Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập tài chính quốc tế

Bài viết nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 2005 - 2011 theo phương pháp SFA (Stochatic Frontier Panel Data).



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016

Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả
hoạt động của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập tài
chính quốc tế


Trần Huy Hoàng

Trường Đại học Tài chính - Marketing - Email: hoangth@ufm.edu.vn



Nguyễn Hữu Huân

Trường Đại học Kinh tế TP HCM
(Bài nhận ngày 15 tháng 01 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 29 tháng 02 năm 2016)

TÓM TẮT
Bài viết nghiên cứu về các yếu tố tác động
đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập 2005 - 2011 theo phương pháp SFA
(Stochatic Frontier Panel Data). Trong đó kết
quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động
của các NHTM chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm
nhân tố chính. Trong đó các nhân tố chủ quan

tác động bao gồm: Thị phần, rủi ro thanh
khoản, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài
và quy mô của ngân hàng. Các nhân tố khách
quan bao gồm: Tổng thu nhập quốc nội và lạm
phát của nền kinh tế. Các nhân tố tác động tích
cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM bao
gồm: tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài,
quy mô ngân hàng và thị phần của ngân hàng.

Từ khóa: hiệu quả hoạt động, ngân hàng thương mại, hội nhập tài chính.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất
yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ
quốc gia nào trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Tuy nhiên, tiến trình này ngoài việc tạo ra
những thuận lợi, cơ hội nhất định cho các quốc
gia tham gia hội nhập, còn đặt các nước này
trước những khó khăn, thách thức không nhỏ.
Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt các
doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển
nói chung, hệ thống NHTM nói riêng, trước môi

Trang 88

trường kinh doanh mới với những áp lực cạnh
tranh gay gắt cùng những đối thủ không cân sức.
Hiện nay, xét về mặt kinh tế, Việt Nam là
quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ
chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc
tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát
triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á
- Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham
gia các hiệp định thương mại tự do đa phương
với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản
một hiệp định đối tác kinh tế song phương. Đối
với lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, quá trình hội

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
nhập gắn liền với quá trình tự do hoá thị trường
tài chính, đem lại nhiều cơ hội, nhưng cũng
không ít thách thức.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích,
đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu
quả trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt
Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay để từ đó
đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM là
một vấn đề cấp thiết
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Các nghiên cứu trước đây về tính hiệu
quả hoạt động của hệ thống NHTM
Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ở các
ngân hàng đã sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau về kỹ thuật đánh giá và bộ dữ liệu. Nhưng
phần lớn các nghiên cứu này tập trung tại các
nước phát triển. Phần này sẽ tổng quan các kết
quả nghiên cứu ở Việt Nam và các nghiên cứu ở
một số nước theo các cách tiếp cận khác nhau.
Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả hoạt
động của hệ thống NHTM gần đây đã được một
số tác giả quan tâm, tuy nhiên đa phần những
nghiên cứu này chỉ dừng lại ở các nghiên cứu
định tính như: nghiên cứu của nghiên cứu sinh
Lê Thị Hương năm 2002 về “Nâng cao hiệu quả
hoạt động đầu tư của NHTM Việt Nam”, hay
nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Dân (2004) “
Vận dụng phương pháp thống kê để phân tích
hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam”, tuy
đã có phần nào tiếp cận vấn đề bằng phương
pháp định lượng nhưng chỉ dừng lại chủ yếu ở
phương thức thống kê, hoặc nghiên cứu của
Tiến sĩ Phạm Thanh Bình (2005) với đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống
NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh
tế khu vực và quốc tế” cũng chỉ dừng lại ở phân
tích định tính.

Còn các nghiên cứu định lượng về đo lường
hiệu quả hoạt động của các NHTM nhìn chung
là còn ít. Gần đây, có nghiên cứu của Bùi Duy
Phú (2002) là đánh giá hiệu quả của NHTM qua
hàm sản xuất và hàm chi phí, tuy nhiên hạn chế
của nghiên cứu này là chỉ đơn thuần xác định
hàm chi phí và ước lượng trực tiếp hàm chi phí
này để tìm các tham số của mô hình, do vậy mà
không thể tách được phần phi hiệu quả trong
hoạt động của ngân hàng. Nguyễn Thị Việt Anh
(2004) ước lượng các nhân tố phi hiệu quả cho
ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam có áp dụng phương pháp hàm biên
ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Function) và
ước lượng dưới dạng hàm chi phí Cobb_
Douglas, tuy nhiên hạn chế cơ bản của nghiên
cứu đó là việc chỉ định dạng hàm.
Như vậy, có thể nói việc áp dụng những
phương pháp phân tích định lượng trong nghiên
cứu hiệu quả của NHTM Việt Nam còn rất hạn
chế, thực tế cũng cho thấy hiện nay trong phân
tích họat động của ngành ngân hàng từ cấp ngân
hàng đến cấp ngành, các nhà phân tích vẫn quen
cách tiếp cận truyền thống, bởi vì đây vẫn là một
cách tiếp cận dễ hiểu và dễ tính.
Các nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng, tiếp cận theo phương
pháp phân tích định lượng, đã được sử dụng
trong các nghiên cứu như của Nathan và Neave
(1992) áp dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để
phân tích hiệu quả họat động các ngân hàng
Canada trong thời kỳ 1983 - 1987. Các tác giả
đã sử dụng cách tiếp cận giá trị gia tăng và cách
tiếp cận trung gian để ước tính hàm chi phí.
Trong đó, để ước lượng hàm chi phí, tác giả đã
sử dụng ba yếu tố đầu vào (lao động, vốn và các
quỹ) và bốn yếu tố đầu ra (cho vay thương mại
và công nghiệp, các loại cho vay khác, tiền gửi
có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn) theo cách
tiếp cận giá trị gia tăng, còn đối với cách tiếp

Trang 89

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
cận trung gian các tác giả sử dụng ba yếu tố đầu
vào tương tự như trên và ba yếu tố đầu ra (cho
vay thương mại và công nghiệp, các loại cho
vay khác, chứng khoán và đầu tư). Các kết quả
nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn không
có lợi thế về chi phí hơn hẳn các ngân hàng nhỏ,
điều này cũng tương đồng với nghiên cứu ở Mỹ
đó là tính kinh tế nhờ quy mô đều quan sát thấy
ở cả ngân hàng nhỏ và lớn.
Paolo Coccorese và Alfonso Pellecchia
(2010) đã tiếp cận phương pháp SCP cùng với
các mô hình: OLS, ALS, Battese - Coelli, hồi
quy Logistic và mô hình Tobit để kiểm định
thuyết “Quite Life”, từ đó đưa ra kết luận về mối
quan hệ giữa sức mạnh thị trường với hiệu quả
hoạt động ngành ngân hàng nghiên cứu tại hệ
thống ngân hàng Italia. Kết quả của bài nghiên
cứu cho thấy mối quan hệ đáng kể và khá mạnh
mẽ giữa hiệu quả hoạt động theo chi phí với sức
mạnh thị trường và xác nhận thuyết “Quite Life”
là đúng với hệ thống ngân hàng tại Italia.
Wahyoe Soedarmono, Fouad Machrouh,
Amine Tarazi (2011) nghiên cứu mối quan hệ
giữa sức mạnh thị trường, tăng trưởng kinh tế và
sự ổn định tài chính bằng cách tiếp cận phương
pháp FEM và 2SLS, nghiên cứu tại hệ thống
ngân hàng châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy
sức mạnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng
có mối quan hệ nhất định với khả năng sự tương
xứng về vốn, và sự vốn hóa ở mức độ cao của
ngành ngân hàng trong thị trường ít cạnh tranh
không đủ sức đương đầu với các rủi ro mang
tính hệ thống.
Bằng việc sử dụng phương pháp Frontier and
Non _ Frontier, mô hình OLS và mô hình Tobit,
Michael Koetter, James W. Kolari and Laura
Spierdijk (2008) nghiên cứu về mối quan hệ
giữa cạnh tranh và hiệu quả ngân hàng tại các
ngân hàng ở USA. Mô hình nghiên cứu đã tính
ra được chỉ số Lerner hiệu chỉnh, đây có thể là
một phát kiến mới trong việc nghiên cứu động

Trang 90

thái cạnh tranh của lĩnh vực ngân hàng và các
lĩnh vực khác và nó cũng có ích trong việc
nghiên cứu quá trình điều tiết, chính sách thị
trường và các bên có liên quan.
Sophocles N.Brissimis, Manthos D. Delis,
Nikolaos I. Papanikolaou (2008) sử dụng mô
hình 2SLS cùng với dữ liệu bảng của các ngân
hàng để phân tích sự ảnh hưởng của việc cơ cấu
lại hệ thống ngân hàng đến hiệu quả hoạt động
của hệ thống ngân hàng những nước mới gia
nhập khu vực Euro. Kết quả nghiên cứu cho
thấy mối quan hệ cùng chiều giữa việc tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng với tính hiệu quả của hệ
thống ngân hàng dưới tác động của các nhân tố
vĩ mô.
Nghiên cứu của Rima Turk Ariss (2010) đã
tiếp cận mô hình OLS và Tobit để khám phá
mức độ của sức mạnh thị trường tác động như
thế nào đến hiệu quả và tính ổn định của hệ
thống trong bối cảnh của các nền kinh tế đang
phát triển. Nghiên cứu không tìm thấy bằng
chứng mạnh mẽ về mối quan hệ chiến lược cạnh
tranh và sự ổn định tài chính tại các quốc gia
đang phát triển. Tuy nhiên nghiên cứu đã giải
thích được tác động của sức mạnh thị trường
đến hiệu quả và sự ổn định của từng ngân hàng
tại các quốc gia này.
Barbara Casu và Claudia Giardone (2011)
trong bài nghiên cứu của mình đã áp dụng
phương pháp tiếp cận trung gian và 2 mô hình
SFA, DEA để xem xét mối quan hệ giữa mức độ
cạnh tranh, mức độ tập trung và mức hiệu quả
cụ thể của các NHTM khu vực Euro. Nghiên
cứu tìm ra được mối quan hệ phi tuyến giữa sự
cạnh tranh và tính hiệu quả và các nhân tố khác
như: độ nhạy cảm với rủi ro, khung điều tiết và
các nhân tố vĩ mô khác có thể ảnh hưởng trực
tiếp và gián tiếp đến mối quan hệ này và vì vậy
có thể giải thích cho các nghiên cứu sau này
trong cùng khu vực Euro.

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
Nghiên cứu của Joaquin, Maudos, Juan
Fernandez de Guevara (2007) sử dụng mô hình
Fixed Effects để phân tích mối quan hệ giữa sức
mạnh thị trường (bao gồm thị trường cho vay và
tiền gửi) và hiệu quả của ngành ngân hàng tại 15
nước thuộc khu vực Euro. Nghiên cứu đồng tình
với thuyết “quiet life”: việc thêm vào chi phí
vận hành có thể quy cho sự xuất hiện của sức
mạnh thị trường trong một thời gian dài lớn hơn
tốn thất xã hội, điều này được lý giải là do sự
không cạnh tranh về giá trong yếu tố đầu ra của
ngân hàng và được tính bằng phúc lợi lũy thừa
3.

các chỉ tiêu tuyệt đối, về cơ bản nó phản ánh
quy mô sử dụng các đầu vào để tạo ra các đầu ra
trong hoạt động ngân hàng và chủ yếu mang
tính chất thời điểm. Đồng thời đây cũng chỉ là
các chỉ tiêu đơn mặc dù có các chỉ tiêu phản ánh
hoạt động toàn bộ của ngân hàng nhưng cũng
chỉ cho phép so sánh hai biến số với nhau. Hơn
nữa, các chỉ tiêu quá đơn điệu và hết sức chung,
khó giúp nhà quản lý có thể đưa ra được các
quyết định đúng thời điểm và hầu như các chỉ
tiêu này chủ yếu nghiêng về mục tiêu báo cáo tài
chính hơn là đi sâu phân tích hoạt động ngân
hàng.

Nghiên cứu của Hirofumi Uchida, Yoshiro
Tsuitsui (2005) đã sử dụng mô hình MVR,
3SLS để xem xét liệu rằng sự cạnh tranh giữa
các khu vực ngân hàng ở Nhật Bản có thực sự
được cải thiện trong những năm cuối của thế kỷ
20 hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự
cạnh tranh giữa các ngân hàng ở thành thị cao
hơn so với các khu vực khác và sự cạnh tranh
trong lĩnh vực ngân hàng bắt đầu mạnh lên sau
năm 1995.

Chính vì vậy hiện nay đối với các nhà quản
trị ngân hàng, khi ra quyết định phải dựa chủ
yếu vào năng lực và sự nhạy bén của bản thân
mình.

Nghiên cứu của Wiliam (2012) sử dụng mô
hình SFA, 2SLS và Tobit để phân tích mối quan
hệ giữa sức mạnh thị trường và tính hiệu quả
của các ngân hàng ở Mỹ Latinh. Nghiên cứu tìm
ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa sức mạnh thị
trường và tính hiệu quả của các ngân hàng hàng
thương mại ở khu vực Mỹ Latinh cả 2 giai đoạn
trước và sau tư hữu hóa.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Hiện nay, để đánh giá hiệu quả hoạt động
nói chung của các NHTM ở Việt Nam, các nhà
quản lý vẫn chủ yếu tiếp cận theo phương pháp
đánh giá truyền thống thông qua các chỉ tiêu tài
chính. Hơn nữa, trong quá trình tìm hiểu thực tế
và thu thập số liệu về các NHTM Việt Nam, bài
nghiên cứu nhận thấy hệ thống các chỉ tiêu tài
chính được sử dụng phổ biến trong phân tích
đánh giá hoạt động của NHTM Việt Nam chỉ là

Để bổ sung cho những phần hạn chế trên,
hiện nay trên thế giới còn sử dụng nhiều mô
hình định lượng khác nhau để đo lường hiệu quả
và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng. Riêng với bài
nghiên cứu này, bài nghiên cứu sử dụng mô
hình Stochastic Friontier Analyst (SFA) và hai
phương pháp hồi quy: hồi quy 2 Stage Least
Square (2SLS) và hồi quy Tobit để phục vụ cho
phần nghiên cứu định lượng.
2.3. Dữ liệu nghiên cứu
Nguồn số liệu được sử dụng trong các mô
hình ước lượng được thu thập từ bảng cân đối kế
toán, báo cáo thu nhập chi phí và báo cáo
thường niên của 30 NHTM Việt Nam (bao gồm
5 NHTM Nhà nước và 25 NHTM) thời kỳ 2005
- 2011. Bài nghiên cứu không sử dụng dữ liệu
năm 2012 do từ năm 2012 đến nay, vì hệ thống
NHTM có những biến động rất mạnh về cơ cấu,
và tình hình hoạt động do ảnh hưởng bởi khủng
hoảng kinh tế thế giới và sự bất ổn tài chính
trong nước, chính những biến động này có thể
gây nhiễu, tạo hiện tượng phương sai thay đổi

Trang 91

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
và ảnh hưởng đến kết quả của mô hình, khiến
cho ước lượng bị chệch.
Dựa trên nguồn số liệu hiện có và những gợi
ý từ kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế
giới về lĩnh vực mà bài nghiên cứu đang nghiên
cứu, cũng như thực tế hoạt động của các NHTM
ở Việt Nam, bài nghiên cứu xây dựng mô hình
nghiên cứu như sau:
2.4. Mô hình nghiên cứu
Đo lường hiệu quả ngân hàng, theo Berger &
Mester (1997) và Fu & Heffernan (2009), hiệu
quả X của một ngân hàng i được tính bằng chỉ
số chi phí ước lượng thấp nhất được sử dụng bởi
một ngân hàng chuẩn nhất để sản xuất một
lượng đầu ra ngang nhau trong cùng một điều
kiện ngoại sinh, từ đó ước lượng chi phí thực tế
của ngân hàng i. Ví dụ: chỉ số hiệu quả X theo
chi phí của ngân hàng I là 0,7 cho thấy rằng
ngân hàng i đạt hiệu quả 70% và thấp hơn 30%
so với ngân hàng chuẩn xét trong cùng một điều
kiện nhất định. Hiệu quả X có giá trị trong nửa
đoạn (0,1] và bằng 1 đối với ngân hàng đạt hiệu
quả cao nhất.
Tương tự như một vài nghiên cứu gần đây về
hiệu quả ngân hàng ở các ngân hàng đang phát
triển và khu vực Mỹ Latinh, Turk Ariss (2010),
and Fang, Hasan et al. (2011) and Wiliam
(2012), bài nghiên cứu này sử dụng phương
pháp SFA để ước lượng hiệu quả bằng cách thu
thập con số phi hiệu quả từ sai số ngẫu nhiên
của mô hình SFA. Bên cạnh đó, phương pháp
này còn giúp tác giả ước lượng được chi phí
biên và giá trị ước lượng biên của lợi nhuận và
tổng chi phí hoạt động từ hàm Log, từ đó tính
được chỉ số Lerner.

Trang 92

Theo Sealey & Lindley (1977) mặc dù
không có cách tiếp cận hoàn hảo trong việc xác
định đầu ra và đầu vào của ngân hàng vì không
có cách tiếp cận nào có thể phản ánh được tất cả
các hoạt động, vai trò của ngân hàng với tư cách
là chủ thể cấp các dịch vụ trung gian tài chính.
Theo hai ông, cách tiếp cận trung gian là phù
hợp nhất: xem ngân hàng là các trung gian tài
chính, kết nối khu vực tiết kiệm và khu vực đầu
tư của nền kinh tế, để phân tích và đánh giá hiệu
quả hoạt động của ngân hàng. Với cách tiếp cận
này, bài nghiên cứu sử dụng 3 biến đầu vào (tiền
gửi, lao động và vốn thực) như bài nghiên cứu
của Olson and Zoubi (2011) và một biến đầu ra (
tổng tài sản) theo như nghiên cứu của Turk
Ariss (2010). Sử dụng phương pháp SFA, bài
nghiên cứu dùng hệ số Likelihood cực đại để
ước lượng phương trình (1), từ đó thu thập được
hệ số của các biến và tỷ số hiệu quả. Ở bài
nghiên cứu này, tác giả đánh giá hiệu quả hoạt
động của ngân hàng theo 2 hướng tiếp cận: hiệu
quả theo chi phí (biến đại diện là TOC) và hiệu
quả theo lợi nhuận (biến đại diện là pbt).
Để mô hình hóa cấu trúc chi phí cơ sở của
lĩnh vực ngân hàng bài nghiên cứu sử dụng hình
thức hàm Translog của các nghiên cứu trước
như William (2012), Turk Ariss (2010) – xem
Công thức (2)
Ln TOCit = α0 + α1 ln Qit +
+
ln Wkit
+
ln
(2)
+

Qit ln

α2 (ln Qit)2

ln Wkit ln Wjit +
Wkit + φ1Trend

φ2 (Trend)2 + φ3 Trend x ln Qit +
trend ln Wkit + i

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Bài giảng Lý thuyết tài chính – tiền tệ: Phần 1

Bài giảng Lý thuyết tài chính – tiền tệ nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức, những khái niệm và những nội dung chủ yếu về Tài chính, Tiền tệ, Tín dụng và Ngân hàng. Nó có tác dụng làm cơ sở bổ trợ cho việc nghiên cứu các môn kinh tế ngành. Tập bài giảng Lý thuyết tài chính – tiền tệ được thiết kế thành 9 chương, Sau đây là phần 1 của bài giảng trình bày nội dung kiến thức trong 4 chương đầu: chương 1 đại cương về tài chính tiền tệ, chương 2 tổng quan về hệ thống tài chính, chương 3 ngân sách nhà nước, chương 4 tài chính doanh nghiệp.


BÀI 5. NGÂN HÀNG

Bạn có 1 khoản tiền nhàn rỗi mà chưa biết làm gì với nó Bạn có nhu cầu đầu tư cho 1 kế hoạch hay dự án nhưng chưa đủ tiền Bạn muốn thanh toán cho việc mua đồ qua mạng Bạn muốn có ngoại tệ để đi nước ngoài Ngân hàng là 1 tổ chức trung gian tài chính, được phép nhận tiền gửi để cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Trong đó, hoạt động chính của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, tức đi vay để cho vay...


QTKD NHTM (ĐH KTQD) - Chuyên đề Quản lý nguồn vốn và Quản lý tài sản

Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn tập trung nghiên cứu các loại nguồn tiền được truyền tải đến ngân hàng theo các kênh dẫn khác nhau, đặc điểm và các phương pháp quản lý chúng nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh mà ngân hàng đề ra.


Decomposing and Valuing the Callable Convertible Bonds: A New Method Based on Exotic Options *

In the framework of Black-Scholes-Merton option pricing models, by employing exotic options instead of plain options or warrants, this paper presents an equivalent decomposition method for the Callable Convertible Bonds (CCB). Furthermore, the analytic valuation formulae for CCB are obtained by using the analytic formulae for those simpler securities decomposed from CCB. This method is validated by comparing with Monte Carlo simulation. Besides, the effects of call clauses, coupon clauses, soft call condition clauses and dividend payment are analyzed respectively. These give a lot of new insights into the valuation and analysis of CCB and much help to replicate...


Chương 3: Nghiệp vụ hối đoái

Hối đoái giao ngay là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc. Tỷ giá giao dịch là tỷ giá giao ngay được xác định tại điểm giao dịch


Ngân hàng VIETCOMBANK

Ngân hàng TMCP Ngo i th ng Vi t Nam ạ ươ ệ (Vietcombank) được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thông qua việc bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007 tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Trải qua 45 năm phấn đấu và phát triển, Vietcombank đã không ngừng vươn lên, trở thành ngân hàng hàng đầu Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như quản lý và kinh doanh vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ, công nghệ ngân hàng… Với bề dày kinh nghiệm và...


Social Impact Bonds - A promising new financing model to accelerate social innovation and improve government performance

In deciding the course for reform, however, the innovations and experiences of markets in the region are also important. Developing markets often mimic more advanced European and North American markets. But complex structures designed for diverse developed markets are sometimes ill-suited to less-developed economies. Instead, looking to neighboring, emerging markets at similar stages of development can be more useful. For example, India’s unique collateralized borrowing and lending obligations (CBLO) system and its successful electronic trading platform could usefully be studied by its neighbors, many of which suffer from limited repo markets or which have (like India) tried unsuccessfully to move...


Bài giảng Ngân hàng và hoạt động ngân hàng - Chương 4: Chính sách tín dụng và phân tích tín dụng trong ngân hàng

Chương 4: Chính sách tín dụng và phân tích tín dụng trong ngân hàng. Nội dung chính trong chương này gồm có: Quy trình tín dụng, chính sách tín dụng, phân tích tín dụng. Mời các bạn tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.


Thị trường trái phiếu

hệ thống giao dịch trái phiếu là kênh dẫn vốn, và là nền tảng cho thị trường trái phiếu công ty. Thị trường trái phiếu cũng tăng cường sự độc ... và giá trái phiếu, lãi suất trên thị trường thứ cấp chính xác hơn. Nhờ thế, thanh khoản của thị trường thứ cấp sẽ tăng và giúp tổ chức phát hành xác định lãi suất huy động hợp lý trên thị trường ... Với việc hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt đi vào hoạt động từ hôm nay, hơn 500 loại trái phiếu với trị giá 166...


Giáo trình Lý thuyết tiền tệ tín dụng: Phần 2

Phần 2 Giáo trình Lý thuyết tiền tệ tín dụng gồm nội dung chương 4 - Thanh toán trong nền kinh tế thị trường, chương 5 - Thanh toán và tín dụng quốc tế. Soạn giả đã cố gắng thể hiện nội dung giáo trình môn học đảm bảo tính lý luận, tính khoa học và tính thực tiễn phù hợp với nhận thức chung của sinh viên Cao đẳng Nghề Kế toán. Mời các bạn cùng tham khảo.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Tài chính tiền tệ_ Chương 15
  • 13/11/2009
  • 33.366
  • 356

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu