Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết Quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015 trình bày bộ luật dân sự năm 2015 kế thừa Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 1995, tiếp tục quy định về trường hợp “hạn chế năng lực hành vi dân sự”. Tuy nhiên, nội dung quy định lại hầu như không thay đổi dù còn nhiều vấn đề bất cập,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 1-12

DOI:10.22144/jvn.2017.624

QUY ĐỊNH VỀ HẠN CHẾ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Thân Thị Ngọc Bích
Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận: 03/11/2016
Ngày chấp nhận: 28/02/2017

Title:
Restrictions on civil act
capacity in the 2015 Civil
code
Từ khóa:
Hạn chế năng lực hành vi,
phá tán tài sản, nghiện ma
túy, nghiện ngập
Keywords:
Addiction, damage
properties, drug addiction,
restrictions on civil act
capacity

ABSTRACT
The 2015 Civil code succeeds the 1995 Civil code and the 2005 Civil code.
Among its articles, this new Code provides restrictions on civil act
capacity. However, the contents of this article remain unchanged in
comparison with those of the two previous laws, leading to some
shortcomings. This note is aimed to provide some analyses in forensic
drug test for drug addicted individuals and suggest how to define whether
such person has squandered his/her family properties. Followed by some
examines focusing on the ability to act other civil rights, such as asking for
divorce, of the person who are being restricted on civil act capacity, and
therefore, a system to protect such person is needed. Finally, definitions of
some legal terms and some solutions to reform the relevant provisions
were provided.
TÓM TẮT
Bộ luật dân sự năm 2015 kế thừa Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân
sự năm 1995, tiếp tục quy định về trường hợp “hạn chế năng lực hành vi
dân sự”. Tuy nhiên, nội dung quy định lại hầu như không thay đổi dù còn
nhiều vấn đề bất cập. Trong bài viết này, tác giả phân tích, làm rõ các vấn
đề nổi bật, gồm có: Vấn đề chưa quy định về giám định việc nghiện ma
túy, chất kích thích khác; Vấn đề quy định tác nhân gây nghiện chưa sát
thực tiễn; Vấn đề tài sản bị phá tán; Vấn đề về khả năng thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự của người hạn chế năng lực hành vi dân sự; Vấn đề thiếu
cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người hạn chế năng lực hành vi
dân sự. Song song việc trình bày bất cập, tác giả giải thích một số thuật
ngữ khác mà luật chưa làm rõ và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trích dẫn: Thân Thị Ngọc Bích, 2017. Quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự trong Bộ luật Dân sự
năm 2015. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 48d: 1-12.
thực tiễn. Tác giả tiến hành phân tích, làm rõ các
vấn đề này thông qua việc nghiên cứu về: Điều
kiện xác định người hạn chế năng lực hành vi dân
sự; Hậu quả pháp lý về khả năng thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự của người hạn chế năng lực hành
vi dân sự.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự
được đề cập qua nhiều văn bản ở các thời kỳ khác
nhau, từ Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, BLDS
năm 2005 và mới nhất có BLDS năm 2015. Tuy
nhiên, hầu như các văn bản không thay đổi nhiều
khi quy định về trường hợp hạn chế năng lực hành
vi dân sự. Do vậy, trường hợp này vẫn còn nhiều
bất cập, nhiều nội dung chưa được làm rõ, chưa sát

2 ĐIỀU KIỆN XÁC ĐỊNH NGƯỜI HẠN
CHẾ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ - BẤT
CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

1

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 1-12

2.1 Điều kiện xác định người hạn chế năng
lực hành vi dân sự

chú trọng khuyến khích, động viên cai nghiện hơn
là giới hạn giao dịch tài sản.

Trước hết, cần làm rõ thuật ngữ “năng lực hành
vi dân sự đầy đủ” bởi vì các BLDS từ trước đến
nay chưa đưa ra khái niệm của thuật ngữ này. Theo
Từ điển tiếng Việt, “đầy đủ” nghĩa là “có đủ tất cả,
không thiếu thứ gì so với yêu cầu” (Hoàng Phê,
1998). Kết hợp với Điều 19 BLDS năm 2015 có
thể định nghĩa: “Năng lực hành vi dân sự đầy đủ là
trường hợp cá nhân có khả năng bằng hành vi của
mình xác lập, thực hiện tất cả các quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Một người từ đủ 18 tuổi trở lên là người
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp
bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực
hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi.

Ví dụ: Trường hợp nhà ông Nguyễn Văn Nam,
quận Đống Đa, Hà Nội, con trai ông Nam nghiện
ma túy và đang áp dụng hình thức cai nghiện ma
túy tại gia đình được khoảng 1 tháng. Tuy nhiên,
ông Nam theo dõi thấy cháu vẫn có hành vi lén lút
bán tài sản của cá nhân và gia đình. Để tránh việc
con ông phá tán tài sản, ông có thể làm đơn yêu
cầu Tòa án tuyên bố con ông bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự (Nguyễn Văn Hải, 2011).
Hơn nữa, những người chưa đủ 18 tuổi về mặt
pháp lý chỉ có thể thực hiện những giao dịch dân
sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp
với lứa tuổi (người chưa đủ 6 tuổi thì xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện),
trừ một số trường hợp ngoại lệ khác (Điều 21
BLDS năm 2015, Điều 18, Điều 20, Điều 21 BLDS
năm 2005). Đối với các giao dịch dân sự vượt
ngoài phạm vi sinh hoạt hàng ngày và mang tính
chất phá tán tài sản, người đại diện theo pháp luật
của người chưa thành niên có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu nếu giao dịch
đã thực hiện nhưng chưa có sự đồng ý của người
đại diện (Điều 125 BLDS năm 2015). Đồng thời,
pháp luật cũng có quy định bảo vệ người chưa
thành niên bằng việc bắt buộc phải có đại diện theo
pháp luật (Điều 21, Điều 47, Điều 136 BLDS năm
2015 và các quy định khác trong Luật hôn nhân &
gia đình năm 2014) nên có thể không cần áp dụng
quy định ở Điều 24 BLDS năm 2015 về người hạn
chế năng lực hành vi dân sự cho những người chưa
thành niên lâm vào tình trạng nghiện ngập (Hoàng
Thế Liên, 2008).

Cũng theo Từ điển tiếng Việt, “hạn chế” là giữ
lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định, không để
vượt qua, như hạn chế chi tiêu (Hoàng Phê, 1998).
Thông qua nghĩa của từ “hạn chế”, suy ra “hạn chế
hành vi” mang ý nghĩa tiêu cực, nhằm giới hạn chủ
thể không thực hiện hành vi mà đáng lẽ ra mình
được phép thực hiện vì một lý do nào đó. Vì vậy,
hạn chế năng lực hành vi dân sự tức là một người
bình thường đã có năng lực hành vi đầy đủ nhưng
vì lý do nào đó bị giới hạn lại khả năng tự mình
thực hiện một số quyền và nghĩa vụ đã có. Qua đây
có thể đưa ra định nghĩa về hạn chế năng lực hành
vi dân sự như sau:“Hạn chế năng lực hành vi dân
sự là trường hợp cá nhân bị giới hạn khả năng tự
mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
so với trước khi bị Tòa án ra quyết định tuyên bố
hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
Tình trạng hạn chế năng lực hành vi dân sự dựa
trên tiền đề là tình trạng “nghiện” ma túy, chất kích
thích của cá nhân. Do vậy, BLDS không quy định
độ tuổi của người bị tuyên bố hạn chế năng lực
hành vi dân sự. Cũng vì thế, người hạn chế năng
lực hành vi có thể là người thành niên hoặc người
chưa thành niên. Trên thực tế, nếu gia đình có
người nghiện ngập thì người thân thích của người
nghiện hay đặt vấn đề làm cách nào để giới hạn
khả năng giao dịch đối với người nghiện thành
niên, tránh cho họ phá tán tài sản. Còn nếu người
nghiện chưa thành niên hầu như người thân thích
của người nghiện không đặt vấn đề giới hạn giao
dịch dân sự. Trường hợp này, gia đình chủ yếu tìm
cách để người chưa thành niên cai nghiện. Người
viết cho rằng, tâm lý của người chưa thành niên
chưa phát triển toàn diện. Nếu yêu cầu Tòa án
tuyên bố họ hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ dễ
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tâm lý, bởi xét
cho cùng, hạn chế năng lực hành vi dân sự là chế
tài dân sự áp dụng cho người vi phạm quyền, lợi
ích của người khác. Đối với người chưa thành niên,

Qua phân tích, có thể thấy hạn chế năng lực
hành vi dân sự là trường hợp luật định nhằm giới
hạn lại những quyền, nghĩa vụ dân sự đáng lẽ ra
một cá nhân được thụ hưởng. Việc giới hạn quyền
này mang ý nghĩa tiêu cực, như một chế tài dân sự
nhằm hạn chế người nghiện phá tán tài sản gia
đình. Bên cạnh đó, việc tuyên bố hạn chế năng lực
hành vi dân sự có mục đích chính là nhằm bảo vệ
quyền lợi của chính người bị tuyên hạn chế năng
lực hành vi (cụ thể là bảo vệ khối tài sản của người
hạn chế năng lực hành vi do cho rằng người này ở
trong tình trạng nghiện ngập nên khả năng nhận
thức lệch lạc, có hành vi phá tán tài sản của bản
thân và gia đình); qua đó, gián tiếp bảo vệ lợi ích
của gia đình người này.
Điều 24 BLDS năm 2015 đặt ra ba điều kiện để
cá nhân bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân
sự. Ba điều kiện này cho thấy hạn chế năng lực
hành vi dân sự có thể hiểu như chế tài dân sự. Cụ
thể như sau:
2

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 1-12

 Cá nhân phải ở trong tình trạng nghiện ma
túy, nghiện các chất kích thích khác;

giác quan hoặc hệ thần kinh (Hoàng Phê, 1998). Có
thể thấy, tác động cuối cùng của hoạt động “kích
thích” là tác động lên hệ thần kinh vì hệ thần kinh
là bộ phận điều khiển nhận thức, hành vi của con
người. Do vậy, chất kích thích là những chất tác
động lên hệ thần kinh của con người.

 Việc nghiện ngập dẫn đến hậu quả phá tán
tài sản gia đình;
 Tòa án ra quyết định tuyên bố cá nhân hạn
chế năng lực hành vi dân sự.
2.1.1 Cá nhân phải ở trong tình trạng nghiện
ma túy, nghiện các chất kích thích khác

Hơn nữa, trên phương diện y học, chất
kích thích thần kinh được định nghĩa là các
chất khi đưa vào cơ thể làm tăng cường hoạt
động của hệ thần kinh trung ương. Chất kích
thích bao gồm: Amphetamine và các chất giống
Amphetamine (Amphetamine and Amphetamine like); cocaine; các ma túy hợp pháp: cà phê, thuốc lá;
một số thuốc chống trầm cảm, thuốc chống tiết
Acetylcholine khi dùng liều cao, kéo dài. Các chất
này có tác dụng dược lý như: Thay đổi nhịp
tim, huyết áp, giãn đồng tử, đổ mồ hôi, ớn lạnh, nôn,
ói mửa; tăng hoạt động, nhận xét sai lệch, dễ bị kích
động; lạm dụng kéo dài sẽ thay đổi hành vi: hung
hăng, liều lĩnh, nóng giận, nghi ngờ, trường
hợp nặng bị loạn thần, hoang tưởng kịch phát.
Ngừng thuốc sau một thời gian dài sử dụng, với liều
cao sẽ bị hội chứng cai: cơ thể mệt mỏi, ủ rũ, mất ngủ,
có thể dẫn đến mê sảng (Trung tâm Điều dưỡng và Cai
nghiện ma túy Thanh Đa, 2016). Vậy, chất kích thích
nói chung có thể được định nghĩa như sau: “Chất
kích thích là chất khi đưa vào cơ thể làm tăng
cường hoạt động của hệ thần kinh trung ương, có
thể gây tình trạng nghiện cho người sử dụng”.
Ngoại trừ ma túy là một dạng chất kích thích đã
được văn bản pháp luật giải thích những chất khác
nếu phù hợp với khái niệm vừa nêu sẽ được xem là
“chất kích thích khác” được đề cập trong Điều 24
BLDS năm 2015.

Theo Điều 24 BLDS năm 2015, điều kiện đầu
tiên để tuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành vi
dân sự là cá nhân phải ở trong tình trạng nghiện ma
túy, nghiện các chất kích thích khác (Điều 24
BLDS năm 2015 quy định tương tự Điều 23 BLDS
năm 2005). Vấn đề là BLDS năm 2015 không quy
định một người sử dụng ma túy, chất kích thích
khác ở mức độ như thế nào được cho là “nghiện”,
và BLDS năm 2015 cũng không định nghĩa “ma
túy”, “chất kích thích khác”. Vậy, cần làm rõ ba
nội dung: định nghĩa “ma túy”, định nghĩa “chất
kích thích khác”, xác định tình trạng “nghiện”.
Một là, làm rõ về việc xác định chất “ma túy”
theo quy định pháp luật. Theo Điều 1 Nghị định số
82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ
ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất thì
chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng
thần được quy định trong các danh mục do Chính
phủ ban hành. Trong đó, “chất gây nghiện là chất
kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng
nghiện đối với người sử dụng; chất hướng thần là
chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng
nghiện đối với người sử dụng” (Điều 2 Văn bản
hợp nhất số 13/VBHN-VPQH của Văn phòng
Quốc hội ngày 23/7/2013). Điểm khác nhau giữa
chất gây nghiện và chất hướng thần là: Chất gây
nghiện chỉ cần một lần sử dụng cũng dễ gây
nghiện; Chất hướng thần thì có thể dẫn đến tình
trạng nghiện nếu sử dụng nhiều lần. Các chất được
cho là ma túy theo quy định vừa dẫn có thể liệt kê
như sau:

Ba là, làm rõ vấn đề xác định việc “nghiện”
được đề cập tại Điều 24 BLDS năm 2015. Chính
phủ đã ban hành Nghị định 94/2010/NĐ-CP vào
ngày 09/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma
túy tại gia đình, tại cộng đồng. Theo đó, đối tượng
cai nghiện là những người nghiện ma túy, được xác
định theo kết quả giám định. Như vậy, muốn biết
một người “nghiện” ma túy thì cần phải giám định.
Đối với việc nghiện chất kích thích khác, theo tác
giả cũng được giám định bởi các chủ thể có thẩm
quyền như Nghị định 94/2010/NĐ-CP quy định,
bởi, việc sử dụng hóa chất sẽ tác động lên cơ thể
con người nên không thể chỉ dựa vào biểu hiện bên
ngoài để xác định việc nghiện mà cần được giám
định bởi chủ thể có chuyên môn. Theo Điều 5
Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BLĐTBXHBYT-BCA của Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội-Bộ Y tế-Bộ Công an quy đinh
̣ chi tiế t và hướng
dẫn thi hành một số điều của Nghị định số
94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ

 Chất gây kích thích thần kinh dễ gây tình
trạng nghiện;
 Chất gây ức chế thần kinh dễ gây tình trạng
nghiện;
 Chất kích thích, ức chế thần kinh nếu sử
dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện;
 Chất gây ảo giác nếu sử dụng nhiều lần có
thể dẫn đến tình trạng nghiện.
Hai là, làm rõ việc xác định “chất kích thích
khác” theo quy định pháp luật. Hiện chưa có văn
bản hướng dẫn về chất kích thích khác. Theo Từ
điển tiếng Việt, “kích thích” tức là tác động vào
3

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 1-12

quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình,
cai nghiện ma túy tại cộng đồng:

dịch định đoạt làm sụt giảm giá trị tài sản, hao hụt
khối tài sản gia đình. Hai là, người nghiện thực
hiện những giao dịch không mang tính chất định
đoạt tài sản nhưng gián tiếp làm hao hụt tài sản
khác trong khối tài sản. Ví dụ: A đem cầm cố máy
tính bảng của anh trai để lấy tiền mua heroin hít.
Anh trai A phải dùng tiền để chuộc máy tính về.
Trong tình huống này, A không trực tiếp định đoạt
máy tính của anh trai, nhưng anh trai A phải tiêu
tốn khoản tài sản khác mới chuộc được máy tính
về. Ba là, người nghiện không thực hiện các hành
vi không phải giao dịch dân sự nhưng hậu quả dẫn
đến tiêu hủy tài sản hoặc là gia đình phải tiêu tốn
tài sản để khắc phục hậu quả do hành vi của người
nghiện gây ra. Ví dụ: sau khi A hít heroin thì tinh
thần hưng phấn dẫn đến đập phá tài sản gia đình để
phát tán sự hưng phấn.

“Người có thẩm quyền xác định người nghiện
ma túy khi đủ các điều kiện sau:
1. Là bác sỹ hoặc y sỹ có chứng chỉ hành nghề
khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật
Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn
về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do Sở Y tế các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấ p.
2. Thuộc trong các đối tượng sau
 Trạm trưởng trạm Y tế cấp xã;
 Bệnh xá trưởng Bệnh xá Quân y;
 Giám đốc, Trưởng khoa Khám bệnh các
Phòng khám khu vực, Bệnh viện cấ p huyê ̣n trở
lên;

Theo khoản 2 Điều 3 Luật hôn nhân & gia đình
năm 2014: “Gia đình là tập hợp những người gắn
bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền
và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của
Luật này”. Như vậy, tài sản gia đình sẽ là khối tài
sản thuộc sở hữu của những người có mối quan hệ
hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Người nghiện
có thể có phần quyền sở hữu hoặc không có phần
quyền sở hữu khối tài sản gia đình. Trong Điều 24
BLDS năm 2015 không quy định rõ về việc người
nghiện có quyền hay không có quyền sở hữu khối
tài sản gia đình bị phá tán. Cho nên, việc phá tán
tài sản của người nghiện bao gồm phá tán tài sản
gia đình mà người nghiện có quyền sở hữu và phá
tán tài sản gia đình mà người nghiện không có
quyền sở hữu. Nhìn chung, phá tán tài sản gia đình
là hành vi của người nghiện gây ảnh hưởng tiêu
cực đến tài sản thuộc sở hữu của những người có
mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng
với nhau, trong đó, người nghiện có thể là đồng sở
hữu của khối tài sản này.
2.1.3 Tòa án ra quyết định tuyên bố cá nhân
hạn chế năng lực hành vi dân sự

 Giám đốc, Trưởng Phòng Y tế của Trung
tâm cai nghiện ma túy”.
Mặc dù Điều 24 BLDS năm 2015 không quy
định việc “nghiện” có buộc phải giám định hay
không. Tuy nhiên, Tòa án muốn ra quyết định
tuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành vi dân sự
thì phải dựa trên tài liệu, chứng cứ đương sự giao
nộp để chứng minh yêu cầu của họ là có căn cứ,
hợp pháp. Đồng thời, Bộ y tế đã ban hành hướng
dẫn chẩn đoán người nghiện ma túy nhóm Opiats
(Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12/12/2007
của Bộ y tế hướng dẫn chẩn đoán người nghiện ma
túy nhóm Opiats). Điều này cho thấy việc xác định
tình trạng “nghiện” phải qua chẩn đoán, giám định
của cơ quan chuyên môn. Do vậy, để xác định một
người có nghiện hay không khi xét đơn yêu cầu
tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân
sự, Tòa án phải cần kết quả giám định từ những tổ
chức chuyên môn, tương tự như quy định trong
Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BLĐTBXHBYT-BCA.
2.1.2 Việc nghiện ngập dẫn đến hậu quả phá
tán tài sản gia đình

Dựa trên yêu cầu của người có quyền, lợi ích
liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa
án tuyên bố người nghiện hạn chế năng lực hành vi
dân sự (Điều 24 BLDS năm 2015, Điều 23 BLDS
năm 2005). Căn cứ Điều 24 BLDS năm 2015, có
hai nhóm chủ thể có quyền yêu cầu: Một là, người
có quyền, lợi ích liên quan; Hai là, cơ quan, tổ
chức hữu quan. BLDS năm 2005 và BLDS năm
2015 không giải thích rõ về người có quyền, lợi ích
liên quan và cơ quan, tổ chức hữu quan. Theo tác
giả, hạn chế năng lực hành vi dân sự là loại năng
lực hành vi được xác định trong phạm vi quan hệ
dân sự, dùng để bảo vệ tài sản gia đình. Cho nên
quyền, lợi ích liên quan của người yêu cầu chính là

Giữa việc nghiện ngập và phá tán tài sản phải
có mối quan hệ nhân quả với nhau, “nghiện” là
nguyên nhân và “phá tán” là hậu quả. Nếu việc phá
tán tài sản không do nghiện ngập gây ra thì chưa đủ
điều kiện tuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành
vi dân sự. Cho nên, việc xác định hành vi “phá tán”
và “tài sản gia đình” rất quan trọng. Tuy nhiên,
BLDS năm 2015 không giải thích về “phá tán tài
sản” và “tài sản gia đình”.
Theo Từ điển tiếng Việt, “phá tán” là làm cho
tan nát hết, thường nói về của cải (Hoàng Phê,
1998). Suy đoán có ba trường hợp dẫn đến “phá
tán” tài sản. Một là, người nghiện thực hiện giao
4

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 1-12

quyền dân sự, lợi ích dân sự liên quan đến tài sản
gia đình bị người hạn chế năng lực hành vi dân sự
phá tán.

ra, đối với việc dân sự, cơ quan, tổ chức hữu quan
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình mới
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố cá nhân hạn chế
năng lực hành vi dân sự. Để khắc phục thiếu sót
này, pháp luật tố tụng dân sự cần bổ sung quy định
về cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết việc dân sự nói chung, yêu cầu
tuyên bố người hạn chế năng lực hành vi dân sự nói
riêng. Cụ thể, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu có
thể là cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn
quản lý nhà nước về vấn đề cai nghiện, tệ nạn xã
hội.
2.2 Bất cập và hướng hoàn thiện điều kiện
để tuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành vi
dân sự
2.2.1 Quy định về tác nhân gây nghiện

Ví dụ: Ông A có vợ, con và đang phụng dưỡng
mẹ già. Tuy nhiên, A nghiện ma túy nhiều năm,
ngày nào cũng tiêu phí tiền của để thỏa mãn cơn
nghiện, đồng thời mỗi lần sử dụng ma túy xong
ông A lại đánh vợ, con và chửi mắng mẹ già. Nếu
như A tiêu phí hết tài sản do vợ chồng ông A tạo
lập thì mẹ, vợ và con ông A sẽ không đủ khả năng
tài chính để duy trì cuộc sống. Mẹ ông A (không có
quyền sở hữu đối với tài sản đang bị ông A phá
tán) trong trường hợp này có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố ông A bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
để ngăn chặn ông A phá tán tài sản vì mẹ ông A có
quyền được nhận cấp dưỡng từ ông A, nếu ông A
phá tán tài sản thì có thể không đủ điều kiện tài
chính để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Bất cập
Theo Điều 24 BLDS năm 2015, tác nhân gây
nghiện là ma túy, chất kích thích khác, tức là hóa
chất. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy thực tiễn cá nhân
có thể bị những tác nhân khác gây “nghiện”. Theo
Nguyễn Khắc Dũng – bác sĩ Bệnh viện tâm thần
ban ngày Mai Hương: “Nghiện là sự lệ thuộc, thèm
muốn 1 tác nhân (1 chất,1 thứ gì đó) mà khi giảm
hoặc ngừng có thể dẫn đến các triệu chứng đặc thù
về cơ thể, sinh lý và tâm thần”. Theo đó, ngoài
nghiện ma túy, chất kích thích khác, cá nhân còn
có thể bị tác nhân phi vật chất gây ra tình trạng
nghiện – còn gọi là “nghiện hành vi”. Ví dụ:
nghiện cờ bạc, nghiện game, nghiện tình dục…
Một mặt, để thỏa mãn ham muốn, người “nghiện”
hoang phí tài sản – đặc biệt là nghiện cờ bạc,
nghiện game. Mặt khác, các rối loạn nghiện cờ bạc
thường kết hợp với rối loạn nhân cách như rối loạn
sự thích ứng, rối loạn phân ly, tự yêu, trạng thái
phụ thuộc hoặc nhân cách bệnh chống xã hội
(Nguyễn Khắc Dũng, 2016). Dĩ nhiên, hậu quả vẫn
chưa đến mức không có khả năng nhận thức, điều
khiển hành vi đủ để yêu cầu tuyên bố người nghiện này
mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 BLDS năm
2015.

Ngoài việc quy định chủ thể có quyền yêu cầu
là người có quyền, lợi ích liên quan, Điều 24
BLDS năm 2015 còn cho phép cơ quan, tổ chức
hữu quan cũng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố
người nghiện hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Luật chưa quy định cụ thể về “cơ quan, tổ chức
hữu quan”. Theo từ điển tiếng Việt (1998) của
Hoàng Phê, “hữu quan” là có liên quan. Vậy, cơ
quan, tổ chức hữu quan đề cập trong Điều 24
BLDS năm 2015 là cơ quan, tổ chức có liên quan
đến việc tuyên bố người nghiện hạn chế năng lực
hành vi. Sự “liên quan” mà luật đề cập có thể là
liên quan về nhiều mặt như: liên quan về quyền, về
lợi ích, về thẩm quyền quản lý… Tuy nhiên, cơ
quan, tổ chức hữu quan không phải là cơ quan, tổ
chức có liên quan về quyền, lợi ích mà là liên quan
về thẩm quyền quản lý vì Điều 24 đã đề cập đến
“người có quyền, lợi ích liên quan” – “người” ở
đây được hiểu gồm cá nhân và tổ chức.
Tại Phần thứ 6 của Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) năm 2015 quy định về thủ tục giải
quyết việc dân sự không quy định cơ quan, tổ chức
hữu quan nào có quyền yêu cầu giải quyết việc dân
sự. Tuy nhiên, Điều 361 BLTTDS năm 2015 cho
phép áp dụng quy định ở phần khác nếu như Phần
thứ 6 của BLTTDS năm 2015 không quy định.
Theo đó, Điều 187 BLTTDS năm 2015 quy định
về “Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công
cộng và lợi ích của Nhà nước”, trong Điều 187 này
không quy định về cơ quan, tổ chức có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố một người hạn chế năng lực
hành vi dân sự.

Một ý kiến khác, theo Bùi Quang Huy, Chủ
nhiệm Khoa Tâm thần, Bệnh viện 103 thì: “Với
người nghiện cờ bạc, đa số bệnh nhân và người
nhà chỉ cho đó là hư hỏng. 100% bệnh nhân không
chịu thừa nhận mình mắc bệnh, nên công tác chữa
trị chỉ được thực hiện khi bệnh nhân gây ra nhiều
hậu quả lớn về kinh tế, tinh thần...”. Bên cạnh các
trò cờ bạc, trên thực tế, cá độ online ngày càng phổ
biến và nguy hiểm ở chỗ những hình ảnh, âm nhạc,
con số người đặt gây ra kích thích trung khu gây
hưng phấn cờ bạc. Khi đó mọi hưng phấn về công
việc, âm nhạc, chơi thể thao… sẽ suy giảm,
nhường chỗ cho hưng phấn cờ bạc, kích thích con

Căn cứ Điều 187, cơ quan, tổ chức muốn khởi
kiện vụ án dân sự thì vụ án dân sự đó phải nằm
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Suy
5

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Bài giảng Pháp luật về kinh tế - TS. Lê Văn Hưng (ĐH Kinh tế)

Bài giảng Pháp luật về kinh tế trình bày một số nội dung như: Pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư, hợp đồng kinh doanh, pháp luật về cạnh tranh, giải quyết tranh chấp, pháp luật về phá sản, pháp luật lao động,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người: Phần 1 - ĐHQG Hà Nội

Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người: Phần 1 trình bày các nội dung: Nhập môn lý luận và pháp luật về quyền con người, khái quát về quyền con người, khái quát luật quốc tế về quyền con người, các quyền dân sự và chính trị trong luật quốc tế.


FEMINIST PERSPECTIVES ON CRIMINAL LAW

Crime and society’s responses to it, like virtually all social phenomena, are heavily influenced by issues of gender. Gender distinctions are made in deciding what activities are criminal. Gender significantly affects who commits crimes and what crimes they commit. Those involved in enforcing the criminal law—the police, other enforcement agencies, prosecutors, juries and judges—are influenced by gender in deciding who might have committed crimes, who ought to be prosecuted, whether they are, in fact, guilty and how they should be punished....


Một số đề thi Luật đất đai

Phân tích những sửa đổi, bổ sung trong quy định về đất ở đô thị trong Luật đất đai 2003? Nêu ý nghĩa của những thay đổi đó? Năm 1990, ông A cho B và C thuê đất diện tích 2500m2 để sử dụng. Đến năm 1995 ông B mua hẳn mảnh đất đó và sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.


CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP

2.1 KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP 2.1.1 Khái niệm hành vi kinh doanh - Kinh doanh là việc các chủ thể thực hiện một cách thường xuyên, liên tục một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nhằm mục đích tìm kiêm lợi nhuận - Có hai điểm cơ bản để phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạt động xã hội khác không phải là kinh doanh, ngay cả với hoạt động quản lý nhà nước kinh tế (i) Để tiến...


THEGLOBAL ENVIRONMENT AND INTERNATIONAL LAW

Those who have followed the attempts in Rio de Janeiro, The Hague, Nairobi, Stockholm, Montreal, Kyoto, Buenos Aires, and Johannesburg to construct an international law of the environment have witnessed an intense, active, colorful, fascinating, and often confusing drama. They may have wondered whether the sometimes circuslike sessions involving heads of state and indigenous people and observers actually can produce what they understand to be effective law. Many legal specialists also question the contribution of the immense outpouring of instruments created to address global environmental degradation in the last several decades....


Giáo trình-Hành chính công - chương 16

Chương 16: Cải cách hành chính Cải cách hành chính là một trong những nội dung cơ bản của khoa học nghiên cứu về hành chính nói chung và Hành chính nhà nước nói riêng. Cải cách hành chính là một vấn đề được quan tâm phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới nhằm làm đòn bẩy để nâng cao


TRẮC NGHIỆM LUẬT KINH TẾPHẦN PHÁ SẢN

TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ TRẮC NGHIỆM LUẬT KINH TẾPHẦN PHÁ SẢN


Bài giảng Pháp luật về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước - Nguyễn Xuân Đào

Bài giảng Pháp luật về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước tập trung trình bày các vấn đề về tổng quan về đấu thầu; phương pháp đấu thầu; hợp đồng; kế hoạch đấu thầu; sơ tuyển nhà thầu; đấu thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp; đấu thầu dịch vụ tư vấn;...


Ebook Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam: Phần 1 – NXB Lao động Xã hội

Phần 1 của ebook “Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam” này tập hợp một số bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề di cư lao động quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa của các giảng viên của Khoa Luật và một số chuyên gia bên ngoài về vấn đề này. Hy vọng cuốn sách sẽ trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà lập pháp, các giảng viên, sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề lao động di trú trên thế giới và ở Việt Nam.


Tài liệu mới download

Tập viết - Chữ hoa X Y
  • 22/07/2010
  • 26.583
  • 773
Quyết định số: 623/ĐVN/KTNĐ
  • 04/03/2016
  • 88.677
  • 904

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu