Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Rủi ro thanh khoản và định giá tài sản: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết Rủi ro thanh khoản và định giá tài sản: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh mục tiêu của nghiên cứu nhằm kiểm định sự tồn tại phần bù rủi ro thanh khoản trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu được thu thập trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày 01/01/2012 đến ngày 10/10/2016,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 125-132

DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.017

RỦI RO THANH KHOẢN VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN: BẰNG CHỨNG TỪ
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Lệ*
Trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Bùi Thị Lệ (le.ktcnh@gmail.com)
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 05/07/2017
Ngày nhận bài sửa: 16/12/2017
Ngày duyệt đăng: 28/02/2018

Title:
Liquidity risk and asset
pricing: Evidence from the
stock market in Ho Chi Minh
City
Từ khóa:
Phần bù rủi ro, rủi ro thanh
khoản, thị trường lên, thị
trường xuống
Keywords:
Down market, liquidity risk,
the risk premium, up market

ABSTRACT
The objective of the study is to test the existence of liquidity risk premium
in the new context of Vietnam's stock market. The data was collected from
the stock market in Ho Chi Minh City (HOSE) from 01/01/2012 to
10/10/2016. Based on the measurement of Amihud illiquidity, the study
classified stocks into 9 portfolios which have equal stock number. The
pricing model was tested on both the unconditional market and up- and
down-markets. The research results are basically consistent with
empirical studies in the stock market of other countries. Research results
help managers and investors have more up-to-date insights into Vietnam's
stock market to improve management and investment efficiency.
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm kiểm định sự tồn tại phần bù rủi ro thanh
khoản trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu được thu thập trên
thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) từ ngày
01/01/2012 đến ngày 10/10/2016. Nghiên cứu sử dụng cách phân chia các
cổ phiếu thành 9 danh mục với số lượng đều nhau dựa trên thước đo thanh
khoản kém của Amihud. Mô hình định giá được kiểm định cả trên thị
trường không điều kiện và trong điều kiện thị trường lên, thị trường xuống.
Kết quả nghiên cứu về cơ bản phù hợp với nhiều nghiên cứu thực nghiệm
tại thị trường chứng khoán các nước khác. Kết quả nghiên cứu giúp các
nhà quản lý và các nhà đầu tư có hiểu biết cập nhật hơn với thị trường
chứng khoán Việt Nam để nâng cao hiệu quả quản lý và đầu tư.

Trích dẫn: Bùi Thị Lệ, 2018. Rủi ro thanh khoản và định giá tài sản: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán
Thành phố hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(1D): 125-132.
Eleswarapu and Reinganum (1993) kiểm tra lại
nghiên cứu của Amihud và Mendelson bằng cách sử
dụng một thời kỳ cập nhật hơn và nhận thấy rằng
mối liên hệ thuận (dương) giữa lợi suất và tính kém
thanh khoản chủ yếu chỉ giới hạn trong tháng Giêng.
Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu khác về sau
đều ủng hộ phần bù thanh khoản như Brennan and
Subrahmanyam (1996), Datar et al. (1998), Amihud
(2002), Chan and Faff (2005), Bekaert et al. (2007),
Lam and Tam (2011), Amihud et al. (2015), Chen
and Sherif (2016).

1 GIỚI THIỆU
Amihud and Mendelson (1980) và Glosten and
Milgrom (1985) cho rằng phần bù thanh khoản là
kết quả của chi phí lựa chọn bất lợi và chi phí hàng
tồn kho. Trước đây đã có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm khảo sát mối liên hệ giữa lợi suất và tính
kém thanh khoản. Nghiên cứu của Amihud and
Mendelson (1986) đã tìm thấy bằng chứng về mối
liên hệ thuận giữa lợi suất và tính kém thanh khoản
trên thực tế.
125

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 125-132

Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên
cứu của Nguyễn Anh Phong (2012) là đóng góp tiên
phong cho mảng đề tài này. Kết quả nghiên cứu cho
thấy thanh khoản có quan hệ thuận với tỉ suất sinh
lời tức là thanh khoản càng tốt thì phần bù rủi ro phải
càng cao. Kết quả này có vẻ trái ngược với lý thuyết
tài chính nói chung và trái ngược với các kết quả
nghiên cứu ở thị trường chứng khoán nhiều nước
khác. Sự trái ngược này được Nguyễn Anh Phong
(2012) cho là một khám phá mới phản ánh tính đặc
trưng riêng tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

hợp để vận dụng vào bối cảnh mới hay không? Đây
là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Với những nghi vấn và khoảng trống nói trên, rất
cần một nghiên cứu mới để kiểm chứng sự tồn tại
phần bù rủi ro thanh khoản trên HOSE của Việt Nam
trong bối cảnh mới với cách tiếp cận khác. Vì vậy,
nghiên cứu này là một đóng góp về mặt học thuật
cũng như góp phần giúp các nhà quản lý và các nhà
đầu tư có nhận thức và vận dụng tốt hơn vào việc
định giá rủi ro thanh khoản trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý ở nghiên cứu của
Nguyễn Anh Phong (2012) là mặc dù beta (chỉ số độ
nhạy của yếu tố rủi ro thị trường) chỉ là một biến
điều tiết trong mô hình, kết quả nghiên cứu lại cho
thấy beta có tương quan nghịch khá mờ nhạt với tỉ
suất sinh lời. Kết quả nghiên cứu này trái với các kết
quả nghiên cứu cùng thời gian khác trên HOSE như
nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Dương Thị
Hoàng Trang (2014), nghiên cứu của Võ Hồng Đức
và Mai Duy Tân (2014), hoặc các nghiên cứu trước
đó như nghiên cứu của Trần Thị Hải Lý (2010) đều
cho thấy yếu tố rủi ro thị trường ảnh hưởng thuận và
rất mạnh đến tỷ suất sinh lời của tất cả các danh mục
trên HOSE.

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN
TÍCH
2.1 Cơ sở lý thuyết
Thanh khoản có giá trị đối với các nhà đầu tư: họ
đòi hỏi một phần bù lợi suất để bù đắp cho tính kém
thanh khoản của tài sản (Amihud and Mendelson,
1986). Các nhà đầu tư đối mặt với rủi ro thanh khoản
khi chuyển đổi sở hữu chứng khoán của họ. Vì vậy,
các nhà đầu tư xem thanh khoản là một yếu tố quan
trọng khi ra quyết định đầu tư (Lam and Tam, 2011).
Nghiên cứu của Amihud và Mendelson (1986) xác
nhận một liên hệ thuận (dương) giữa lợi suất cổ
phiếu và tính kém thanh khoản tức là tìm thấy chứng
cứ ủng hộ phần bù rủi ro kém thanh khoản trên thực
tế.

Những trái ngược nói trên phải chăng chỉ có thể
được giải thích một cách thỏa đáng là do ba nguyên
nhân sau: (1) nghiên cứu của Nguyễn Anh Phong
(2012) sử dụng dữ liệu trên cả hai sàn HOSE và
HNX có đặc điểm rủi ro quá khác biệt; (2) nghiên
cứu của Nguyễn Anh Phong sử dụng dữ liệu nằm
trong thời kỳ thăng trầm liên tục của thị trường
chứng khoán Việt Nam kể từ ngày thành lập và trong
bối cảnh nhiều bất ổn của nền kinh tế với chuỗi dài
liên tiếp những bong bóng thị trường, hoảng loạn và
suy sụp. Bởi vì trong chế độ bong bóng, sự thay đổi
giá cổ phiếu không phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản
(Kaliva and Koskinen, 2008), nghiên cứu của
Nguyễn Anh Phong (2012) sử dụng phương pháp
luận của Fama and MacBeth (1973) gồm 3 bước
phức hợp làm cho các kết quả nghiên cứu dựa trên
dữ liệu với những đặc điểm nêu trên càng thêm khó
lý giải.

Nghiên cứu tương tự sau đó của Eleswarapu and
Reinganum (1993) không hoàn toàn nhất quán với
kết quả trên. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau đó của
nhiều học giả khác thực hiện trên nhiều thị trường
khác, với nhiều thước đo thanh khoản khác nhau và
bằng nhiều phương pháp khác nhau lại ủng hộ kết
quả nghiên cứu của Amihud and Mendelson (1986).
Đáng chú ý là hai nghiên cứu được tiến hành trên thị
trường chứng khoán của rất nhiều nước khác nhau
trên thế giới. Bekaert et al. (2007) nghiên cứu trên
18 thị trường chứng khoán mới nổi tại châu Á đã
chứng tỏ phần bù rủi ro tính thanh khoản kém trên
thực tế. Amihud et al. (2015) khảo sát phần bù tính
thanh khoản kém trên thị trường chứng khoán 45
quốc gia ở châu Mỹ, châu Á-Thái Bình Dương và
châu Âu cũng đã chứng tỏ phần bù rủi ro thanh
khoản kém trung bình trên các quốc gia này là
dương và có ý nghĩa thống kê sau khi kiểm soát các
yếu tố định giá khác.

Mặt khác, nghiên cứu của Nguyễn Anh Phong
(2012) chưa giải thích được rủi ro thanh khoản được
định giá như thế nào trên các danh mục đầu tư có
mức độ thanh khoản khác nhau cũng như trong các
điều kiện thị trường lên hay xuống.

Nhìn chung, mặc dù có sự không nhất quán hoàn
toàn trong kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm
trước đây về mối liên hệ giữa lợi suất kỳ vọng và
tính kém thanh khoản của cổ phiếu, hầu hết các
nghiên cứu đều khẳng định tồn tại mối liên hệ này.
Cụ thể hơn, nghiên cứu của Lam and Tam (2011)
trên thị trường chứng khoán Hồng Kông cho thấy
các cổ phiếu thanh khoản kém có tải trọng dương

Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt
động đã khá lâu, các nhà quản lý thị trường và các
nhà đầu tư chắc chắn đã tích lũy được khá nhiều kinh
nghiệm sau rất nhiều thăng trầm của giai đoạn đầu
mới thành lập thị trường. Vì vậy, kết quả nghiên cứu
trước đây về định giá rủi ro thanh khoản có còn phù
126

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 125-132

trong khi các cổ phiếu thanh khoản tốt có tải trọng
âm lên yếu tố thanh khoản.
2.2 Khung phân tích

Trong đó, Rpt là tỉ suất sinh lời trung bình của
danh mục cổ phiếu p; Rmt là tỉ suất sinh lời danh mục
thị trường; Rft là tỉ suất sinh lời phi rủi ro; RMWt là
tỉ suất sinh lời trung bình của các danh mục kém
thanh khoản mạnh trừ tỉ suất sinh lời trung bình của
danh mục kém thanh khoản yếu; bp, wp là hệ số độ
nhạy yếu tố rủi ro thị trường, yếu tố rủi ro thanh
khoản; ept là sai số ngẫu nhiên.

Một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận mô
hình định giá tài sản vốn (CAPM) không giải thích
được phần bù rủi ro chứng khoán trong một số
trường hợp, chúng thường được gọi là các khiếm
khuyết của CAPM. Mặc dù vậy, yếu tố thị trường
của CAPM truyền thống vẫn là yếu tố thống trị tại
các thị trường châu Á mới nổi (Shum and Tang,
2005). Nhìn chung, các nghiên cứu khắc phục những
khiếm khuyết của CAPM tập trung theo hai hướng:
thứ nhất là tìm ra các yếu tố đặc trưng công ty ngoài
yếu tố rủi ro thị trường để bổ sung, thứ hai là trong
phân tích và xử lý số liệu dùng danh mục chứ không
dùng từng cổ phiếu riêng lẻ nhằm tránh hiện tượng
chệch (bias).

Cơ sở lý thuyết trên đây cho thấy nhiều bằng
chứng ủng hộ mạnh mẽ rằng rủi ro thanh khoản
được định giá trên thị trường chứng khoán. Để góp
phần khẳng định điều đó, nghiên cứu này xác minh
phát hiện mới của Lam and Tam (2011) về sự khác
biệt dấu của phần bù rủi ro thanh khoản kém và
thanh khoản tốt trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Do đó, giả thuyết sau cần được kiểm định.
Giả thuyết: Các cổ phiếu kém thanh khoản có
phần bù rủi ro kém thanh khoản cho người mua vào,
tức wp mang dấu dương; các cổ phiếu thanh khoản
tốt có phần bù rủi ro thanh khoản tốt cho người bán
ra, tức wp mang dấu âm.

Cho đến nay, mô hình Fama là một hướng khắc
phục CAPM được nhiều học giả trên thế giới cũng
như trong nước ủng hộ và sử dụng. Tuy nhiên, một
số học giả khác cho rằng không tồn tại một cơ sở lý
thuyết vững chắc có liên quan đến mô hình Fama 3
yếu tố (Wang and Wu, 2011). Trên thực tế, tại một
số thị trường, các nhà quản lý vẫn chưa sử dụng mô
hình Fama để xác định tỉ suất sinh lời trong các
quyết định của họ (Australian Energy Regulator,
2013).

Hệ quả của giả thuyết nêu trên đối với dữ liệu
chéo kết hợp thời gian của tất cả các loại danh mục
có thanh khoản khác nhau trên thị trường là: (1) Nếu
thị trường có xu hướng đi xuống mạnh mẽ, rủi ro
kém thanh khoản tăng lên nên wp chung của thị
trường mang dấu dương; (2) Nếu thị trường có xu
hướng đi lên mạnh mẽ, rủi ro kém thanh khoản giảm
xuống nên wp chung của thị trường mang dấu âm;
(3) Nếu thị trường có xu hướng lên hay xuống không
rõ rệt, rủi ro của các danh mục thanh khoản kém và
của các danh mục thanh khoản tốt bù trừ nhau nên
wp chung của thị trường không có ý nghĩa thống kê;
(4) Mức độ e ngại rủi ro thanh khoản khác nhau của
các nhà đầu tư trên các thị trường khác nhau cũng
có thể ảnh hưởng đến dấu của wp.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên
cứu của Võ Hồng Đức và Mai Duy Tân (2014) cho
thấy yếu tố rủi ro qui mô và yếu tố rủi ro giá trị trong
mô hình Fama phụ thuộc nhiều vào cách phân chia
danh mục. Trong khi đó, yếu tố rủi ro thị trường của
CAPM truyền thống luôn mang ý nghĩa thống kê và
mang dấu đúng kì vọng, không phụ thuộc vào cách
thức phân chia danh mục đầu tư. Do đó, các tác giả
đã khuyến nghị rằng khi xác định tỉ suất sinh lời cổ
phiếu tại Việt Nam, mô hình CAPM dường như vẫn
thể hiện sự phù hợp như một xuất phát điểm.

Do đó, nếu giả thuyết nêu trên là đúng, hệ quả
nói trên giúp chúng ta giải đáp phần nào sự không
nhất quán trong kết quả của các nghiên cứu trước
đây về phần bù rủi ro thanh khoản.

Những cơ sở lý thuyết trên cho thấy bổ sung yếu
tố rủi ro thanh khoản cho CAPM là xác đáng và mô
hình này sẽ cho phép kiểm định sự định giá rủi ro
thanh khoản trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mô hình hai yếu tố rủi ro này cũng thích hợp để kiểm
chứng kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Phong
(2012) trên mô hình hai yếu tố rủi ro tương tự nhưng
theo phương pháp luận của Fama and MacBeth như
đã nêu trên.

3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu này được thu thập
dựa trên cơ sở dữ liệu của công ty chứng khoán Bảo
Việt từ 1/1/2012 đến 10/10/2016 trên tất cả các công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM, ngoại
trừ các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm và tài chínhngân hàng. Cụ thể, năm 2012 có dữ liệu của 235
công ty, năm 2013 có dữ liệu của 250 công ty, năm
2014 có dữ liệu của 252 công ty, năm 2015 có dữ
liệu của 255 công ty, năm 2016 có dữ liệu của 255
công ty.

Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng mô hình CAPM
bổ sung yếu tố rủi ro thanh khoản làm mô hình
nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu dưới dạng dữ liệu
lịch sử cho danh mục có dạng như sau:
Rpt – Rft = ap + bp(Rmt – Rft) + wpRMWt + ept

127

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 125-132

Tỉ suất sinh lợi theo tuần bằng trung bình cộng tỉ
suất sinh lợi các ngày trong tuần được sử dụng. Tỉ
suất sinh lợi trung bình của danh mục bằng trung
bình cộng tỉ suất sinh lợi các cổ phiếu trong danh
mục với trọng số bằng nhau. Lãi suất phi rủi ro được
xác định dựa vào lãi suất tín phiếu kho bạc lấy từ cơ
sở dữ liệu của IMF. Giá sổ sách và số lượng cổ phiếu
lưu hành năm j được lấy từ báo cáo tài chính được
kiểm toán năm j-1. Thước đo kém thanh khoản của
Amihud (2002) được sử dụng để đo lường yếu tố
thanh khoản.
ILIQi ,t 

kém thanh khoản này lại được phân ba để thấy được
các đặc điểm chi tiết hơn trong mỗi mức. Kết quả là
9 danh mục được hình thành với số lượng cổ phiếu
bằng nhau theo mức độ lớn dần của thước đo kém
thanh khoản, ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7,
A8, A9.
Phần bù yếu tố rủi ro thanh khoản RMW được
tính bằng cách lấy tỉ suất sinh lợi trung bình của 3
danh mục kém thanh khoản mạnh nhất trừ cho tỉ suất
sinh lời trung bình của 3 danh mục kém thanh khoản
yếu nhất.

Ri , t

RMW 

VOLi ,t

A 7  A 8  A 9 A1  A 2  A 3

3
3

3.3 Công cụ kiểm định mô hình nghiên cứu

Trong đó, ILIQi,t là thước đo thanh khoản kém
Amihud của cổ phiếu i trong ngày t; Ri,t là tỉ suất
sinh lợi của cổ phiếu i trong ngày t; VOLi,t là khối
lượng giao dịch của cổ phiếu i trong ngày t tính bằng
VND.

Trước tiên, phương pháp OLS được dùng để
kiểm định mô hình trên từng danh mục và kiểm định
chung cho tất cả 9 danh mục. Các kiểm tra chẩn
đoán mô hình và các biện pháp khắc phục được thực
hiện để bảo đảm độ tin cậy của mô hình.

Thước đo thanh khoản kém của Amihud (2002)
trong năm của cổ phiếu i là số trung bình của thước
đo thanh khoản kém Amihud của cổ phiếu i từng
ngày trong năm đó.
3.2 Cách phân chia danh mục và tính phần
bù yếu tố rủi ro thanh khoản

Ước lượng vững do White đề xuất được sử dụng
để khử hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát được
đề xuất bởi Prais – Winsten được sử dụng để khử
hiện tượng tự tương quan.
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thống kê mô tả

Không tồn tại một lý thuyết nền tảng nào hướng
dẫn cách phân chia các danh mục đầu tư, do vậy
cũng không tồn tại một qui chuẩn để đánh giá cách
chia danh mục nào là tối ưu (Brailsford et al., 2012).
Nghiên cứu này sử dụng nguyên tắc phân ba hai lần.
Lần đầu các cổ phiếu được phân chia thành ba mức
kém thanh khoản: yếu, trung bình, mạnh. Mỗi mức

Dữ liệu nghiên cứu được thống kê mô tả trong
Bảng 1 cho thấy số cổ phiếu trong mỗi danh mục
trong 5 năm nghiên cứu khác nhau không nhiều, dao
động trong khoảng từ 26 đến 29 cổ phiếu một danh
mục.

Bảng 1: Thống kê mô tả dữ liệu
Năm

Tổng số
cổ phiếu

Số cổ phiếu
mỗi danh mục

2012
2013
2014
2015
2016

235
250
252
255
255

26-27
27-28
28
28-29
28-29

Số quan sát thị
trường không điều
kiện (tuần)
50
45
49
50
38

Số quan sát thị
trường lên (tuần)
30
28
28
26
25

Số quan sát thị
trường xuống
(tuần)
20
17
21
24
13

Thị trường lên: Phần bù lợi suất thị trường dương
Thị trường xuống: Phần bù lợi suất thị trường âm
Thị trường không điều kiện: Toàn bộ thị trường, cả lên và xuống

(phần bù lợi suất thị trường dương) và thị trường
xuống (phần bù lợi suất thị trường âm). Số quan sát
tính theo tuần trên thị trường lên so với số tuần trên
thị trường xuống có phần lớn hơn trong cả 5 năm
nghiên cứu. Điều này cho thấy xu hướng thị trường
lên khá rõ trong thời gian nghiên cứu.

Tương tự như nghiên cứu của Shum and Tang
(2005) và Lam and Tam (2011), để giải thích rõ hơn
các đặc điểm định giá rủi ro thanh khoản trong các
loại điều kiện thị trường khác nhau, nghiên cứu này
kiểm định mô hình trên cả ba loại điều kiện thị
trường: thị trường không điều kiện, thị trường lên
128

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 125-132

4.2 Kết quả hồi quy dữ liệu thời gian 9 danh
mục riêng lẻ trên thị trường không điều kiện

Ba danh mục kém thanh khoản mạnh nhất A9,
A8, A7 có wp mang dấu dương với mức ý nghĩa
thống kê 1%. Ba danh mục kém thanh khoản trung
Kết quả hồi quy dữ liệu thời gian 9 danh mục
bình A6, A5, A4 cũng có wp mang dấu dương nhưng
riêng lẻ trên thị trường không điều kiện được sắp
A5 và A6 có mức ý nghĩa thống kê 5%, còn A4
xếp theo độ lớn của hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản
không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, 5 danh mục
(wp) trong Bảng 2 cho thấy, nhìn chung danh mục
A9, A8, A7, A6, A5 có phần bù rủi ro thanh khoản
kém thanh khoản càng mạnh hệ số độ nhạy rủi ro
rõ rệt cho người mua vào nắm giữ những danh mục
thanh khoản (wp) càng lớn. Nhóm ba danh mục kém
đầu tư thanh khoản kém này trong định giá. Danh
thanh khoản mạnh nhất A9, A8, A7 có hệ số độ nhạy
mục A4 không có phần bù rủi ro thanh khoản đáng
rủi ro thanh khoản (wp) lớn nhất. Nhóm ba danh mục
kể. Ba danh mục kém thanh khoản yếu nhất A3, A2,
kém thanh khoản trung bình A6, A5, A4 có hệ số độ
A1 có wp mang dấu âm với mức ý nghĩa thống kê
nhạy rủi ro thanh khoản (wp) ở mức trung bình.
1%. Điều này có thể được giải thích là có phần bù
Nhóm ba danh mục kém thanh khoản yếu nhất A3,
rủi ro thanh khoản tốt rõ rệt cho người bán ra những
A2, A1 có hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản (wp) nhỏ
danh mục đầu tư có thanh khoản tốt trong định giá
nhất.
trên thị trường không điều kiện.
Bảng 2: Kết quả hồi quy thời gian cho từng danh mục trên thị trườngkhông điều kiện được sắp xếp theo
độ lớn hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản (wp)
Danh mục
A9
A8
A7
A5
A6
A4
A3
A1
A2

bp
0,586**
0,500**
0,582**
0,440**
0,512**
0,550**
0,472**
0,656**
0,526**

wp
0,556**
0,505**
0,311**
0,170*
0,155*
0,018
-0,434**
-0,585**
-0,625**

R2
0,371
0,335
0,452
0,242
0,342
0,346
0,509
0,739
0,650

Kiểm định F
67,7**
57,6**
49,7**
36,5**
59,4**
18,8**
132,5**
323,7**
213,0**

* Có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
** Có ý nghĩa thống kê ở mức 1%

Mặc dù thị trường có xu hướng lên khá rõ, số
danh mục có phần bù dương chiếm phần nhiều.
Những phân tích trên cho thấy rủi ro thanh khoản
được định giá rõ rệt theo mức độ kém thanh khoản
của các danh mục đầu tư trên thị trường không điều
kiện. Sự trái ngược dấu của wp trên hai nhóm danh
mục thanh khoản kém và tốt nói trên phù hợp với
giả thuyết nêu ra.
4.3 Kết quả hồi quy 9 danh mục riêng lẻ
trong điều kiện thị trường lên

kê 1%. Ba danh mục kém thanh khoản trung bình
A6, A5, A4 và danh mục A7 không có ý nghĩa thống
kê. Như vậy, 2 danh mục A9, A8 có phần bù rủi ro
thanh khoản rõ rệt cho người mua vào nắm giữ
những danh mục đầu tư thanh khoản kém này trong
định giá. Các danh mục A6, A5, A4 và A7 không có
phần bù rủi ro thanh khoản đáng kể.
Ba danh mục kém thanh khoản yếu nhất A3, A2,
A1 có wp mang dấu âm với mức ý nghĩa thống kê
1%. Điều này có thể được giải thích là có phần bù
rủi ro thanh khoản tốt rõ rệt cho người bán ra những
danh mục đầu tư có thanh khoản tốt trong định giá
trên thị trường lên.

Kết quả hồi quy dữ liệu thời gian 9 danh mục
riêng lẻ trên thị trường lên được sắp xếp theo độ lớn
hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản (wp) trong Bảng 3
cho thấy nhìn chung danh mục kém thanh khoản
càng mạnh hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản (wp)
càng lớn. Nhóm ba danh mục kém thanh khoản
mạnh nhất A9, A8, A7 có hệ số độ nhạy rủi ro thanh
khoản (wp) lớn nhất. Nhóm ba danh mục kém thanh
khoản trung bình A6, A5, A4 có hệ số độ nhạy rủi
ro thanh khoản (wp) ở mức trung bình. Nhóm ba
danh mục kém thanh khoản yếu nhất A3, A2, A1 có
hệ số độ nhạy rủi ro thanh khoản (wp) nhỏ nhất.
Hai danh mục kém thanh khoản mạnh nhất A9,
A8 có wp mang dấu dương với mức ý nghĩa thống

Trên thị trường lên, số danh mục có phần bù
dương chiếm phần ít; các wp cũng nhỏ hơn khá rõ so
với thị trường không điều kiện cho thấy rủi ro thanh
khoản giảm xuống khi thị trường có xu hướng đi lên.
Những phân tích trên cho thấy rủi ro thanh khoản
cũng được định giá rõ rệt theo mức độ kém thanh
khoản của danh mục đầu tư trên thị trường lên. Sự
trái ngược dấu của wp trên hai nhóm danh mục thanh
khoản kém và tốt cũng phù hợp với giả thuyết nêu
ra.

129

Tài liệu cùng danh mục Đầu tư Chứng khoán

The insider guide to trading the world stock markets_6

Tham khảo tài liệu 'the insider guide to trading the world stock markets_6', tài chính - ngân hàng, đầu tư chứng khoán phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Phân tích chiến lược của doanh nghiệp

Phân tích chiến lược của doanh nghiệp là việc nghiên cứu thuần tuý về doanh nghiệp. Ngoài bảng tổng kết tài sản và bảng cân đối tài khoản, nó còn dựa trên một số yếu tố khác. Việc phân tích chiến lược có thể bao gồm: Lịch sử của doanh nghiệp Đôi khi việc nghiên cứu quá khứ của một doanh nghiệp là điều rất có ích để có thể hiểu rõ được chiến lược phát triển của nó hiện nay và trong tương lai. Ngoài ngày thành lập, điều có thể tạo thuận lợi cho việc theo dõi khả năng......


The Intelligent Investor: The Definitive Book On Value part 54

The Intelligent Investor: The Definitive Book On Value part 54. The purpose of this book is to supply, in a form suitable for laymen, guidance in the adoption and execution of an investment policy. Comparatively little will be said here about the technique of analyzing securities; attention will be paid chiefly to investment principles and investors’ attitudes. We shall, however, provide a number of condensed comparisons of specific securities - chiefly in pairs appearing side by side in the New York Stock Exchange list in order to bring home in concrete fashion the important elements involved in specific choices of common stocks....


Bài giảng Thị trường chứng khoán: Chương 1 - Trần Hải Yến

Bài giảng Thị trường chứng khoán: Chương 1 - Tổng quan về thị trường chứng khoán có nội dung trình bày thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, hàng hóa trên thị trường chứng khoán và một số nội dung liên quan.


Học thuyết thị trường hiệu quả với TTCK Việt Nam

Từ trước đến nay, để phân tích đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư (NĐT) thường sử dụng 2 học thuyết phân tích thông dụng là: phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Đây là 2 học thuyết phân tích có từ những ngày đầu tiên trong lịch sử TTCK thế giới. Một học thuyết phân tích được ra đời muộn hơn, phủ định lại 2 học thuyết kia, đó là học thuyết thị trường hiệu quả (efficient market theory)....


Lệnh giao dịch chứng khoán

Một lệnh chỉ ra giao dịch được thực hiện tại phiên đóng cửa của thị trường, hoặc gần giá đóng cửa nhất có thể. Về bản chất, đây là một lệnh thị trường không được nhập vào cho đến phút cuối của giao dịch. Với loại giao dịch này, bạn không cần phải bảo đảm mức giá đóng cửa nhưng sẽ là một thứ tương tự như vậy.


Từ điển chứng khoán Chủ đề E

Chủ đề E EARNING ASSETS: Tài sản sinh lợi Tài sản làm phát sinh tiền lãi hay sản sinh ra lợi tức - nguồn chính yếu của lợi tức thuận của ngân hàng. Bao gồm trong loại tài sản này là: tiền cho vay và hợp đồng thuê mướn


Nguyên tắc sóng Elliott

Nguyên tắc sóng Elliott là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật mà một số nhà kinh doanh chứng khoán dùng để phân tích những xu hướng giá trong các thị trường tài chánh.


Lòng tin và bản cáo bạch

Trong một thị trường minh bạch, phân tích tài chính một cách đúng đắn sẽ giúp cho nhà đầu tư có thể đánh giá được tình hình tài chính và tiềm năng của một công ty.


“Vũng lầy” cổ phiếu “FDI”

Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sau thời gian hoạt động đã chuyển đổi thành công ty cổ phần và niêm yết, tạo thành nhóm các cổ phiếu "FDI" trên hai sàn tập trung.


Tài liệu mới download

VSTEP speaking part 2 sample answers
  • 28/03/2017
  • 89.372
  • 829

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Khi nào nên bán ra cổ phiếu
  • 22/09/2010
  • 30.209
  • 666
Phân tích kĩ thuật-P.1
  • 24/12/2009
  • 36.396
  • 532

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu