Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

Bài viết Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam trình bày: Pháp luật đó có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ cạnh tranh, bảo đảm trật tự thị trường, bảo vệ quyền cạnh tranh tự do bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,... Mời các bạn cùng tham khảo



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Pháp luật về kiểm soát
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
Nguyễn Thị Trâm1
1

Học viện Chính trị Khu vực II.
Email: tramnt@hcma2.edu.vn
Nhận ngày 22 tháng 7 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 11 năm 2017.

Tóm tắt: Ở Việt Nam, pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ra đời cùng Luật Cạnh
tranh năm 2004. Pháp luật đó có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ cạnh tranh, bảo đảm trật tự thị
trường, bảo vệ quyền cạnh tranh tự do bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh cũng còn những hạn chế, gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện kiểm soát thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, đó là: các quy định về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
(TTHCCT) vẫn chưa đầy đủ; quy định về cấm TTHCCT còn nhiều hạn chế; quy định về xử lý vi
phạm pháp luật chưa phân định rõ hình thức xử lý; quy định về miễn trừ thiếu tính bao quát.
Từ khóa: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Luật Cạnh tranh 2004, pháp luật.
Phân loại ngành: Luật học
Abstract: In Vietnam, the law to control competition restriction agreement was started with the
Competition Law in 2004. The law has had positive effects in protecting competition, ensuring the
market order, protecting the right to freedom and equality in competition and the legitimate rights
and interests of business entities, as well as protecting consumers' interests. However, the law
controlling the competition restriction agreement does have limitations, which affect the process of
controlling such agreement in Vietnam. The limitations include the incomplete regulation on the
behaviours of such agreement, the inadequacies in the stipulations on the ban against the
agreement, with the regulation on handling breaches remaining unclear, and regulation on
exemptions not sufficiently covering.
Keywords: Competition restriction agreement, the 2004 Competition Law, law.
Subject classification: Jurisprudence

43

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

1. Đặt vấn đề
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT là hệ
thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong việc
kiểm soát các thỏa thuận làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường.
Luật Cạnh tranh được coi là “hiến pháp”
của nền kinh tế thị trường. Cùng với pháp
luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường và kiểm soát tập
trung kinh tế, pháp luật về TTHCCT là
một trong ba trụ cột của pháp luật về kiểm
soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Ở Việt
Nam, Luật Cạnh tranh 2004 là văn bản luật
đầu tiên quy định một cách khá đầy đủ về
kiểm soát TTHCCT. Bài viết làm rõ quá
trình ra đời, phát triển cũng như các hiệu
quả mà pháp luật về kiểm soát TTHCCT
mang lại, đồng thời chỉ ra những hạn chế,
bất cập của pháp luật gây ảnh hưởng đến
quá trình thực thi kiểm soát TTHCCT.

2. Quy định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT ở Việt Nam
Trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam ra đời khá muộn.
Văn bản luật đầu tiên trực tiếp ghi nhận và
bảo vệ quyền tự do cạnh tranh là Luật
Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, Luật
Thương mại 1997 chỉ điều chỉnh các hành
vi được pháp luật coi là các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh (như bán phá giá,
đầu cơ, gièm pha thương nhân khác...). Luật
Các tổ chức tín dụng 1997 cũng ghi nhận
“Các tổ chức hoạt động ngân hàng được
hợp tác và cạnh tranh hợp pháp” tại Điều 16
nhưng tương tự như Luật Thương mại
1997. Các hành vi luật nghiêm cấm cũng là
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Vào thời điểm này, những quy định về kiểm
44

soát hành vi hạn chế cạnh tranh vẫn còn
hoàn toàn xa lạ với pháp luật Việt Nam.
Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH
có thể được xem là văn bản quy phạm pháp
luật đầu tiên quy định về kiểm soát
TTHCCT khi cấm các tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh “Cấu kết với tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh khác để liên kết
độc quyền về giá, gây thiệt hại đến lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi
ích của Nhà nước” (Điều 28, Khoản 1). Đây
là các hành vi thỏa thuận ấn định giá sau
này đã được Luật Cạnh tranh 2004 điều
chỉnh. Tuy nhiên, quy định trong Pháp lệnh
Giá chỉ là một điều khoản nhỏ nên chưa đủ
hình thành chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT.
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan
của đời sống kinh tế xã hội, cũng là từ yêu
cầu hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế thị
trường nhằm gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), đến năm 2003, Chính phủ
chính thức giao Bộ Thương mại chủ trì xây
dựng Dự thảo Luật Cạnh tranh và ngày
03/12/2004, Quốc hội khóa XI đã thông qua
Luật Cạnh tranh 2004. Đây là văn bản luật
chính thức và đầy đủ nhất về pháp luật cạnh
tranh, gồm cả luật nội dung và luật hình
thức, điều chỉnh hành vi cạnh tranh không
lành mạnh và hạn chế cạnh tranh. Với sự ra
đời của Luật Cạnh tranh 2004, pháp luật về
kiểm soát TTHCCT được hình thành tương
đối đầy đủ, có vị trí luật chung; các văn bản
luật khác (như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật
Đấu thầu, Luật Giá, Luật Chứng khoán…)
có quy định về kiểm soát TTHCCT trong
các lĩnh vực cụ thể là luật chuyên ngành.
Năm 2015, với tinh thần cần phải quy
định tội phạm đối với những hành vi nguy
hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học,
công nghệ và hội nhập quốc tế, Bộ luật
Hình sự (sửa đổi) đã bổ sung một điều luật

Nguyễn Thị Trâm

mới “Tội vi phạm các quy định về cạnh
tranh” với mức phạt tiền có thể lên tới 3 tỷ
đồng, mức phạt tù có thể lên tới 05 năm,
cùng với các hình phạt bổ sung. Khi Bộ luật
Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành vào ngày
01/01/2018, lần đầu tiên Việt Nam sẽ áp
dụng biện pháp hình sự với các TTHCCT vi
phạm pháp luật nhằm tăng hiệu quả kiểm
soát TTHCCT.
Bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam
thời gian qua (đặc biệt khi Việt Nam hội
nhập sâu, rộng hơn với nền kinh tế thế giới)
đã có nhiều thay đổi. Tình hình đó đã tác
động đến một số nội dung của Luật Cạnh
tranh và làm cho nó không còn phù hợp
nữa. Do vậy, Quốc hội khóa XIV đã quyết
định sửa đổi Luật Cạnh tranh 2004, với
nhiều nội dung liên quan đến kiểm soát
TTHCCT. Văn bản luật dự thảo dự kiến sẽ
được thông qua vào tháng 5 năm 2018.
Trong tương lai gần, pháp luật về kiểm soát
TTHCCT sẽ tiếp tục có những bước phát
triển mới.

3. Những thành tựu của pháp luật về
kiểm soát TTHCCT của Việt Nam
Thứ nhất, sự hình thành chế định pháp luật
về kiểm soát TTHCCT đánh dấu lần đầu
tiên Việt Nam có được một chế định pháp
luật tương đối toàn diện gồm cả luật nội
dung và luật hình thức về kiểm soát
TTHCCT. Vị thế pháp lý của Việt Nam
trong lĩnh vực này là khá cao so với các
nước trong khu vực ASEAN; chỉ đứng sau
Thái Lan, Indonesia và ngang với
Singapore. Chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT của Việt Nam đã thể hiện được
tinh thần bảo vệ cạnh tranh tự do, lành
mạnh; về cơ bản tương đồng với pháp luật
cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới;
đáp ứng phần nào yêu cầu hội nhập quốc tế
của Việt Nam.

Thứ hai, chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT của Việt Nam được xây dựng
hợp lý, lôgíc theo cấu trúc quy định hành
vi/cấm/miễn trừ. Các quy định về TTHCCT
(bao gồm các hành vi TTHCCT bị cấm và
các quy định về miễn trừ đối với TTHCCT)
được thiết kế tại Luật Cạnh tranh 2004
thành ba điều khoản (Điều 8, Điều 9 và
Điều 10) nối tiếp nhau. Quy định về xử lý
vi phạm và quy định về trình tự, thủ tục
điều tra và xử lý vụ việc TTHCCT được
thiết kế ở chương V (Điều tra, xử lý vụ việc
cạnh tranh). Đây là một cấu trúc hợp lý,
chặt chẽ, tạo điều kiện tiếp cận nội dung
của chế định một cách dễ dàng.
Thứ ba, chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT Việt Nam đã điều chỉnh tương
đối đầy đủ các quan hệ phát sinh từ hành
vi TTHCCT. Chế định pháp luật đó xác
định được các hành vi TTHCCT và bản
chất của TTHCCT. Khoản 3, Điều 3 Luật
Cạnh tranh 2004; đã giải thích rõ ràng rằng
“hành vi hạn chế cạnh tranh” là hành vi
của doanh nghiệp “làm giảm, làm sai lệch,
cản trở cạnh tranh trên thị trường”. Luật
Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn
thi hành cũng đã định hình về một loại
hành vi mới mà trước đó chưa từng được
điều chỉnh, về cơ bản đã xác định được
những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần
kiểm soát trên thị trường2. Chế định pháp
luật đó đã xây dựng được “khung pháp lý”
cơ bản về kiểm soát TTHCCT. Khung đó
bao gồm: các quy định kiểm soát TTHCCT
(theo hai nhóm: nhóm bị cấm tuyệt đối và
nhóm bị cấm có điều kiện); các quy định
về xử lý vi phạm rất đa dạng (với các biện
pháp xử lý như cảnh cáo, phạt tiền, phạt bổ
sung, cùng các biện pháp khắc phục hậu
quả với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng);
các quy định về miễn trừ đối với TTHCCT
vi phạm pháp luật. Có thể thấy, khung
pháp lý này bước đầu đáp ứng yêu cầu
kiểm soát TTHCCT. Trên thực tế, cơ quan
45

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

quản lý cạnh tranh cũng đã áp dụng chế
định pháp lý trên để xử lý vụ việc thỏa
thuận ấn định giá của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010 và vụ
việc thỏa thuận ấn định mức phí bảo hiểm
học sinh tại Khánh Hòa vào năm 2013.
Thứ tư, Luật Cạnh tranh 2004 và các văn
bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp
lý để xây dựng và tổ chức hoạt động đối với
Hội đồng cạnh tranh và Cục Quản lý cạnh
tranh (các cơ quan thực hiện pháp luật về
kiểm soát TTHCCT). Trên thực tế, hoạt
động của các cơ quan này đã đạt được
những thành tích đáng ghi nhận.

4. Những hạn chế của pháp luật về kiểm
soát TTHCCT của Việt Nam
Trong hơn mười năm thực thi, pháp luật về
kiểm soát TTHCCT đã đạt được nhiều
thành quả, nhưng nó đã và đang bộc lộ
những hạn chế nhất định.
Một là, các quy định về hành vi
TTHCCT hiện nay vẫn chưa đầy đủ, chưa
làm rõ chủ thể tham gia TTHCCT và chưa
bao quát hết các dạng thức TTHCCT trong
thực tiễn.
Xác định một TTHCCT cần phải có ít
nhất hai yếu tố; đó là “thỏa thuận”. và
“hạn chế cạnh tranh”. Pháp luật hiện hành
đã làm rõ về “hạn chế cạnh tranh” tại
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004,
nhưng đã bỏ sót yếu tố “thỏa thuận”. Pháp
luật cần làm rõ rằng một TTHCCT có hay
không có sự thống nhất ý chí giữa các bên,
cùng các phương thức thể hiện sự thống
nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa
thuận đó (chẳng hạn là cam kết, thống nhất
cùng hành động, hay là những cử chỉ ngụ ý
thể hiện dưới bất kể hình thức nào). Mặc
dù pháp luật Việt Nam cũng như nhiều
quốc gia khác cấm bất kỳ hình thức thông
đồng làm sai lệch cạnh tranh, “nhưng (nó)
46

không làm mất đi quyền của các chủ thể
kinh doanh được thích nghi với một cách
thông minh với các hành vi hiện tại và
tương lai của đối thủ cạnh tranh của họ”3.
Trường hợp doanh nghiệp có các “hành vi
tương đồng”, “hành vi song song” nhằm
thích nghi với hành vi cạnh tranh của đối
thủ, nhưng không có sự thống nhất ý chí
giữa các bên, thì trường hợp đó không thể
có TTHCCT. Do đó, xác định có hay
không sự thống nhất giữa các đối thủ kinh
doanh là vấn đề rất quan trọng mà pháp
luật về kiểm soát TTHCCT của Việt Nam
cần lưu ý.
Quy định về hành vi TTHCCT hiện nay
cũng chưa làm rõ chủ thể tham gia
TTHCCT. Kinh tế học đã xác định chủ thể
tham gia TTHCCT là các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường, TTHCCT là trò chơi của
các doanh nghiệp trong thị trường độc
quyền nhóm hợp tác với nhau để có đủ sức
mạnh chi phối thị trường [4, tr.48]. Luật
Cạnh tranh 2004 quy định về đối tượng áp
dụng là các doanh nghiệp và hiệp hội ngành
nghề hoạt động ở Việt Nam. Như vậy, luật
vẫn thiếu sự rõ ràng về thuộc tính chủ thể
TTHCCT là “các đối thủ cạnh tranh”.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành với
quy định cụ thể 8 dạng TTHCCT đã làm
thu hẹp phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
Cách xây dựng quy định về hành vi
TTHCCT vừa cứng nhắc, vừa hẹp của pháp
luật Việt Nam hoàn toàn không theo kịp
thực tiễn, bỏ sót những TTHCCT, gây tác
dụng tiêu cực, gây khó khăn cho cơ quan
thực thi pháp luật. Hướng hoàn thiện là cần
quy định các “tiêu chí” để xác định
TTHCCT chứ không quy định liệt kê hành
vi cụ thể.
Hai là, các quy định về cấm TTHCCT
còn nhiều hạn chế; quy định coi nhóm
TTHCCT bị cấm có điều kiện sử dụng thị
phần là cơ sở duy nhất để xác định điều
kiện cấm là quy định chưa hợp lý; quy định

Nguyễn Thị Trâm

về nhóm TTHCCT bị cấm tuyệt đối bất cập
và không tương thích với pháp luật nhiều
quốc gia trên thế giới.
Những TTHCCT bị cấm tuyệt đối
(những thỏa thuận mang bản chất hạn chế
cạnh tranh “mà không phải có thêm sự bổ
sung nào khác”) thường áp dụng với các
TTHCCT nghiêm trọng như thỏa thuận ấn
định giá hàng hóa một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm
soát sản lượng, thỏa thuận phân chia thị
trường, khu vực, khách hàng và thông đồng
đấu thầu [2, tr.13]. Trong các TTHCCT
thuộc nhóm bị cấm tuyệt đối của pháp luật
Việt Nam không có thỏa thuận ấn định giá,
thỏa thuận hạn chế sản lượng hoặc hạn
ngạch, thỏa thuận phân chia thị trường.
Trong điều kiện riêng của nền kinh tế thị
trường Việt Nam, những thỏa thuận ngăn
cản, kìm hãm, loại bỏ mang lại tác hại
nghiêm trọng, nên cần được cấm tuyệt đối.
Nhưng cũng cần xem xét đánh giá những
TTHCCT thuộc nhóm nghiêm trọng. Kinh
tế học coi thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh
tranh về giá là một trong những TTHCCT
nghiêm trọng. “Sở dĩ như vậy vì giá cả là
một trong những yếu tố cơ bản của thị
trường” [4, tr.55], thỏa thuận ấn định giá
luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh,
ngoài gây tác hại nghiêm trọng cho nền
kinh tế còn tác hại lớn đến người tiêu dùng.
Chế định pháp luật về kiểm soát TTHCCT
của Việt Nam không cấm tuyệt đối những
TTHCCT này; điều đó sẽ làm pháp luật
Việt Nam thiếu tương đồng với thế giới,
gây bất cập trong thực thi đối với những
thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận hạn chế
sản lượng hoặc hạn ngạch, thỏa thuận phân
chia thị trường xuyên biên giới đang rất phổ
biến hiện nay.
Đối với nhóm bị cấm có điều kiện, pháp
luật Việt Nam quy định rằng điều kiện duy
nhất là mức thị phần kết hợp trên thị trường
liên quan từ 30% trở lên của nhóm doanh

nghiệp tham gia thỏa thuận. Đây là một
điểm đặc biệt của pháp luật cạnh tranh Việt
Nam. Để xác định sức mạnh thị trường của
một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh
nghiệp, cơ quan cạnh tranh thường phải tiến
hành những nghiên cứu toàn diện và phức
tạp dựa trên việc phân tích rất nhiều yếu tố
như cấu trúc thị trường, thị phần, tỷ lệ tập
trung, rào cản gia nhập thị trường, rào cản
mở rộng thị trường... Mức thị phần kết hợp
trên thị trường liên quan chỉ là một trong
những yếu tố phản ánh sức mạnh chi phối
thị trường của nhóm doanh nghiệp tham gia
thỏa thuận, không đánh giá hoàn toàn được
khả năng gây hạn chế cạnh tranh. Bên cạnh
đó, trong nền kinh tế, mỗi ngành lại có đặc
điểm thị trường riêng, có thể có những thị
trường mà ngưỡng thị phần kết hợp tới 30%
vẫn chưa đủ tạo hệ quả tác động đến thị
trường. Do đó pháp luật kiểm soát
TTHCCT Việt Nam sử dụng thị phần là cơ
sở duy nhất để cấm TTHCCT là bất cập.
Quy định chung về một ngưỡng thị phần
kết hợp 30% cho tất cả các thị trường, các
ngành nghề, lĩnh vực cũng là bất cập. Việt
Nam nên có hướng tiếp cận thỏa đáng hơn,
đi vào bản chất của TTHCCT, đó là cân
nhắc giữa hậu quả hạn chế cạnh tranh với
tác dụng thúc đẩy cạnh tranh để xác định
điều kiện cấm, hơn là hướng tiếp cận nặng
về hình thức như hiện nay.
Ba là, các quy định về xử lý vi phạm
pháp luật chưa phân định rõ hình thức xử lý
đối với từng nhóm TTHCCT bị cấm; căn cứ
để xác định mức phạt chưa chính xác; những
quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
chưa đầy đủ.
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT của
Việt Nam dù quy định có hai nhóm (bị
cấm tuyệt đối và bị cấm có điều kiện),
nhưng lại chỉ quy định một hình thức xử lý
(nếu vi phạm).
Hình phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền,
trong đó phạt tiền được xác định theo mức
47

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Đề cương bài giảng Pháp luật đại cương (Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng) - CĐ Công nghiệp Cao su

(LHNB) Đề cương bài giảng Pháp luật đại cương (Áp dụng cho hệ Trung cấp và Cao đẳng) nêu lên một số vấn đề cơ bản về Nhà nước, pháp luật, quan hệ pháp luật; thực hiện pháp luật – vi phạm pháp luật – trách nhiệm pháp lý; ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; luật nhà nước - Hiến pháp 1992;... Mời các bạn tham khảo.


Giáo trình - Luật bảo vệ thực vật-bài 2&3

Bài 2: QUI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. QUI PHẠM PHÁP LUẬT 1.1. Khái niệm Qui phạm pháp luật là hình thức thể hiện của pháp luật thành một qui tắc xử sự nhất định mà chủ thể phải tuân theo trong các trường hợp cụ thể do Nhà nước qui định và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Qui phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật. Nó là qui tắc xử sự chung, là chuẩn mực để mọi người phải tuân theo, là tiêu...


Tiêu chí đánh giá kinh tế thị trường

1. Mức độ ảnh hưởng của Chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định của doanh nghiệp, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp, chẳng hạn thông qua việc áp dụng giá cả do nhà nước ấn định, hoặc phân biệt đối xử trong chế độ thuế, thương mại hoặc tiền tệ.   2. Không có hiện tượng Nhà nước can thiệp bóp méo hoạt động của các doanh nghiệp liên quan đến khu vực tư nhân hoá. Không sử dụng cơ chế thương mại phi thị trường hoặc các hệ thống đền...


Bài giảng Pháp luật hợp đồng - ThS. Dương Tuấn Lộc

Bài giảng Pháp luật hợp đồng gồm 3 chương, có nội dung trình bày về nghĩa vụ dân sự, khái quát về nghĩa vụ dân sự, các hợp đồng dân sự thông dụng và một số nội dung liên quan khác.


Bảng tổng hợp so sánh Luật Đất đai hiện hành, dự thảo sửa đổi Luật Đất đai, nội dung và lý do sửa đổi

Bảng tổng hợp so sánh Luật Đất đai hiện hành, dự thảo sửa đổi Luật Đất đai, nội dung và lý do sửa đổi nêu lên những nội dung chính của Luật Đất đai năm 2003 và dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Từ đó, giúp các bạn thấy được những điểm mới và tiến bộ của dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).


Những điểm mới cơ bản của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013) đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam. Bài viết này giới thiệu những điểm mới cơ bản của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 về cơ cấu và hình thức thể hiện; về chế độ chính trị; chính sách kinh tế - xã hội; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; về bộ máy nhà nước; về hiệu lực của Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.


Đề cương môn pháp luật kinh tế

Quyền thành lập doanh nghiệp. Tất cả các cá tổ chức cá nhân Việt Nam, tổ chức cá nhân nước ngoài đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp trừ các đối tượng sau bị cấm: +) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan mình.


Quy định về LUẬT ĐẤU THẦU

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đó được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về đấu thầu. CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về các hoạt động đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp đối với gói thầu thuộc các dự án sau đây: 1....


Tort Law and Human Rights

My interest in the relationship between tort law and the implementation of international human rights standards, particularly the European Convention on Human Rights, was prompted by a series of cases decided in the last decade that challenged the English courts to make public authorities accountable for their actions. Perhaps the most notable was the House of Lords’ decision in X v. Bedfordshire County Council, which held that no matter how gross a derelic- tion of duty occurred there could be no liability in the English tort of negligence where a public authority failed properly to perform its statutory obligations relating to children. This book is a development and...


BÀI I : ĐẠI CƯƠNG VỀ LUẬT KINH TẾ VÀ CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH TẠI VIỆT NAM

Khái niệm về luật kinh tế 2. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế 3. Phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế 4. Chủ thể tham gia trong luật kinh tế 5. Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường 6. Các hình thức kinh doanh tại Việt Nam 1. KHÁI NIỆM LUẬT KINH TẾ (LUẬT KINH DOANH) : Hệ thống pháp luật của một nước gồm nhiều qui định được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc, có mối liên hệ nhau, trong đó một hệ thống pháp luật gồm nhiều ngành...


Tài liệu mới download

Quyết định số: 623/ĐVN/KTNĐ
  • 04/03/2016
  • 88.677
  • 904

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Giáo trình - Y pháp - Chương 2
  • 06/07/2011
  • 96.975
  • 307
Bài giảng Quy phạm pháp luật
  • 21/09/2015
  • 42.672
  • 375

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu