Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Nhận thức và thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng riêng tại Việt Nam

Mục đích của nghiên cứu này xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị và tính cách tân của người tiêu dùng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng tại siêu thị ở TP.HCM.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015
NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI NHÃN HÀNG RIÊNG TẠI
VIỆT NAM
PERCEPTION AND ATTITUDE OF VIETNAMESE SHOPPERS TOWARDS PRIVATE LABELS
Nguyễn Thị Mai Trang
Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: trangntm@uel.edu.vn
(Bài nhận ngày 10 tháng 03 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 29 tháng 08 năm 2015)

TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, nhãn hàng riêng đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà quản lý siêu thị
cũng như nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, thị trường nhãn hàng riêng rất phong phú
và đã được xem như một trong những chiến lược phát triển nhãn hiệu của các nhà quản lý nhãn hàng
riêng tại siêu thi. Sự phát triển mạnh mẽ của nhãn hàng riêng đã trở thành một cuộc cạnh tranh thật sự
với các nhãn hàng của nhà sản xuất. Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này xem xét mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố như quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị và tính cách tân
của người tiêu dùng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng tại siêu thị ở TP.HCM. Với cách chọn mẫu
thuận tiện, dữ liệu thu thập được từ 196 người tiêu dùng mua sắm tại siêu thị ở TP.HCM được sử dụng
để kiểm định mô hình hồi quy bội. Kết quả nghiên cứu cho thấy bốn yếu tố về nhận thức của người tiêu
dùng về quan tâm đến giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị và tính cách tân của người
tiêu dùng đều có ảnh hưởng đến thái độ đối với nhãn hàng riêng. Trong đó, yếu tố quan tâm đến giá là
yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ đối với nhãn hàng riêng. Trong khi, người tiêu dùng thông
minh có ảnh hưởng thấp nhất đến thái độ đối với nhãn hàng riêng.
Từ khóa: nhãn hàng riêng, quan tâm đến giá, tính cách tân, hình ảnh siêu thị, người tiêu dùng thông
minh tự nhận thức, Việt Nam.
ABSTRACT
Private labels have attracted practioners as well as academics around the world in the past several
years. In Vietnam, supermarkets have considered private labels as a key branding strategy. However,
they are still under-investigated in the market. For that reason, this study attempts to examine the
influence of some key factors such as price consciousness, smart shopper self-perception, supermarket
image, and consumer innovativeness on attitude towards private labels. A convenience sample of 196
interviewed shoppers in Ho Chi Minh City was used to test the model. The findings indicate that four
hypotheses were supported, in which price consciousness has the strongest impact on attitude towards
private labels whereas smart shopper self-perception has a least impact.
Keywords: Private labels, price consciousness, consumer innovativeness, supermarket images, smart
shopper self - perception, Vietnam.

1. GIỚI THIỆU
Việt Nam được xem là một trong những thị
trường bán lẻ tiềm năng trong khu vực châu Á
– Thái Bình Dương năm 2014. Sở dĩ thị trường
bán lẻ tại Việt Nam được đánh giá cao vào bậc

nhất trong khu vực là do cơ cấu dân số trẻ và
sức mua ngày càng được cải thiện nhờ tầng lớp
trung lưu bành trướng mạnh mẽ (Lê Phương
2014). Theo Công ty Nghiên cứu thị trường
Statista (Đức), thị trường bán lẻ Việt Nam có
Trang 93

Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015
thể đạt doanh thu trên 80 tỷ USD trong năm
2014 và lên tới 100 tỷ USD vào năm 2016
(Ngọc Trần 2014). Với sự tăng trưởng mạnh
mẽ của thị trường bán lẻ cùng với sự thay đổi
thói quen mua sắm của người tiêu dùng đã
chứng minh được tiềm năng của thị trường bán
lẻ hiện đại sẽ còn vươn xa hơn nữa so với chợ
truyền thống, điều này được chứng minh là sự
đổ bộ ồ ạt của các siêu thị như Aaeon, Lotte
chiếm hơn 40% trong hơn 700 siêu thị và trung
tâm thương mại trên khắp cả nước. Theo quy
hoạch của bộ Công thương, từ nay tới năm
2020, cả nước có khoảng 1.200 - 1.300 siêu thị,
tăng gần 650 điểm so với năm 2011. Số trung
tâm thương mại và trung tâm mua sắm cũng
tăng lần lượt lên 180 và 157 điểm (Đời sống &
Pháp luật 2014). Điều này đã cho thấy một viễn
cảnh cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa các nhà
kinh doanh siêu thị.
Để tồn tại trong thị trường cạnh tranh khốc
liệt này, các nhà quản lý siêu thị thường xuyên
tổ chức hoạt động khuyến mãi để thu hút khách
hàng. Đặc biệt là việc giới thiệu nhãn hàng
riêng đến khách hàng nhằm đẩy mạnh doanh
thu. Nhãn hàng riêng (private label brands,
store brands, own brands, hoặc house brands)
được định nghĩa là thương hiệu “thuộc độc
quyền một siêu thị nào đó mà siêu thị này sở
hữu, bán, và phát triển nhãn hiệu này và cạnh
tranh với nhiều sản phẩm cùng loại với nhãn
hiệu nhà sản xuất” (Semeijin 2004, trang 247).
Khái niệm “nhãn hàng riêng” khởi xướng đầu
tiên ở Hoa Kỳ. Nhãn hàng riêng xuất hiện đầu
tiên ở các siêu thị tại Hoa Kỳ vào năm 1970 ở
dạng bao bì rất đơn giản, chỉ có màu trắng và
màu đen. Đặc điểm của nhãn hàng riêng lúc đó
được mô tả như giá của nhãn hàng riêng thấp
hơn nhãn hàng của nhà sản xuất, không nhận
được hoặc nhận được rất ít sự hỗ trợ của hoạt
động quảng cáo, chất lượng của sản phẩm nhãn
hàng riêng cũng thấp hơn nhãn hiệu của nhà
sản xuất. Lúc này, doanh thu của sản phẩm

Trang 94

nhãn hàng riêng chỉ chiếm 1% trong tổng
doanh thu của loại sản phẩm thực phẩm
(Burck, 1979). Tuy nhiên, vào năm 1980,
doanh số của thực phẩm mang nhãn hàng riêng
tại siêu thị bán nhãn hàng này đã tăng 10%.
Trong thế kỷ 21, doanh số thực phẩm nhãn
hàng riêng đã tăng lên 20% tại Hoa Kỳ
(Goldsmith & ctg, 2010). Điều này chứng tỏ
nhãn hàng riêng đã trở thành một trong những
chiến lược về nhãn hiệu mà nhà quản lý bán lẻ
cần đầu tư xây dựng thông qua hoạt động luôn
cải tiến chất lượng, sản xuất sản phẩm nhãn
hàng riêng đa dạng hơn và hỗ trợ các hoạt động
tiếp thị cho sản phẩm nhãn hàng riêng.
Theo báo cáo nghiên cứu về nhãn hàng
riêng toàn cầu của Nielsen (2014) đã nhận định
với tỷ lệ ngày càng tăng của mô hình cửa hàng
bán lẻ hiện đại đang nổi lên khắp Đông Nam Á,
nhận thức và niềm tin tiêu dùng đối với nhãn
hàng riêng đang tăng dần lên. Đặc biệt kết quả
nghiên cứu này nhấn mạnh nhận thức của
người tiêu dùng hiện nay về chất lượng, giá trị,
phân loại và đóng gói của nhãn hiệu riêng.
Chứng tỏ người tiêu dùng ngày càng thông
minh trong việc mua sắm hàng hóa, đặc biệt
mua sắm tại siêu thị. Ví dụ, 84% người tiêu
dùng Việt Nam nói rằng nhận thức của họ về
các thương hiệu riêng đã được cải thiện theo
thời gian và được các nhà nghiên cứu khẳng
định đây là mức cao nhất trên toàn cầu. Tỷ lệ
này đạt 83% tại Thái Lan, 77% tại Philippines,
70% tại Malaysia, 66% tại Indonesia và 64%
tại Singapore, so với tỷ lệ trung bình là 71%
của người tiêu dùng toàn cầu. Khi niềm tin tiêu
dùng đối với sản phẩm nhãn hàng riêng ngày
càng tăng cao, điều này cho thấy rằng người
tiêu dùng sẵn sàng trả thêm tiền cho các sản
phẩm nhãn hàng riêng mà họ thích. Philippines
là nước đứng đầu trên toàn cầu, với gần ba
phần tư (72%) cho rằng họ sẵn sàng trả bằng
hoặc cao hơn cho các sản phẩm nhãn hàng
riêng mà họ thích, kế tiếp là 69% người Việt

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015
Nam- đứng hàng thứ 5 cao nhất trên toàn cầu
(Thúy Hà, 2014). Thông qua thông tin trên đây,
chúng ta thấy được, đối với thị trường nhãn
hàng riêng, người tiêu dùng Việt Nam đã thể
hiện sự quan tâm đến giá, sẵn sàng chấp nhận
sản phẩm mới trên thị trường (đó là tính cách
tân của người tiêu dùng), hơn nữa khi mua sản
phẩm nhãn hàng riêng chỉ mua được tại siêu
thị, nên hình ảnh của siêu thị cũng góp phần tạo
ra thái độ của họ đối với nhãn hàng riêng.

kiếm thông tin của sản phẩm mới và chấp nhận
sản phẩm mới (tính cách tân người tiêu dùng)
cũng như mua sắm tại siêu thị, người tiêu dùng
thể hiện được sự thông minh trong mua sắm
sản phẩm. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này
nhằm xem xét các yếu tố như quan tâm đến giá,
người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu thị
và tính cách tân của người tiêu dùng ảnh hưởng
đến thái độ đối với nhãn hàng riêng của người
tiêu dùng đi mua sắm tại siêu thị.

Các nhà nghiên cứu hàn lâm cũng đã tập
trung vào nghiên cứu nhãn hàng riêng, cụ thể
là: quan tâm đến giá, tính cách tân của người
tiêu dùng (Jin and Suh, 2005), hình ảnh siêu
thị, người tiêu dùng thông minh, trung thành
với siêu thị, rủi ro cảm nhận (ví dụ, Hoch &
Banerji 1993; Richardson & ctg, 1996; Burton
& ctg, 1998; Sinha & Bata, 1999; Garretson&
ctg, 2002). Các nghiên cứu trước đây đều tập
trung nghiên cứu nhiều ở các nước phát triển
(Hoa Kỳ, Châu Âu) có lịch sử về nhãn hàng
riêng tương đối lâu dài hơn so với các nước
Châu Á, trong đó thị trường nhãn hàng riêng tại
Việt Nam thì còn tương đối non trẻ. Trong số
những yếu tố này, nhận thức của khách hàng về
giá là một trong những nguyên nhân quan trọng
nhất để họ mua sản phẩm nhãn hàng riêng
(Nielsen 2014). Hơn nữa, tính cách tân của
người tiêu dùng và người tiêu dùng thông minh
cũng là các yếu tố cần đề cập đến khi xem xét
thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng
riêng, đặc biệt trong thị trường sản phẩm nhãn
hàng riêng còn sơ khai tại thị trường mới nổi
như Việt Nam. Đặc thù của nhãn hàng riêng là
khách hàng chỉ mua được sản phẩm nhãn hàng
riêng tại siêu thị nơi mà họ mua sắm, do đó
hình ảnh của siêu thị cũng có ảnh hưởng đến
thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn hàng
riêng. Như đã thảo luận ở phần trên, thị trường
bán lẻ ở Việt Nam đã và đang phát triển khá
tốt, người tiêu dùng đã hình thành thói quen
mua sắm tại siêu thị, thông qua đó, việc tìm

Cấu trúc của bài viết như sau. Phần tiếp
theo của bài viết sẽ trình bày cơ sở lý thuyết
cùng mô hình nghiên cứu. Sau đó, tác giả sẽ
mô tả phương pháp nghiên cứu. Tiếp theo, kết
quả nghiên cứu sẽ được thảo luận. Cuối cùng,
hàm ý cho nhà quản lý, hạn chế cũng như
hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ được trình bày.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Thái độ đối với nhãn hàng riêng
Khái niệm thái độ đối với sản phẩm là khái
niệm quan trọng trong tiếp thị. Do đó, việc các
nhà quản lý nhãn hàng riêng xem xét và đánh
giá thái độ của người tiêu dùng đối với nhãn
hàng riêng của mình như thế nào sẽ quyết định
sự thành công hay thất bại của nhãn hàng này.
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết hành động
hợp lý của Ajzen and Fishbein (1980) để xem
xét mối quan hệ giữa nhận thức (perception) và
thái độ (attitude). Thái độ đối với nhãn hàng
riêng được định nghĩa là “xu hướng hành vi
phản ứng thích (hoặc không thích) đối với sản
phẩm nhãn hàng riêng dựa trên việc đánh giá
sản phẩm, đánh giá việc mua sản phẩm nhãn
hàng riêng” (Burton & ctg, 1998, trang 294).
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa trên vì
định nghĩa này có thể được sử dụng chung cho
sản phẩm nhãn hàng riêng nói chung, chứ
không cần một mặt hàng cụ thể. Nếu khách
hàng có thái độ tích cực đối với nhãn hàng
riêng, họ có xu hướng mua nhãn hàng đó
(Semeijn & ctg, 2004).

Trang 95

Science & Technology Development, Vol 18, No Q3 - 2015
2.2. Quan tâm đến giá (Price consciousness)
Do giá của nhãn hàng riêng thường rẻ hơn
nhãn hàng của nhà sản xuất từ 10 - 20%, nên
nhãn hàng riêng thường thu hút phân khúc
khách hàng quan tâm đến giá (Jin & Suh,
2005). Quan tâm đến giá được định nghĩa là
mức độ mà khách hàng ra quyết định mua sản
phẩm nào đó chủ yếu tập trung vào giá
(Lichtenstein & ctg, 1997). Trong khi đó, Sinha
& Batra (1999) cho rằng khi khách hàng quan
tâm đến giá khi mua một sản phẩm nào đó
trong một tập sản phẩm cùng loại thì họ chọn
sản phẩm nào có giá thấp nhất trong số những
sản phẩm cùng loại. Theo kết quả nghiên cứu
của Batra và Sinha (2000) quan tâm đến giá là
một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh
nhất đến ý định mua nhãn hàng riêng. Dựa trên
những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên,
chúng ta có giả thuyết:
H1: Quan tâm đến giá có ảnh hưởng tích
cực đến thái độ đối với nhãn hàng riêng.
2.3. Nhận thức của người tiêu dùng thông
minh (Smart shopper self - perception)
Người tiêu dùng được coi là thông minh khi
họ nắm bắt và xem xét kỹ lưỡng những lợi ích
khác nhau khi mua sắm, ví dụ như cảm giác
hoàn thiện công việc mua sắm một cách tốt
đẹp, hoặc niềm tự hào trong ứng xử khéo léo
khi đi mua hàng (Schindler, 1988). Người tiêu
dùng được đánh giá là thông minh trong mua
sắm khi họ biết đánh giá giá trị của hàng hóa
cần xem xét khi mua, có sự so sánh giữa chi
phí với chất lượng sản phẩm và cuối cùng là họ
thường cân nhắc giữa lợi ích và những dịch vụ
đi kèm khi mua sản phẩm, ví dụ: lợi ích chức
năng và lợi ích tiêu khiển (Holbrook, 1994).
Nghiên cứu của Garretson & ctg (2002) thực
hiện so sánh giữa chương trình khuyến mãi
nhãn hàng của các nhà sản xuất và nhãn hàng
riêng. Kết quả nghiên cứu của Garretson & ctg
(2002) cho thấy là nhận thức người tiêu dùng
thông minh có ảnh hưởng tích cực đến thái độ
Trang 96

đối với nhãn hàng riêng cũng như chương trình
giá khuyến mãi các nhãn hàng của nhà sản
xuất. Tuy nhiên, nhận thức người tiêu dùng
thông minh có ảnh hưởng lớn hơn với chương
trình khuyến mãi nhãn hàng của nhà sản xuất
so với nhãn hàng riêng. Nhưng do chương trình
khuyến mãi nhãn hàng của nhà sản xuất không
thường xuyên và đúng vào thời điểm người tiêu
dùng thông minh đi mua sắm, nên để thỏa mãn
lợi ích mua sắm khôn ngoan của mình, họ tìm
cách tiết kiệm chi phí mua sắm thông qua việc
mua nhãn hàng riêng (Garretson & ctg, 2002).
Do đó:
H2: Nhận thức người tiêu dùng thông minh
có ảnh hưởng tích cực đến thái độ đối với nhãn
hàng riêng.
2.4. Hình ảnh siêu thị (Supermarket
image)
Khái niệm hình ảnh siêu thị xuất phát từ lý
thuyết về hình ảnh cửa hàng (store image). Do
đó, trong nghiên cứu này, hai thuật ngữ này
được sử dụng nhưng diễn tả ngữ nghĩa chung,
đó là ấn tượng của nhà bán lẻ trong tâm trí của
khách hàng (Ailawadi & Keller, 2004). Hình
ảnh cửa hàng được phản ảnh thông qua phương
tiện vật chất của cửa hàng. Các nghiên cứu
trước đây cho thấy hình ảnh cửa hàng có ảnh
hưởng đến suy đoán của khách hàng về chất
lượng sản phẩm bán tại cửa hàng đó và thái độ
của khách hàng đánh giá các thương hiệu đang
bán trong cửa hàng đó (Collins - Dodd &
Lindley, 2003, Semeijn & ctg, 2004).
Hình ảnh cửa hàng được hình thành qua trải
nghiệm mua sắm của khách hàng hoặc thông
tin từ nhà bán lẻ thông qua các nguồn như tin
tức hoặc truyền miệng. Ailawadi và Keller
(2004) xem hình ảnh cửa hàng là khái niệm
tổng hợp nhiều đặc điểm/ thuộc tính của cửa
hàng và là khái niệm đa hướng, gồm có: chất
lượng hàng hóa, môi trường cửa hàng, tiếng
tăm của nhà bán lẻ, tiện lợi, mức giá và sự đa

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 18, SỐ Q3 - 2015
dạng về chủng loại (Ailawadi & Keller, 2004;
Dodds, Monroe & Grewal, 1991).
Nghiên cứu của Semeijin và ctg (2004) cho
thấy một siêu thị có môi trường thoải mái và dễ
chịu có ảnh hưởng tích cực đến việc đánh giá
và ý định mua nhãn hàng riêng. Baker, Grewal,
và Parasuraman (1994) phân tích môi trường
của cửa hàng và cho thấy khách hàng kỳ vọng
sản phẩm tại một cửa hàng sẽ không có chất
lượng tốt khi cửa hàng đó không tạo được môi
trường mua sắm thân thiện và lịch sự. Nói cách
khác, kết quả nghiên cứu của Baker và cộng sự
(1994) đã tìm ra mối liên hệ giữa môi trường
trong cửa hàng bán lẻ (như âm nhạc, ánh sáng,
tinh thần phục vụ của nhân viên) và cảm nhận
của người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa
trưng bày trong cửa hàng đó. Do đó, khách
hàng phán đoán chất lượng của nhãn hàng
riêng thông qua hình ảnh của siêu thị. Điều này
có thể lý giải là khách hàng sử dụng hình ảnh
siêu thị như là một tín hiệu bên ngoài để phán
đoán nhãn hàng riêng cung cấp bởi siêu thị này
(Ailawadi & Keller, 2004; Collins - Dodd &
Kindley, 2003). Theo lý thuyết sử dụng tín hiệu
(the cue utilization theory) hình ảnh cửa hàng
có thể là yếu tố giúp khách hàng xác định chất
lượng sản phẩm bán tại cửa hàng đó (Collins Dodd & Kindley, 2003). Do đó, khách hàng sẽ
có thái độ tích cực với nhãn hàng riêng tại siêu
thị có hình ảnh tốt (high - image supermarket)
vì khách hàng nghĩ rằng siêu thị này sẽ bán sản
phẩm có chất lượng cao hơn là siêu thị có hình
ảnh thấp (low - image supermarket). Vì vậy:
H3: Hình ảnh của siêu thị có ảnh hưởng
tích cực với thái độ đối với nhãn hàng riêng.
2.5. Tính cách tân của người tiêu dùng
(Consumer innovativeness)

Tính cách tân của người tiêu dùng được cho
là đặc tính của cá nhân, đặc biệt là đối với việc
chấp nhận sản phẩm mới. Tính cách tân của
người tiêu dùng được định nghĩa là xu hướng
của người tiêu dùng sử dụng sản phẩm, thương
hiệu mới, hoặc tham gia vào trải nghiệm mới
hơn là duy trì những chọn lựa thương hiệu hay
sản phẩm trước đây của mình. Các nghiên cứu
trước đây đã cho thấy tính cách tân có quan hệ
tích cực với việc chấp nhận rủi ro (Steenkamp,
Hofstede & Wedel, 1999). Do đó, khách hàng
có tính cách tân càng cao, họ càng có xu hướng
sẵn lòng chịu rủi ro về việc sử dụng sản phẩm
hay thương hiệu hoàn toàn không quen thuộc
từ trước đến nay. Vì vậy, khái niệm tính cách
tân của người tiêu dùng có thể phù hợp trong
bối cảnh sản phẩm nhãn hàng riêng. Người tiêu
dùng có tính cách tân cao mà khi họ bắt gặp
nhãn hiệu mới trên thị trường, họ sẵn lòng thử
dùng nhãn hiệu mới này. Nghiên cứu của Jin và
Suh (2005) phỏng vấn người tiêu dùng tại Hàn
quốc đã cho thấy tính cách tân của người tiêu
dùng là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến
thái độ đối với nhãn hàng riêng ở hai ngành
hàng: thực phẩm và gia dụng tại thị trường Hàn
Quốc. Do đó:
H4: Tính cách tân của người tiêu dùng có
ảnh hưởng tích cực với thái độ đối với nhãn
hàng riêng.
Dựa trên thảo luận trên đây, mô hình
nghiên cứu được đề xuất. Hình 1 dưới đây
minh họa mối quan hệ giữa các khái niệm
nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các khái
niệm nghiên cứu này đến thái độ đối với nhãn
hàng riêng. Bốn biến độc lập xem xét trong mô
hình nghiên cứu đề xuất đó là: quan tâm đến
giá, người tiêu dùng thông minh, hình ảnh siêu
thị và tính cách tân của người tiêu dùng.

Trang 97

Tài liệu cùng danh mục Kỹ năng bán hàng

Vai trò mới của CEO: Đầu não bán hàng!

Tham khảo tài liệu 'vai trò mới của ceo: đầu não bán hàng!', kinh doanh - tiếp thị, kỹ năng bán hàng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


20 quy tắc viết thư điện tử tiếp thị B2B hiệu quả

Việc soạn thảo các bức thư điện tử tiếp thị loại B2B (doanh nghiệp tới doanh nghiệp) một cách hiệu quả khác xa so với soạn thảo những bức thư điện tử loại B2C (doanh nghiệp tới ngươi tiêu dùng). Chắc chắn là theo kinh nghiệm của bản thân mình, bạn cũng hiểu là tất cả những người làm công việc kinh doanh khi nhận được một bức thư điện tử đều muốn biết ngay vấn đề một cách nhanh nhất. Họ không thích sự dài dòng và lan man mà muốn biết ngay những lợi ích và thực tế......


Dịch vụ khách hàng siêu việt với 5WChính những giao tiếp, thái độ ở bất

Dịch vụ khách hàng siêu việt với 5W Chính những giao tiếp, thái độ ở bất cứ cấp độ nào trong công ty bạn sẽ đưa lại cho khách hàng - hiện tại hay tiềm năng, nội bộ hay bên ngoài - một cơ hội để đánh giá chính xác nhất về bạn và về công ty. Ở đây không đơn thuần là những trung tâm điện thoại khách hàng. Nó còn bao gồm các bộ phận trợ giúp kỹ thuật, lễ tân, bán hàng,…. Thực tế là bất cứ ai có tiếp xúc với khách hàng. Với trọng tâm đặt vào sự...


Cách để tìm ra khách hàng

Điều gì là khó khăn nhất khi bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh?Điều gì là khó khăn nhất khi bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh? Đối với rất nhiều ông chủ doanh nghiệp, câu trả lời chính là việc tìm kiếm khách hàng. Để có một sản phẩm hay dịch vụ tốt đến mức có thể chắc chắn rằng rất nhiều người cần đến nó, bạn phải nỗ lực rất nhiều.


Sáu “phương thuốc”cho những khách hàng lập dị

Sáu “phương thuốc”cho những khách hàng lập dị Khách hàng của bạn thật kì quặc Làm thế nào để xoa dịu sự khó chịu của họ?


5 sai lầm chết người trong bán lẻ

Trong một môi trường kinh doanh thay đổi và phát triển từng ngày như hiện nay, các sai lầm có thể "chết người". Thậm chí cả trong điều kiện tốt nhất, các thống kê cho thấy có trên một nửa doanh nghiệp bán lẻ nhỏ phải rời thương trường sau không quá 2 năm hoạt động.


Một số bước nghiên cứu và phân tích thị trường

Nắm bắt thị trường là một yêu cầu nghiệp vụ vô cùng quan trọng trong kinh doanh. Người Việt Nam có câu “sai một ly, đi một dăm”. Nếu bạn dựa trên những cơ sở không đáng tin cậy mà đi đến một quyết định đầu tư quan trọng, tức là bạn đã sãn sàng chấp nhận một tỉ lệ rủi ro cao. Để hạn chế rủi ro, người ta cần có một cơ sở đáng tin cậy. Chính vì vậy, người ta đã tốn nhiều công sức để nghiên cứu làm thế nào để có thể thu được kết quả tương đối chính xác nhất, phản ánh đúng...


Marketing truyền khẩu với chiến dịch của Sony

Cách nhanh nhất để quảng bá một sản phẩm mới tới công chúng thường được sử dụng ngày nay là thông qua hai kênh truyền tin. Các sản phẩm mới sẽ phát triển hoặc nhờ vào các kênh trung gian như một chiến dịch quảng bá cổ điển hoặc dưới tác động của thói quen bắt chước, hay còn gọi là truyền miệng. Hai cách này cũng có thể được sử dụng phối hợp với nhau để tạo nên hiệu ứng mạnh hơn......


Đừng lãng phí thời gian của bạn

Ở bài trước tôi đã trình bày với các bạn Năm đặc điểm của khách hàng tiềm năng vậy làm thế nào để tận dụng tối đa thời gian khi gặp khách hàng tiềm năng. Những người bán hàng khôn khéo không để mất nhiều thời gian cho những khách hàng không đủ các đặc điểm của khách hàng tiềm năng


LẬP HỆ THỐNG THÔNG TIN MARKETING VÀ NGHIÊN CỨU MARKETING

Thông tin Marketing là một yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo Marketing có hiệu quả như một kết quả của xu hướng Marketing toàn quốc và quốc tế, chuyển từ nhu cầu của người mua sang mong muốn của người mua, và chuyển từ cạnh tranh bằng giá cả sang cạnh tranh phi giá cả. Tất cả các công ty đều có một hệ thống thông tin Marketing, nhưng những hệ thống này khác nhau rất nhiều về mức độ tinh vi. Trong rất nhiều trường hợp thông tin không có hay đến chậm hay không thể tin......


Tài liệu mới download

Hướng dẫn thực hành Access
  • 24/03/2017
  • 91.835
  • 129
Ebook Kỹ thuật sơn đồ gỗ
  • 01/08/2012
  • 52.022
  • 691
Mẫu Bản cảnh cáo nhân viên
  • 19/05/2015
  • 84.444
  • 932

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Quick Tips To Improve Your Eyesight
  • 03/10/2009
  • 76.776
  • 640
8 từ cần tránh khi bán hàng
  • 29/07/2013
  • 62.421
  • 503
Quảng cáo và Internet
  • 15/03/2009
  • 79.448
  • 472
25 bí mật về bán hàng
  • 22/12/2009
  • 23.636
  • 927

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu