải tiến tạo ra các đối tượng hoặc các môi trường trên màn hình chẳng hạn như chuỗi giấc mơ trong phim The Matrix (Ma trận) sẽ kém hấp dẫn nếu cốt truyện tẻ nhạt.
  7. 1.4. Các chuẩn Mutimedia thông dụng Cần phải đặt ra chuẩn cho tất cả mọi cấp đội của hệ đa phương tiện, từ yêu cầu vật lý về mạng cho đến thiết kế giao diện người dùng. Có thể phân loại chuẩn đa phương tiện hiện thời thành chuẩn liên quan đến nội dung của tài liệu (các chuẩn nén dữ liệu), chuẩn kiểm soát cấu trúc. và chuẩn tương tác. 1.4.1. Chuẩn dành cho kiến trúc tài liệu 1.4.1.1. Ngôn ngữ mô tả cấu trúc và nội dung tài liệu Ngôn ngữ mô tả cấu trúc và nội dung tài liệu (Standard Generalised Markup Language - SGML) liên quan tới nội dung tài liệu và cấu trúc hợp lý về các khía cạnh như đầu đề và đoạn văn SGML, căn cứ trên quan điểm về định nghĩa dạng tài liệu (DTD). Những định nghĩa này được sử dụng để quán lý việc tạo ra những tài liệu không chỉ sử dụng giới hạn ở những tài liệu có thể in mà còn có thể được sử dụng cho những tài liệu đa phương tiện trên đĩa Compact. SGML đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc tách thông tin khỏi hình thức trình bày, do đó tạo ra các hình thức trình bày khác nhau của cùng một thông tin. 1.4.1.2. Kiến trúc tài liệu mở (ODA) Bao gồm hình thức trình bày tài liệu và mở rộng phạm vi nội dung. ODA sử dụng phương pháp tương tự SGML nhưng nhấn mạnh đến trao đổi mờ. Được sử dụng để tạo ra các lớp tài liệu có thể truyền tải giữa các hệ thống máy tính khác nhau mà không làm mất thông tin. ISO (tổ chức Chuẩn hoá Quốc Tế) và ITU (Chuẩn Hoá Viễn thông của Liên Đoàn Viễn thông Quốc Tế) đã xuất bản ODA dưới dạng lS8613 và T.410 Series Recommendation. Những chuẩn này xác định 3 loại tài liệu ODA: • Tài liệu cấu trúc hợp lý có thể xử lý được (ví dụ: chương, mục, và đoạn bổ xung), cho phép người nhận có thể sửa đổi nội dung. • Tài liệu đã được định dạng trao đổi cấu trúc trình bày dưới dạng chuỗi trang, với thông tin định vị chẳng hạn khu vực dành cho nội dung ký tự và phông chữ. Không thể sửa đổi được và chỉ in ra được. • Tài liệu có thể xử lý đã được định dạng cho phép trao đổi cả cấu trúc hợp lý và cấu trúc trình bày, làm cho chúng linh động hơn. Người dùng có thể in ảnh và hiệu chỉnh trước. ODA hỗ trợ đánh dấu cả cách trình bày và nội dung, kiến trúc tài liệu được tách rời khỏi cấu trúc nội dung. Bảng dưới đây đề cập đến 3 cấu trúc nội dung ký tự, đồ hoạ hình, ảnh. Nội Chuẩn ISO tương quan Chuẩn ITU tương quan dung Ký tự Bộ ký tự được mã hóa dành cho truyền thông đa Ký tự chúa kiến trúc (T.416) phương tiện thông văn bản (IS6937) Bộ ký tự đồ họa mã hóa 8 bit (IS8859) Đồ họa Siêu tập tin đồ họa máy tính (IS8632) Kiến trúc chúa ảnh hình học
  8. hình (T.418) ảnh Kiến trúc chứa ảnh (T.417) Bộ ký tự được mã hoá dành cho truyền thông đa Ký tự chứa kiến trúc phươnt. tiện thông văn bàn (lS6937) Bộ kế tự đồ (T.416) hoạ mã hoá 8 bit (IS8859) Siêu tập tin đồ hoạ máy tính (IS8632) Kiến trúc chứa ảnh hình học (l.4 1 8) Kiến trúc chứa ảnh ! (l 417) 1.4.1.3. Hytime Ngôn ngữ cấu trúc tài liệu căn cứ vào thời gian / siêu phương tiện ra đời tháng 1l/l992. Dùng đê chuẩn hoá một số thiết bị cần thiết trong các ứng dụng siêu phương tiện. đặc biệt là các ứng dụng lập địa chỉ các khu vực tài liệu siêu phương tiện và các đối tượng thông tin đa phương tiện thành phần, bao gồm cả việc kết nối, chỉnh hàng và đồng bộ hoá. Nó không chuẩn hoá các ký hiệu nội dung dữ liệu, mã hoá đối tượng thông tin hay xử lý ứng dụng. Hytime cho phép mã hoá theo dòng tuyến tính một ứng dụng đa phương tiện hoàn hảo bao gồm cấu trúc, liên kết siêu phương tiện, đồng bộ hoá và định giờ. Hytime căn cứ trên ngôn ngữ Standard Getlcrralized Markup (SGML) và sử dụng Abstract Syntax Notation 1 (ASN.l), cho phép biểu diễn các chuỗi bit để trao đổi. Nó bổ sung chuẩn cho các đối tượng đa phương tiện đơn lẻ, chẳng hạn JPG cho ảnh tĩnh, MPEG cho tư liệu audiovisual. 1.4.2. Chuẩn dành cho tương tác • MHIEG: đề cập đến các chủ đề như đồng bộ hoá, bộ nhớ đệm, đối tượng nhập.. nó được thiết kế nhằm đáp ứng yêu cầu của ứng dụng đa phương tiện chạy trên các trạm từ nhiều hãng khác nhau và trao đổi thông tin theo thời gian thực. Những ứng dụng như thế bao gồm nghiên cứu, hợp tác do máy tính hỗ trợ, hệ xuất bản điện tử và các ứng dụng dùng trong giáo dục đào tạo. Chuẩn MHEG được phát triển thành 2 phần: √ Phần 1 đề cập đến ghi chú ASN. 1 √ Phần 2 liên quan tới ghi chú trên căn cứ trên SGML • SMSL: Ngôn ngữ chuẩn biên soạn siêu phương tiện/đa phương tiện (SMSL) được kết hợp từ ISO và ITU, liên quan đến nhóm nghiên cứu SGML và MHEG, ngôn ngữ này phát triển script điều khiển tương tác người dùng với tài liệu siêu phương tiện và đa phương tiện. SMSL được dùng để tạo tính tương thích và tính cử động giữa các hệ của script đa phương tiện.
  9. 1.4.3. Framework và mô hình tham chiếu Như đã biết, đa phương tiện tác động đến nhiều lĩnh vực phát triển ứng dụng khác nhau. Không tồn tại mô hình tham chiếu đơn nào để kết hợp những mảnh này lại với nhau và xác định cách thức chúng giao tiếp nhau. OII đã khởi xướng nghiên cứu trong lĩnh vực này và đưa ra 3 mô hình tham chiếu hiện có: ODP (Xử lý phân tán mở), mô hình tham chiếu Berkom, Framework và mô hình siêu phương tiện/đa phương tiện (MHEG) • Xử lý phân tán mở (ODP): ODP là hoạt động kết hợp ISO và ITU có mục tiêu là thúc đẩy các thành phần hệ phân tán hợp tác với nhau trong môi trường đồng nhất. Các chế độ và chuẩn ứng dụng đã được nâng cấp cần phải tương thích với ứng dụng là phương tiện phân tán. • Mô hình tham chiếu Berkom: Hệ thống truyền thông đa phương tiện thông tin Berkom là dịch vụ cải tiến cho mạng cáp quang. Mô hình này đóng vai trò là nền tảng cho giao diện lập trình ứng dụng. Nó thích hợp cho các ứng dụng đa phương tiện mà có thể di chuyển giữa các hệ khác nhau và cũng hỗ trợ tích hợp các phương tiện khác nhau. Mô hình tham chiếu bao gồm 3 hệ chính: √ Hệ hoạt động cung cấp giao diện mạng cho hệ thống trực tiếp đa phương tiện. √ Hệ truyền thông đa phương tiện thông cung cấp giao diện lưu thông cho dịch vụ từ xa đa phương tiện. √ Hệ ứng dụng chung cung cấp các ứng dụng khác nhau với giao diện trên dịch vụ từ xa đa phương tiện chung. • Framework và mô hình siêu phương tiện/đa phương tiện (MHMF): MHMF kết hợp từ JTC 1 và SC 18, làm nền tảng cho việc chuẩn hoá đa phương tiện hiện tại và tương lai. Và hiện vẫn đang được tiếp tục phát triển.
  10. CHƯƠNG II ỨNG DỤNG CỦA ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG ĐỜI SỐNG Mặc dù các công nghệ truyền thông đa phương tiện trên PC mới chỉ xuất hiện trong một thời gian tương đối ngắn nhưng chúng ta đã xây dựng được rất nhiều ứng dụng khác nhau: Trong gia đình, trường học, tại nơi làm việc và những nơi khác, các chương trình truyền thông đa phương tiện đều là phần tích hợp trong cách thức mà chúng ta dạy và học, cách chúng ta giao tiếp quản lý do ảnh nghiệp và giải trí. Trong chương này chúng ta sẽ tìm hiểu một vài lĩnh vực ứng dụng của công nghệ truyền thông đa phương tiện. 2.1. Truyền thông đa phương tiện trong đào tạo và giáo dục. 2.1.1. giới thiệu chung Trong các trường học ngày nay, các máy tính truyền thông đa phương tiện thông đa phương tiện là một phần không thể thiếu của nhiều lớp học và đưa việc học lên một mức độ tương tác mới. Một hoạt động cải cách chủ yếu trong giáo dục sẽ khuyến khích được cách học tích cực và công tác. Máy tính và truyền thông đa phương tiện sẽ giúp các sinh viên và giảng viên chuyển đổi sang mô hình học tập mới này. Trong lớp học, các phần trình bày trực quan kết hợp giữa hoạt ảnh, video và âm thanh sẽ thúc đẩy các sinh viên trở thành người tham gia tích cực trong quá trình học. Các chương trình truyền thông đa phương tiện tương tác đưa các khái niệm vào cuộc sống và giúp sinh viên tích hợp phần tư duy cốt lõi và các kỹ năng giải quyết vấn đề. Bộ bách khoa toàn thư trên CD-ROM là một ví dụ rõ ràng của một ứng dụng truyền thông đa phương tiện tương tác trong ngành giáo dục. Nếu sinh viên phải viết một báo cáo về một vùng nào đó ở Ai Cập thì họ có thể đọc về lịch sử, địa lý và với một cú nhấp chuột họ có thể thấy các đoạn trích video về sự bận rộn, hối hả trong một thành phố và nghe các đoạn trích của các ngôn ngữ Ai Cập hai bản nhạc địa phương (hình 2.1, 2.2). Kết quả là thông tin đã đi vào cuộc sống và sinh viên thậm chí có thể có các công cụ phần mềm đề cho ra các bản báo cáo của họ trong dạng thức của một bản trình chiếu truyền thông đa phương tiện.
  11. Hình 1.1: Minh hoạ một bài học về Ai Cập Thậm chí trẻ em cũng có thể vừa học vừa vui chơi và chính các sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên CD hay trên Internet là những sản phẩm hàng đầu của loại hoạt động này. Bằng cách sử dụng các nhân vật hoạt hình để dẫn đường. Các trò chơi truyền thông đa phương tiện chăng hạn như Reader Rabbit. MathBlaster, Jumstart và các chương trình khác có thể giúp học sinh nhỏ làm chủ được các kỹ năng cơ bản trong môi trường tương tác thú vị có cung cấp các phản hồi cá nhân. Mạng Internet cũng cung cấp một số các công cụ học tập hữu ích ngoài lớp học. hàng trăm Website hướng về việc học tập cho phép trẻ em tham gia vào các dự án tương tác. câu đố và trò chơi.
  12. • Website www.MaMaMedia.com cho phép trẻ con tạo ra các câu chuyện và câu đố tham gia vào các hoạt động giải quyết vấn đề và chia sẻ các sáng tác của chúng với nhau. • Một số website cung cấp cơ chế học từ xa (distance learning) như: www.thitruong.com.vn....Những site này cho phép học viên tham gia vào các lớp, tương tác với người giảng viên, gửi bài tập, dự án, và hoàn tất các kỳ thi trực tuyến. • Các bộ bách khoa toàn thư trực tuyến: www.enearta.com www.britannica.com www.eneyberpedia.com www.funkandwagnalls.com www.eneyelopedia.com • Các từ điển trực tuyến: www.m-v.com www.onelook.com www.eup.cam.ac.uk/elt/dietionary/ www.notam.uio.no/~hcholm/altlang/... • Các từ điển đồng nghĩa trực tuyến: www.thesaurus.com www.wordsmyth.net www.links.es.emu.edu/lexfn • Công cụ tim kiếm cụm từ: www.shu.ac.uk/webadmin/phrases/go.html • Từ điển các từ viết tắt trong tiếng ảnh: http://www.acronymfinder.com • Một số site cho phép học trên web như: www.vovisoft.com www.quantrimang.com www.aspvn.net www.manguon.com 2.1.2. Phát triển E-learning trong đào tạo từ xa Khoảng 2 năm trở lại đây thuật ngữ E-learning bắt dầu được biết đến tại Việt Nam, nhiều hãng, công ty và các trường đại học bắt đầu giới thiệu các sản phẩm E-learning. Điển hình như Cisco với chương trình CCNA/CCNP/CCIE, Intel với mô hình E-learning giới thiệu tại Việt Nam vào tháng 7/2003 và sẽ có khả năng trở thành đối tác chính của Bộ giáo dục - đào tạo trong việc phát triển E-learning trong thời gian tới, công ty điện toán và truyền số liệu (VDC) kết hợp với Netlearner (Singapo) với dịch vụ đào tạo từ xa bán E-learning khai trương đầu năm 2003, công ty VASC với trang Web: truongthi.com. công ty Hà Thành với trang Web: khoabang.com, FPT với cổng đào tạo trực tuyến... Vậy E-learning là gì?, Hệ thống E-
  13. learning bao gồm những thành phần gì?; Việc phát triển E-learning trong diều kiện cụ thể của Học viện và các trung tâm tâm đào tạo như thế nào?. 2.1.2.1. Tông quát về E-learing a. Giới thiệu chung Nhiều nhà chuyên môn cho rằng E-learning - phương pháp giáo dục đào tạo mới được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỷ 21. Theo ông Keith Holtham, Giám đốc phụ trách các giải pháp cho do ảnh nghiệp khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Intel). E-Learning căn bản dựa trên công nghệ mạng ngang hàng (P2P). Đây là giải pháp sử dụng công nghệ cao để hỗ trợ quá trình học tập cung cấp các dịch vụ đào tạo, khóa học qua mạng Internet hoặc Intranet cho người dùng máy tính. Ưu điểm nổi trội của E-Learning so với các phương pháp giáo dục truyền thống là việc tạo ra một môi trường học tập mở và tính chất tái sử dụng các đơn vị tri thức (learning object). Với công nghệ này. Quá trình dạy và học sẽ hiệu quả và nh ảnh chóng hơn, giúp giảm khoảng 60% chi phí, đông thời giảm thời gian đào tạo 20-40% so với phương pháp giảng dạy truyền thống. E-learning chuyên tái nội dung phong phú, ấn tượng và dễ hiểu thông qua trang web, bảo đảm chất lượng đào tạo qua những phần mềm quản lý. Mô hình này cho phép học viên cũng như nhân viên tại các công ty chọn học những thứ cần thiết chứ không bó buộc như trước. Bên cạnh đó, học viên có thể học bất cứ lúc nào bằng cách nối mạng mà không cần phải đến trường. Trên phạm vi toàn cầu hiện nay có nhiều công ty lớn đầu tư vào E-Learning. Năm 2000, thị trường này đã đạt do ảnh số 2.2 tỷ USD. Người ta dự tính, đến năm 2005. E-Learning trên toàn cầu sẽ đạt tới 18.5 tỷ USD, ở các nước công nghiệp phát triển, điển hình là Mỹ, lĩnh vực này đang phát triển rất nh ảnh. Thị trường L-Learning ở Mỹ sẽ đạt 11.4 tỷ USD vào năm 2004. Tại châu á, thị trường này tăng trưởng 25% mỗi năm (đạt 6,2 tỷ USD). Theo số liệu của tập đoàn dữ liệu quốc tế IDC, năm 2003, thế giới sẽ thiêu khoảng 1.45 triệu chuyên ra mạng do đó nhu cầu về nguồn nhân lực này ngày càng lớn cùng với mức độ phức tạp xung qu ảnh việc thiết kế triển khai và bảo trì hệ thống mạng máy tính trong nền kinh tế Internet. Chính vì vậy E-Learning đang được rất nhiều người học quan tâm và theo học. b. Vậy hiểu một cách chung nhất thì E-learning là gì? E- learning (electronic learning: Học điện tử): Thuật ngữ bao hàm một tập hợp các ứng dụng và quá trình, như học qua Web, học qua máy tính, lớp học ảo và sự liên kết số. Trong đó bao gồm việc phân phối nội dung các khoá học tới học viên qua lnternet, mạng intranet/extranet (LAN/WAN), băng audio và video vệ tinh quảng bá. truyền hình tương tác. CD-ROM, và các loại học liệu điện tử khác. Hình 2.3 mô tả một cách tổng quát khái niệm E-learning. Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, toàn bộ hoặc một phần của những thành phần nào được chuyền tải tới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử.
  14. • Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện. Ví dụ các bài giảng CBT viết bằng toolbookII,.. . • Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên học trên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia,. . . • Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm d ảnh) được thực hiện qua mạng Internet... • Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua chat, Form trên mạng,. . . Tóm lại E-learning được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thông qua các phương trên điện tử. Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông E- learning được hiểu một cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng lntemet và công nghệ Web. c. Vài nét về lịch sử E-learning Trước năm l983: Kỷ nguyên giảng viên làm trung tâm. Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi. Phương pháp giáo dụng “lấy giảng viên làm trung tâm" là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học. Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung qu ảnh giảng viên và các bạn học. Đặc điểm của loại hình nào là giá thành đào tạo rẻ. Giai đoạn 1984-1993 : Kỷ nguyên đa phương tiện. Hệ diều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn powerpoint đây là các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phương tiện. Nó cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trên máy tính sử dụng công nghệ CBT phân phối qua đĩa CD- ROM hoặc đĩa mềm, vào bất kỳ thời gian nào. Ở đây, người học cũng có thể mua và học. Tuy nhiên sự hướng dẫn của giảng viên là rất hạn chế. • Giai đoạn : 1994-1999 Làn sóng E-learning thứ nhất
  15. Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiếp phương pháp giáo dục bằng công nghệ này. Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-mail, CBT qua lntranet với text và hình ảnh đơn giản: đào tạo bằng công nghệ WEB với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng. • Giai đoạn: 2000-2005 Làn sóng E-learning thứ hai. Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo. Ngày nay thông qua Web giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo. Ngày qua ngày công nghệ Web đã chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu qủa cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập. Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng và hiệu qua. Đó chính là làn sóng thứ 2 của E- learning. d. E-learning có những khác biệt gì so với đào tạo truyền thống? E-1earning khác với đào tạo truyền thống ở ba điểm sau: • Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: một khoá học E- learning được chuyển tải qua một máy tính tới cho người học, điều này cho phép các học viên có thể linh hoạt lựa chọn khoá học từ một máy tính dễ bàn hoặc từ một máy tính xách tay với một modem di động chạy phí trên một bãi biển. • Tính linh hoạt : Một khoá học E-learning được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không nhất thiết phải bám theo một thời gian biểu cố định. Vì thế người học có thể lựa chọn, tham gia khoá học tuỳ theo hoàn cảnh của mình. • Truy nhập ngẫu nhiên: Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép học viên lựa chọn phần bài giảng, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy nhập mạng của mình. Học viên tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của những tài liệu trực tuyến. Tất nhiên cũng có một số cách học khác. Ví dụ như, các lớp học thông qua trang Web dùng phần mềm hội thảo video trên mạng và các phần mềm khác cho phép các học viên từ xa tham gia một khoá học trên lớp học truyền thống. Một số khoá học trên trang Web theo yêu cầu có giảng viên (hoặc người hướng dẫn) tương tác thường xuyên với từng học viên hoặc với các nhóm học viên. e. Có nên chuyển đổi sang E-learning hay không? Trước khi lưu giữ các slide cua giảng viên dưới dạng HTML và số hoá lời giảng, chúng ta nên cân nhắc chi phí và lợi ích của việc chuyển đổi này. Để làm điều đó, cần phải xem xét quan điểm của cả hai phía: phía cơ sở đào tạo (hoặc nhà cung cấp dịch vụ đào tạo) và phía người học. Nếu đối với cả phía cơ sở đào tạo và người học, học bằng E-learning có nhiều lợi ích hơn so với bất lợi thì việc chuyển đổi sang học bằng E-learning có thì là một phương pháp hữu hiệu. Quan điểm của Cơ sở đào tạo Cơ sở đào tạo là một tổ chức thiết kế và cung cấp các khóa học trực tuyến E-learning,
  16. nó có thể chỉ là một phòng ban trong công ty khi muốn đào tạo nội bộ, hoặc là toàn bộ Trường/Viện/Công ty nếu cơ sở đó bán chương trình đào tạo cho các người học độc lập hoặc cơ sở khác. Hãy thử so sánh ưu và nhược điểm đối với cơ sở đào tạo khi chuyển đổi các khoá học truyền thống sang khoá học E-learning. Bảng 2.1. Ưu điểm và nhược điểm của E-learning Ưu điểm Nhược điểm Giảm chi phí đào tạo. Sau khi đã phát Chi phí phát triển một khoá học lớn. Việc học qua triển xong, một khoá học E-learning mạng còn mới mẻ và cần có các chuyên viên kỹ có thể dạy 1000 học viên với chi phí thuật để thiết kế khoá học. Triển khai một lớp học chỉ cao hơn một chút so với tổ chức E- learning có thể tốn gấp 4 - 10 lần so với một khoá đào tạo cho 20 hoc viên. học thông thường với nội dung tương đương. Rút ngắn thời gian đào tạo. Việc học Yêu cầu kỹ năng mới. Những người có khả năng trên mạng có thể đào tạo cấp tốc cho giảng dạy tốt trên lớp chưa chắc đã có trình độ thiết một lượng lớn học viên mà không bị kế khóa học trên mạng. Phía cơ sở đào tạo có thể giới hạn bội số lượng giảng viên phải đào tạo lại một số giảng viên và tìm việc mới hướng dẫn hoặc lớp học. cho số còn lại. Cần ít phương tiện hơn. Các máy chủ Lợi ích của việc học trên mạng vẫn chưa được và phần mềm cần thiết cho việc học khảng định. Các học viên dã hiểu được giá trị của trên mạng có chi phí rẻ hơn rất nhiều viêck học 3 ngày trên lớp có thể vẫn ngần ngại khi so với phòng học, bảng, bàn ghế, và bỏ ra một chi phí tương đương cho một khoá học các cơ sở vật chất khác. trên mạng thậm chí còn hiệu quả hơn. Giảng viên và học viên không phải đi Đòi hỏi phải thiết kế lại chương trình đào tạo. Việc lại nhiều. các học viên không có các kết nối tốc độ cao đòi hỏi phía đào tạo phải luôn xây dựng lại các khoá học để khắc phục những hạn chế đó. Tổng hợp được kiến thức. Việc học trên mạng có thể giúp học viên nắm bắt được kiến thức của giảng viên, dễ dàng sàng lọc, và tái sử dụng chúng. Quan điểm của người học Cá nhân hoặc tổ chức tham gia các khoá học E-learning trên mạng chắc chắn sẽ thấy việc đào tạo này xứng đáng với thời gian và số tiền họ bỏ ra. Bảng dưới đây sẽ so sánh thuận lợi và khó khăn đối với học viên khi họ chuyển đổi việc học tập theo phương pháp truyền
  17. thống sang học tập bằng E-learning. Bảng 2.2: Ưu điểm và nhược điểm của E- learning theo quan điểm của người học Ưu điểm Nhược điểm Có thể học bất cứ lúc nào, tại bất kỳ nơi đâu. Kỹ thuật phức tạp. Trước khi có thể bắt đầu khoá học, họ phải thông thạo các kỹ năng mới. Không phải đi lại nhiều và không phải nghĩ việc Chi phí kỹ thuật cao: Để tham gia học Học viên có thể tiết kiệm chi phí đi lại tới nơi trên mạng, học viên phải cài đặt Turbo học. Đồng thời, họ có thể dễ đàng điều chỉnh thời trên máy tính của mình, tải và cài đặt các gian học phù hợp với thời gian làm việc của mình. chức năng Plug-ins, và kết nối vào mạng. Có thể tự quyết định việc học của mình. học viên Việc học có thể buồn tẻ. Một số học viên chỉ học những gì mà họ cần. sẽ cảm thấy thiếu quan hệ bạn bè và sự tiếp xúc trên lớp. Khả năng truy cập được nâng cao. Việc tiếp cận Yêu cầu ý thức cá nhân cao hơn: Việc những khoá học trên mạng được thiết kế hợp lý sẽ học qua mạng yêu cầu bản thân học viên dễ dàng hơn đối với những người không có khả phải có trách nhiệm hơn đối với việc học năng nghe, nhìn; những người học ngoại ngữ hai; của chính họ. Một số người sẽ cảm thấy và những người không có, khả năng học như khó khăn trong việc tạo ra cho mình một người bị mắc chứng khó đọc. lịch học cố định. Những thuận lợi và khó khăn trên là không tránh khỏi. Với việc chuẩn bị tốt, học viên có thể khắc phục được hầu hết các khó khăn. Nêu chuẩn bị không tốt và việc tổ chức đào tạo bằng E-learning của cơ sở đào tạo chưa được kỹ càng thì học viên sẽ không thấy được những thuận lợi của những khoá học trên mạng. Ví dụ: nếu những bài học không được bố cục rõ ràng và định hướng cụ thể thì việc tự học sẽ không hứa hẹn điều gì cả. Ngược lại, học viên có thể khắc phục được sự buồn tẻ của việc học trực tuyến bằng cách thảo luận hoặc chat với giảng viên và bạn học qua mạng. 2.1.2.2. E-learning và các phương thức đào tạo khác Nhìn chung các nhà chuyên môn đều cho rằng, trong thế kỷ 21 mô hình đào tạo sẽ bao gồm 3 phương thức: Đào tạo truyền thống. đào tạo tương tác (Vệ tinh/ISDN/IP). Và Đào tạo không tương tác bằng E-learning. Tuỳ theo từng nội dung đào tạo và khả năng tài chính mà các cơ sở đào tạo sẽ sử dụng kết hợp các phương thức đào tạo trong mô hình này ở một mức độ phù hợp. Bảng2.3: Các phương thức đào tạo
  18. Phương thức Nội dung đào tạo (Mức độ chuyên môn) Số lượng người học Đào tạo truyền thống Cao, phức tạp. Các nội dung đào tạo có tính Ít phải tập trung về hàn lâm (dài hạn), chuyên môn cao, đòi hỏi cơ sở đào tạo để thực tế: thực hành-thực tập, trao đổi thông tin học tập trực tiếp,... Đào tạo từ xa tương Trung bình. Các nội dung, chủ đề mang tính Nhiều (tới vài trăm tác có giảng viên thông phổ cập, giới thiệu, không đòi hỏi trình độ học viên/khóa qua truyền hình hội chuyên môn cao ít thực hành thực tập.... như ở học), học tập trung nghị Vệ tinh/ISDN/IP đào tạo không tương tác nhưng đòi hỏi tính tại điểm xa cơ sở chuyên môn cao hơn, cần có sự trao đổi, giải đào tạo đáp hướng dẫn của đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý. Đào tạo từ xa không Trung bình và thấp. Các nội dung, chủ đề Nhiều (tới hàng tương tác bằng E- mang tính phổ cập, giới thiệu, không đòi hỏi ngàn học viên). học learning. trình độ chuyên môn cao, ít thực hành thực ở mọi lúc. mọi nơi. tập,… Các nội dung đào tạo phù hợp tốt với khả năng, tự học- tự nghiên cứu thông qua các phương tiện điện tử. 2.1.3. Cấu trúc của một hệ thống E- learning điển hình 2.1.3.1. Mô hình chức năng Mô hình chức năng có thể cung cấp một cái nhìn trực quan về các thành phần tạo nên nôi trường E-learnin và những đối tượng thông tin giữa chúng. ADL (Advanccd Distributed Learning) - một tổ chức chuyên nghiên cứu và khuyến khích việc phát triển và phân phối học viên sử dụng các công nghệ mới, đã công bố các tiêu chuẩn cho SCORM (Mô hình chuẩn đơn vị nội dung chia sẻ) mô tả tổng quát chức năng của một hệ thống E-learning bao gồm (hình 2.4). • Hệ thống quản lý học tập (LMS) như là một hệ thống dịch vụ quản lý việc phân phối và tìm kiếm nội dung học tập cho người học, tức là LMS quản lý các quá trình học tập. • Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS): Một LCMS là một môi trường đa người dùng. Ở đó các cơ sở đào tạo có thể tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, quản lý và phân phối nội dung học tập trong môi trường số từ một kho dữ liệu trung tâm. LCMS quản lý các quá trình tạo ra và phân phối nội dung học tập. LMS cần trao đổi thông tin về hồ sơ người sử dụng và thông tin đăng nhập của người sử dụng với các hệ thống khác, vị trí của khoá học từ LCMS và lấy thông tin về các hoạt động của học viên từ LCMS.
  19. Chìa khoá cho sự kết hợp thành công giữa LMS và LCMS là tính mở, sự tương tác. Hình 2.5 mô tả một mô hình kiến trúc của hệ thống E-learning sử dụng công nghệ Web để thực hiện tính năng tương tác giữa LMS và LCMS cũng như với các hệ thống khác. Trên cơ sở các đặc tính của dịch vụ Web, người ta thấy rằng các dịch vụ Web có khả năng tối để thực hiện tính năng liên kết của các hệ thống E- learning bởi các lý do sau: • Thông tin trao đổi giữa các hệ thống E-learning như LOM, gói tin IMS đều tuân thủ tiêu chuẩn XML. • Mô hình kiến trúc Web là nền tảng và độc lập về ngôn ngữ với E-learning thông tin trao đổi giữa các hệ thống E-learning như LOM, gói tin IMS đều tuân thủ tiêu chuẩn XML. 2.1.3.2. Mô hình hệ thống Một cách tổng thể một hệ thống E-learning bao gồm 3 phần chính (hình 2.6): • Hạ tầng truyền thông và mạng: Bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng (học viên), thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông,...
  20. • Hạ tầng phần mềm: Các phần mềm LMS. LCMS (MarcoMedia. Autrthorware, loolbook....) • Nội dung đào tạo (hạ tầng thông tin): Phần quan trọng của E- learning là nội dung các khoá học. các chương trình đào tạo), các coursewaer. 2.1.3.3. phát triển nội dung khoá học trong E- learning Để phát triển E-learning, cần phải song song giải quyết nhiều vấn đề như hạ tầng phần cứng, nhân lực, giảng viên, các phần mềm quản lý học tập (LMS),... và điều quan trọng là phải có được nội dung các khoá học E-learning, một thứ "hàng hoá" trong môi trường đào tạo của nền kinh tế Internet. Phần dưới đây mô tả các phương thức để phát triển nội dung khoá học trong là E-learning. Các cơ sở đào lạo E-learning có thể sử dụng một trong 3 cách dưới đây để phát triển nội dung các khoá học E-learning cho mình. a. Xây dựng mới toàn bộ Có thể bao gồm cả việc xây dựng từ đâu các bài giảng truyền thống (bài giảng. giáo trình, sách giáo khoa sau đó bắt đầu chuyển sang giai đoạn chuyển đổi học liệu. Các công việc này có thể bao gồm • Thiết kế kịch bản (giáo án, đề cương) • Xây dựng các trang hình (hình ảnh tĩnh/động + trang text)

Tài liệu cùng danh mục PR - Truyền thông

Lecture Business data communications and networking (8th edition): Chapter 6 - Jerry Fitzgerald, Alan Dennis

Chapter 6 - Local area networks. In this chapter, the following content will be discussed: LAN components, traditional ethernet (IEEE 802.3), switched ethernet, best practice LAN design, improving LAN performance.


Nghệ thuật truyền thông trong quản trị khủng hoảng.

Truyền thông trong quản trị khủng hoảng là nghệ thuật làm việc với báo chí và các kênh thông tin đại chúng khi một sự kiện, có tác động tiêu cực và/hoặc tác động tàn phá với khách hàng hay cộng đồng, bất ngờ phát sinh và tập hợp sức mạnh của cơn bão dư luận.


Quảng cáo hay quảng bá –phần2

Quảng bá là 1 công cụ mạnh, nhưng sớm muộn gì 1 nhãn hiệu sẽ sử dụng hết tiềm năng quảng bá của nó. Theo quyển “22 quy luật vàng trong xây dựng nhãn hiệu” của Al Ries và Jack Trout, quá trình này thông thường chia thành 2 giai đoạn rõ rệt.


Brand Management Waldemar Pfoertsch_2

Tham khảo tài liệu 'brand management waldemar pfoertsch_2', kinh doanh - tiếp thị, pr-truyền thông phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


THÀNH CÔNG HƠN VỚI NHỮNG QUY TẮC MỚI TRONG PR

Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, Web đã làm thay đổi những quy tắc thông thường của thông cáo báo chí. Thế nhưng dường như hầu hết những chuyên gia PR theo lối truyền thống vẫn chưa thực sự nhận ra điều này. Kể từ khi Web có thể giúp mọi người đọc thông cáo báo chí một cách trực tiếp, các quy tắc trong PR đã có sự thay đổi rất ít trong mười năm qua. Vì thế, những người đã tiếp thu những quy tắc truyền thống rất khó chấp nhận những quy tắc mới....


Bộ ba: CRM, ISO 9000 và ERP

Một chuyên gia tư vấn quản trị doanh nghiệp đã ví von rằng: “Nếu coi hệ thống quản lý kinh doanh là một chiếc xe đạp thì khung xe (mang tính nền tảng) là hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, bánh trước (mang tính định hướng) là hệ thống CRM và bánh sau (mang tính động lực) là hệ thống ERP.”


CRM và Visit Card Điều cần thiết trong thiết lập quan hệ khách hàng

- Visit Card (VC) ngày nay đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Chỉ với diện tích 90mm x 55mm nhưng VC chứa đủ các thông tin liên quan đến người chủ sở hữu, đồng thời nó cũng là bắt đầu của mọi cuộc nói chuyện và đàm phám.


Quan hệ báo chí là gì? - Giới thiệu chung

Được coi là “quyền lực thứ 5”, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị xã hội và đặc biệt là nhận thức của công chúng • Phương tiện truyền tải thông tin nhanh, có uy tín và thường xuyên • Không kiểm soát được thông tin sẽ xuất hiện trên báo chí nhưng có thể dự đoán.


Công cụ mới cho quảng bá thương hiệu - Product Placement

Tài liệu Công cụ mới cho quảng bá thương hiệu - Product Placement trình bày về khái niệm, phân loại, xu hướng trong quảng bá thương hiệu nói chung, lợi ích quảng bá thương hiệu, rủi ro của hình thức quảng bá thương hiệu, cách thức sử dụng quảng bá thương hiệu,...Mời các bạn cùng tham khảo.


Bài giảng Quản trị thương hiệu: Giới thiệu – ThS. Đặng Đình Trạm

Nội dung của bộ bài giảng Quản trị thương hiệu của ThS. Đặng Đình Trạm gồm có 8 chương với những nội dung chính sau: Thương hiệu và quản trị thương hiệu; đặc tính thương hiệu, định vị thương hiệu và giá trị thương hiệu; thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu & bảo vệ thương hiệu; chiến lược Marketing nhằm tạo dựng giá trị thương hiệu; các mô hình thương hiệu & chiến lược phát triển thương hiệu; tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp; định giá thương hiệu & khai thác thương hiệu bằng hình thức nhượng quyền thương mại; thương hiệu thâm nhập thị trường quốc tế.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Khó khăn của quảng cáo số
  • 11/11/2012
  • 60.007
  • 535

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu