Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Nhận thức của các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch ở thành phố Cần Thơ về biến đổi khí hậu

Bài viết Nhận thức của các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch ở thành phố Cần Thơ về biến đổi khí hậu trình bày biến đổi khí hậu đang trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của nhân loại do tác động ngày càng nghiêm trọng của nó đến các hoạt động kinh tế và xã hội,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần C (2017): 19-26

DOI:10.22144/jvn.2017.640

NHẬN THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Đào Ngọc Cảnh, Cao Mỹ Khanh và Đào Vũ Hương Giang
Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận: 17/10/2016
Ngày chấp nhận: 27/02/2017

Title:
Awareness of climate change
by tourism-accommodation
enterprises in Can Tho city
Từ khóa:
Biến đổi khí hậu, hiệu ứng
nhà kính, nước biển dâng,
thành phố Cần Thơ
Keywords:
Can Tho city, climate
change, greenhouse effect,
sea level rise

ABSTRACT
Climate change is becoming a major challenge for humanity development
because of its increasingly serious impacts on economic and social
activities. Specially, the Mekong Delta region in general, Can Tho city in
particular, are also suffering damages due to the impact of climate change
related natural disasters such as flood, tide, drought and salinization etc ...
Therefore, raising awareness is one of crucial tasks to change human
behavior in response to climate change. This study is aimed to survey
awareness of climate change by tourism-accommodation enterprises in
Can Tho city. It is also to propose a number of measures to raise
awareness about climate change contributing to sustainable tourism
development in Can Tho City.
TÓM TẮT
Biến đổi khí hậu đang trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển
của nhân loại do tác động ngày càng nghiêm trọng của nó đến các hoạt
động kinh tế và xã hội. Đặc biệt, vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói
chung, thành phố Cần Thơ nói riêng cũng đang chịu nhiều tổn thất do tác
động của biến đổi khí hậu với những thiên tai như lũ lụt, triều cường, hạn
hán và xâm nhập mặn,... Vì vậy, nâng cao nhận thức là một trong những
nhiệm vụ quan trọng để thay đổi hành vi của con người trong ứng phó với
biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhận thức về biến đổi khí
hậu của các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch tại thành phố Cần
Thơ, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về biến đổi khí
hậu, góp phần phát triển du lịch bền vững tại thành phố Cần Thơ.

Trích dẫn: Đào Ngọc Cảnh, Cao Mỹ Khanh và Đào Vũ Hương Giang, 2017. Nhận thức của các doanh
nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch ở thành phố Cần Thơ về biến đổi khí hậu. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 48c: 19-26.
lực ứng phó với biến đổi khí hậu đang trở thành
một yêu cầu cấp thiết đối với toàn nhân loại cũng
như mỗi quốc gia, mỗi vùng và mỗi người dân.

1 GIỚI THIỆU
Khủng hoảng môi trường và biến đổi khí hậu
đang tác động ngày càng nghiêm trọng đến đời
sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu. Trong
những năm qua, nhiều nơi trên thế giới đã xảy ra
những thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng
dữ dội, lũ lụt, hạn hán,... gây thiệt hại nặng nề về
tính mạng con người và của cải vật chất. Vì vậy,
việc tăng cường nhận thức và hành động trong nỗ

Theo báo cáo của Ban Liên Chính phủ về biến
đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate
Change - IPCC), Việt Nam là một trong những
quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tác động
của biến đổi khí hậu. Đặc biệt, ba đồng bằng trên
thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng là
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt
19

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần C (2017): 19-26

Nam, Đồng bằng sông Gange của Bangladesh và
Đồng bằng sông Nile của Ai Cập (IPCC, 2007).

dẫn đến sự phát thải quá mức các chất khí gây ra
hiệu ứng nhà kính trong khí quyển. Từ giữa thế kỷ
XVIII, khi loài người bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa, sự phát thải các khí nhà kính đã tăng
lên không ngừng. Theo IPCC, nồng độ trong khí
quyển của các loại khí CO2, N2O, CH4 đạt tới mức
cao chưa từng có trong 800.000 năm qua. Tổng
lượng khí nhà kính do con người thải ra trong giai
đoạn 2000-2010 là cao nhất trong lịch sử nhân loại
(IPCC, 2014).

Đối với thành phố Cần Thơ (TP. Cần Thơ),
biến đổi khí hậu cũng tác động ngày càng mạnh
mẽ, gây ra nhiều hậu quả nặng nề đối với mọi mặt
kinh tế - xã hội, trong đó có ngành du lịch. Vì vậy,
ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp lưu
trú du lịch nói riêng cần nâng cao nhận thức và
chung tay hành động vì môi trường, chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu.

Báo cáo của IPCC cho thấy, sự nóng lên của
khí hậu toàn cầu là rõ ràng và từ những năm 1950
có nhiều thay đổi chưa từng có so với những thời
gian trước đó. Khí quyển và đại dương đã trở nên
nóng hơn, lượng tuyết và băng đã giảm đi và mực
nước biển đã tăng lên. Trong giai đoạn 1901–2010,
mực nước biển đã dâng trung bình trên toàn cầu là
0,19 m với tốc độ trung bình 1,7 mm/năm. Tốc độ
dâng của nước biển từ giữa thế kỷ XIX đã cao hơn
tốc độ dâng trung bình trong 2 nghìn năm trước
(IPCC, 2014).

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức về
biến đổi khí hậu của các doanh nghiệp kinh doanh
lưu trú du lịch trên địa bàn TP. Cần Thơ, từ đó, đề
xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về biến
đổi khí hậu, góp phần phát triển du lịch bền vững ở
TP. Cần Thơ.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu thập và phân tích dữ
liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn:
các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên
thế giới và ở Việt Nam, số liệu thống kê của Cục
Thống kê TP. Cần Thơ, báo cáo tổng kết của Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Cần Thơ, và các
nguồn thông tin tư liệu khác dưới dạng bài báo,
hình ảnh, video,... Các dữ liệu này được phân tích,
tổng hợp nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
sơ cấp

Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những tác
động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo
và con người trên toàn thế giới. Sự thay đổi về
nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán,
lũ lụt… Mực nước biển dâng gây nguy cơ ngập
chìm các hòn đảo và các khu vực đất thấp ven biển,
làm thay đổi đời sống và sinh hoạt của con người.
Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua nhiệt độ
trung bình đã tăng khoảng 0,5 - 0,7oC, mực nước
biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El Nino,
La Nina ngày càng tác động mạnh mẽ. Biến đổi khí
hậu làm cho những thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và
hạn hán ngày càng khốc liệt. Chỉ tính trong 15 năm
(1996 - 2011), các loại thiên tai như bão, lũ, lũ
quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập
mặn,… đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài
sản: làm chết và mất tích hơn 10.711 người, giá trị
thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 1,5% GDP/năm
(IMHEN, 2015).

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử
dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp liên quan đến nhận
thức về biến đổi khí hậu của các doanh nghiệp kinh
doanh lưu trú du lịch. Nhóm nghiên cứu đã tiến
hành khảo sát đối với 50 doanh nghiệp lưu trú du
lịch trên địa bàn TP. Cần Thơ theo cách lấy mẫu
ngẫu nhiên phân tầng. Thời gian tiến hành khảo sát
là tháng 7 và 8 năm 2016. Dữ liệu từ bảng hỏi được
xử lý bằng phần mềm SPSS for Window 20.0 dưới
dạng thống kê mô tả.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2012), đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt
độ trung bình năm ở nước ta sẽ tăng khoảng 2 3oC; tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa
tăng, nhưng lượng mưa mùa khô lại giảm; mực
nước biển có thể dâng 0,75 – 1 m so với thời kỳ
1980 - 1999. Nếu mực nước biển dâng cao 1 m sẽ
có nguy cơ bị ngập khoảng 40% diện tích ĐBSCL,
11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện
tích các tỉnh ven biển khác; khoảng 10 - 12% dân
số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất
khoảng 10% GDP.

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Biến đổi khí hậu và nhận thức về biến
đổi khí hậu
3.1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái của
khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí
hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường
là vài thập kỷ hoặc dài hơn (Phạm Trung Lương,
2015).
Biểu hiện chủ yếu của biến đổi khí hậu là sự
nóng lên trên toàn cầu mà nguyên nhân chính bắt
nguồn từ hoạt động kinh tế - xã hội của con người

Đối với TP. Cần Thơ, theo kịch bản do Bộ Tài
nguyên và Môi trường phối hợp với Viện Khoa học
20

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần C (2017): 19-26

Khí tượng Thủy văn & Môi trường và Chương
trình Phát triển Liên Hợp Quốc thực hiện (2012),
đến cuối thế kỷ này nhiệt độ trung bình năm có thể
tăng lên 3,0oC; lượng mưa có xu hướng tăng và cực
đoan hơn; mực nước biển dâng có thể lên 79 – 99
cm. Trong điều kiện đó, TP. Cần Thơ có nguy cơ
bị ngập rất nghiêm trọng: nếu mực nước biển dâng
1 m thì diện tích ngập tới 58,3% (Bảng 1).

học vấn, tuổi, giới tính, hoàn cảnh xã hội...). Trên
cơ sở đó, tác giả đã đề xuất mô hình về nhận thức
môi trường với 4 giai đoạn cơ bản:
 Ở giai đoạn đầu tiên, động cơ để con người
quan tâm đến môi trường là các tác động bất lợi
đến sức khoẻ của họ. Do thiếu hiểu biết về lĩnh vực
này, cộng đồng cho rằng giải quyết các vấn đề môi
trường là nhiệm vụ của các nhà khoa học, các tổ
chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế. Vì vậy,
bước đầu tiên để nâng cao nhận thức về môi trường
là phải nâng cao nhận thức của những chính trị gia
có tầm ảnh hưởng, nhà quản lý, giới học thuật và
những nhà hoạch định chính sách kinh tế.

Bảng 1: Diện tích TP. Cần Thơ bị ngập theo
mực nước biển dâng
Mức độ dâng
mực nước biển
trung bình (m)
0,5
0,7
1,0

Diện tích bị Tỷ lệ diện tích
ngập
bị ngập
(km2)
(%)
34,4
2,47
165,5
11,9
810,3
58,3

 Ở giai đoạn thứ hai, hành lang pháp lý và
quản trị về môi trường được thiết lập trong xã hội.
Các công cụ giám sát môi trường cơ bản được sử
dụng và các trang thiết bị công nghệ phục vụ cho
việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường được thiết lập.
Tuy nhiên, chưa có sự kết nối giữa các đơn vị này
với nhau. Kết quả là chỉ giải quyết được những vấn
đề môi trường mang tính riêng lẻ.

Nguồn: Bộ TN&MT, Viện KTTV&MT, UNDP (2012)

Trong những năm gần đây ở TP. Cần Thơ cũng
như ở ĐBSCL, thiên tai liên tiếp xảy ra với sự gia
tăng cường độ và diễn biến phức tạp: mưa bất
thường, nắng nóng kéo dài, hạn hán, triều cường,
ngập lụt và xâm nhập mặn,... ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sản xuất và đời sống.
3.1.2 Nhận thức về biến đổi khí hậu

 Ở giai đoạn thứ ba, hành lang pháp lý, quản
trị về môi trường và các công cụ được phát triển
một cách toàn diện. Vì vậy, các vấn đề môi trường
trở thành một bộ phận quan trọng cả trong giới học
thuật lẫn cộng đồng. Do sự gia tăng nhận thức về
môi trường, sự phát triển hướng đến bền vững. Kết
quả của những hoạt động này dẫn đến kết quả là
kinh tế và sản xuất xã hội lớn mạnh hơn vì sự bền
vững của sinh kế được gia tăng.

Nhận thức về biến đổi khí hậu là một bộ phận
trong nhận thức về môi trường. Khái niệm này có
thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Shahid (2012) cho rằng nhận thức về môi trường
của cá nhân và tổ chức là một chỉ số thể hiện phản
ứng của họ đối với các tác động tiêu cực của môi
trường sống xung quanh. Partanen-Hertell et al.
(1999) cho rằng, có thể định nghĩa nhận thức về
môi trường là sự kết hợp của động cơ, kiến thức và
kỹ năng về môi trường.

 Ở giai đoạn cuối cùng, nhận thức về môi
trường được lồng ghép và kết hợp trong hành động
và cuộc sống hàng ngày. Điều này dẫn đến sự ý
thức tuyệt đối về môi trường.
3.1.3 Ứng phó với biến đổi khí hậu

Theo Ziadat (2010), nhận thức về môi trường là
một dạng kiến thức có thể phát triển qua quá trình
nhận thức của con người. Vì thế, có thể nói rằng
nhận thức về môi trường là sản phẩm của giáo dục
và có thể phát triển thông qua quá trình giáo dục.

Ứng phó với biến đổi khí hậu là một quá trình,
trong đó những giải pháp được triển khai và thực
hiện nhằm giảm nhẹ hoặc thích ứng với tác động
của các sự kiện khí hậu và lợi dụng những mặt
thuận lợi của chúng (IPCC 2007).

Lợi ích của nhận thức về môi trường được ghi
nhận qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác
giả: Nhận thức về môi trường góp phần bảo vệ tài
nguyên và môi trường (Bohdanowicz, 2006;
Palmer et al., 1999; Stabler & Goodall, 1997), phát
triển nhận thức có thể hỗ trợ vào quá trình chuẩn bị
và ứng phó với biến đổi khí hậu (Klein et al. 2001).

Theo Smith (1996), ứng phó với biến đổi khí
hậu bao gồm hai giải pháp tương hỗ lẫn nhau là
thích ứng và giảm nhẹ. Mối quan hệ giữa thích ứng
và giảm nhẹ trong ứng phó với biến đổi khí hậu thể
hiện ở Hình 1. Trong sơ đồ, đường liền thể hiện
ảnh hưởng hoặc phản ứng trực tiếp. Đường đứt
đoạn thể hiện ảnh hưởng hoặc phản ứng gián tiếp.

Partanen-Hertell et al. (1999) cho rằng: Nhận
thức về môi trường bắt đầu khi con người nhận
thấy các bất lợi và trở ngại của môi trường xung
quanh. Mức độ nhận thức về môi trường của con
người khác nhau do chịu tác động của những điều
kiện kinh tế - xã hội khác nhau (ví dụ như: trình độ

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một chiến
lược cần thiết ở tất cả các quy mô, có vai trò bổ trợ
quan trọng cho chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí
hậu (giảm phát thải khí nhà kính) trên phạm vi toàn
cầu. Nhiều giải pháp thích ứng cũng góp phần
giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
21

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần C (2017): 19-26

Biến đổi khí hậu

Tác động
Thích ứng

Giảm nhẹ
Ứng phó

Hình 1: Sơ đồ quan hệ giữa các yếu tố trong ứng phó với biến đổi khí hậu
(Nguồn: Smith, 1996)

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình
lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm bền bỉ và không ngừng
hoàn thiện. Tuy nhiên, chiến lược thích ứng với
biến đổi khí hậu dù hoàn thiện bao nhiêu cũng
không thể giải quyết tận gốc vấn đề biến đổi khí
hậu. Vì vậy, song song với việc xây dựng và triển
khai chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu thì
đồng thời cần triển khai chiến lược giảm nhẹ biến
đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu.
Lê Quang Trí (2016) đã sử dụng thuật ngữ
“thích nghi” thay cho thuật ngữ “thích ứng” và cho
rằng: Để ứng phó với biến đổi khí hậu thì cả hai
hành động giảm nhẹ và thích nghi đều tồn tại song
song và bổ sung cho nhau. Đối với các quốc gia
nghèo và tài nguyên hạn chế, biện pháp thích nghi
được chú trọng hơn là biện pháp giảm nhẹ.
Đối với Việt Nam, nhiều tác giả (Phạm Trung
Lương, 2015; Lê Anh Tuấn, 2009; Lê Thanh Sang
và Bùi Đức Kính, 2010...) cho rằng: Nâng cao nhận
thức xã hội, nhất là đội ngũ các nhà quản lý có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng để đề ra các giải pháp
ứng phó với biến đổi khí hậu.
Vì vậy, năm 2009, Chính phủ đã phê duyệt Đề
án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro
thiên tai dựa vào cộng đồng; năm 2011, Chính phủ
phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu
(Chính phủ, 2009 & 2011). Chiến lược quốc gia về
biến đổi khí hậu (Chính phủ, 2011) đã đề ra mục
tiêu: “Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng
lực ứng phó với biến đổi khí hậu của các bên liên
quan; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ,
chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế,
chính sách, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn
lực tài chính góp phần nâng cao sức cạnh tranh
của nền kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dụng
các cơ hội từ biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế
- xã hội; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu
hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu”.
Theo Phạm Trung Lương (2015), du lịch là
ngành kinh tế nhạy cảm với môi trường tự nhiên, vì
vậy được xem là một trong những ngành chịu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu và

nước biển dâng có những tác động lâu dài hoặc tức
thời thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan
như bão lũ, hạn hán,... làm suy giảm hoặc mất đi
các tài nguyên du lịch; gây ra sự xuống cấp, hư hại
hoặc mất đi hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du
lịch; ảnh hưởng đến hoạt động tổ chức tour hoặc đe
dọa sự an toàn của du khách,…
Nhằm nâng cao nhận thức cho người lao động
trong ngành du lịch, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã
phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng và
đưa vào chương trình đào tạo du lịch tại các cơ sở
đào tạo bậc trung cấp nghề và cao đẳng - đại học
chuyên đề: Biến đổi khí hậu và tác động của biến
đổi khí hậu đến du lịch, coi đây là giải pháp bền
vững và lâu dài (Phạm Trung Lương, 2015).
Để thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần
phát triển du lịch bền vững, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch (2012) đã ban hành Bộ tiêu chí Nhãn Du
lịch bền vững Bông sen xanh. Nhãn Bông sen xanh
dùng để cấp cho các cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu
chuẩn về bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững. Trong khuôn khổ “Tuần lễ Du lịch xanh khu
vực ĐBSCL” diễn ra tại TP. Cần Thơ vào đầu
tháng 7/2015, Tổng cục Du lịch đã tổ chức hội thảo
và tập huấn về công tác đánh giá và cấp Nhãn
Bông sen xanh cho các cơ sở lưu trú du lịch ở
ĐBSCL.
3.2 Nhận thức của các doanh nghiệp lưu
trú du lịch ở TP. Cần Thơ về biến đổi khí hậu
3.2.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp lưu trú
du lịch ở TP. Cần Thơ
Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương,
đô thị loại I, trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL.
TP. Cần Thơ có nguồn tài nguyên du lịch khá
phong phú, đồng thời là đầu mối giao thương của
vùng ĐBSCL với các tỉnh, thành trong cả nước và
các nước trên thế giới. Hoạt động du lịch của TP.
Cần Thơ ngày càng được đẩy mạnh, vai trò trung
tâm vùng ĐBSCL ngày càng được nâng cao. TP.
Cần Thơ đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn ở

22

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần C (2017): 19-26

ĐBSCL, thu hút ngày càng nhiều du khách trong
và ngoài nước.

Thơ có 206 cơ sở lưu trú với 5.950 phòng, 8.611
giường. Trong đó, có 118 khách sạn được xếp hạng
từ 1 đến 5 sao (3.903 phòng, 5.800 giường) và 84
khách sạn chưa xếp hạng, 07 nhà khách, 07 nhà
nghỉ du lịch. Ngoài ra, ở TP. Cần Thơ còn có 10 cơ
sở homestay và 10 điểm vườn du lịch có lưu trú.

Để đẩy mạnh phát triển du lịch, TP. Cần Thơ đã
đầu tư xây dựng nhiều công trình phục vụ du lịch,
nhất là các cơ sở lưu trú. Theo Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch, tính đến tháng 7/2016, TP. Cần
Bảng 2: Tổng hợp các cơ sở lưu trú du lịch TP.Cần Thơ
Cơ sở
Tổng số 5 sao
Số lượng
206
01
Tỷ lệ (%)
100,0
0,5

4 sao
04
1,9

3 sao
09
4,2

2 sao
32
14,8

1 sao Chưa xếp hạng Nhà khách Nhà nghỉ
72
84
07
07
33,3
38,9
3,2
3,2

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Cần Thơ, 2016

Nhìn chung, trong hệ thống cơ sở lưu trú du
lịch của TP. Cần Thơ chưa có nhiều khách sạn cao
cấp, số khách sạn 4-5 sao chỉ chiếm 2,4%. Hiện
nay, ở Cần Thơ chỉ có duy nhất 1 khách sạn 5 sao
(0,5%); số khách sạn chưa xếp hạng và khách sạn
1-2 sao chiếm 87,0%, trong đó khách sạn 1 sao
chiếm 33,3% (Bảng 2). Sự phân bố các cơ sở lưu
trú du lịch ở Cần Thơ cũng không đồng đều, đại bộ
phận cơ sở lưu trú du lịch đều tập trung ở quận
Ninh Kiều, chiếm 85,4% tổng số cơ sở lưu trú và
chiếm 100% số khách sạn từ 2 sao trở lên.

từng nghe nói về biến đổi khí hậu” (86%); trong
đó, có 12% ý kiến trả lời là “đã nghe rất nhiều”.
Tuy nhiên, cũng còn 14% ý kiến trả lời là “chưa
từng nghe nói về biến đổi khí hậu”. Nhìn chung,
đối tượng có trình độ văn hóa cao hơn thì mức độ
nghe nói về biến đổi khí hậu nhiều hơn: Trình độ
THPT & trung cấp nghề: 80%; cao đẳng: 83,3%;
đại học: 90,9%; thạc sĩ: 100%.
Về nguồn thông tin về biến đổi khí hậu, các ý
kiến cho rằng: 32,2% là từ báo chí; 32,2% từ mạng
internet; 31,4% từ truyền hình, phát thanh; 4,2% từ
hội nghị, tập huấn.

Kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp kinh doanh
lưu trú du lịch trên địa bàn TP.Cần Thơ cho thấy
một số đặc điểm như sau:

Về mức độ tin tưởng đối với các nguồn thông
tin về biến đổi khí hậu (Bảng 3), tính theo giá trị
trung bình thang đo (1-5 mức) thì mức tin tưởng
cao nhất là thông tin từ báo đài (4,27); thứ hai, từ
cơ quan nhà nước (4,02); thứ ba, từ các nhà khoa
học (3,90); thứ tư, từ các tổ chức đoàn hội (3,28);
cuối cùng là từ bạn bè và người thân (2,80). Nếu
tính tỷ lệ ý kiến đánh giá từ mức tin tưởng trung
bình (3,0) trở lên thì tất cả các nguồn thông tin nêu
trên đều đạt tỷ lệ trên 50%; trong đó, nguồn thông
tin từ nhà khoa học, nhà nước và báo đài đều đạt
96%; đoàn hội 87%; bạn bè và người thân 66%.

Về tuổi, các đáp viên có độ tuổi từ 20-62; trong
đó, phần lớn đáp viên có độ tuổi 20-30 (66%), tiếp
theo là độ tuổi 31-40 (22%); các độ tuổi trên 40
chiếm tỷ lệ thấp: 41-50 tuổi (4%), 51-60 tuổi (6%);
trên 60 tuổi (2%). Tính chung, độ tuổi 20-40 chiếm
88%, còn lại, từ 41-62 tuổi chiếm 12%. Về giới
tính, nữ chiếm tỷ lệ cao (58%); nam chiếm tỷ lệ
thấp hơn (42%).
Về trình độ văn hóa, 44% đáp viên có trình độ
đại học, 24% có trình độ cao đẳng, 10% có trình độ
trung cấp nghề, 2% có trình độ sau đại học (thạc
sĩ), 20% có trình độ trung học phổ thông (THPT),
không có trường hợp nào dưới bậc THPT. Như
vậy, trình độ học vấn của đáp viên khá cao: 70%
đạt trình độ từ cao đẳng trở lên.

Về khái niệm “hiệu ứng nhà kính” (greenhouse
effect), 70% ý kiến trả lời đúng là “sự tăng nhiệt độ
của khí quyển trái đất”; 24% ý kiến trả lời sai,
trong đó 8% ý kiến cho rằng đó là “hiệu quả phát
triển các nhà kính trên trái đất”; 16% cho rằng đó
là “trạng thái phát triển đô thị trên thế giới”; 6%
không có ý kiến. Xét theo trình độ văn hóa, nhìn
chung trình độ văn hóa càng cao thì tỷ lệ hiểu đúng
khái niệm này càng cao: THPT (55,6%); trung cấp
nghề (80,0%); cao đẳng (60,0%); đại học (86,4%);
thạc sĩ (100%). Riêng trường hợp trình độ trung
cấp nghề có tỷ lệ hiểu đúng (80%) cao hơn trình độ
cao đẳng (60%) có thể là do hệ đào tạo này đã đưa
vào giảng dạy cho người học những kiến thức về
môi trường và biến đổi khí hậu.

Về chức danh nghề nghiệp, 48% đáp viên là lễ
tân; 14% là giám đốc, phó giám đốc hoặc chủ
doanh nghiệp; các chức danh quản lý như trưởng,
phó phòng chiếm 18%; kế toán chiếm 8%; còn lại,
12% là nhân viên phục vụ, bảo vệ và giám sát.
3.2.2 Nhận thức về biến đổi khí hậu của các
doanh nghiệp lưu trú du lịch
a. Hiểu biết về biến đổi khí hậu
Kết quả khảo sát cho thấy, đại bộ phận các
doanh nghiệp lưu trú du lịch ở TP. Cần Thơ “đã

23

Tài liệu cùng danh mục Quản trị kinh doanh

Customers Viewing Concepts Every Manager Needs to Know_7

Tham khảo tài liệu 'customers viewing concepts every manager needs to know_7', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


A Review of Research Data Measuring

Online Advertising Update: A Review of Research Data Measuring the Growth and Effectiveness of Online Advertising in the US March 2002 www.emarketer.com .New York-based eMarketer is the leading provider of internet and e-business information for marketing professionals and other business executives. eMarketer aggregates, filters, organizes and analyzes data from over 800 research firms, consultancies, government agencies and other sources. Neither a research firm nor a consultancy, eMarketer has no testing technique to defend and no research bias. eMarketer information can be accessed in a variety of ways: s s s s s The eMarketer Daily: a free HTML newsletter that brings you the latest stats and relevant e-business...


Con Đường Phía Trước _ BillGate

Con đường phía trước (The Road Ahead) của Bill Gates Lời nói đầu: Chúng ta đang chuẩn bị bước vào thế kỷ 21 với nhiều thay đổi lớn lao, với những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật chưa từng có trong lịch sử loài người, đặc biệt là 2 xu hướng căn bản: toàn cầu hoá nền kinh tế và toàn cầu hoá ngành CNTT. Riêng về tin học, với tốc độ phát triển tính từng này, đã là một đề tài sôi động trên thế giới. Hầu hết báo chí các nước ngày nào cũng đều ít...


LOOPHOLES OFTHE RICH How the Rich Legally Make More Money & Pay Less Tax phần 8

và củng cố một tập hợp kỹ năng cho họ? Cũng nên nhớ rằng khi trẻ em của bạn trở thành nhân viên, họ cũng sẽ có thể tận dụng lợi thế của các kế hoạch lương hưu mà có sẵn cho nhân viên bất kỳ. Ví dụ, nếu bạn trả con bạn


Hàn Quốc: CÂU CHUYỆN KINH TẾ

Thư ngỏ xin việc: Con dao hai lưỡi Hồ sơ xin việc bây giờ luôn tất yếu phải đính kèm “thư ngỏ”. Thư ngỏ xin việc - có thể giúp bạn nổi bật hơn các ứng viên khác, nhưng cũng có thể phá hủy ngay từ đầu cơ hội được tham gia phỏng vấn. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu của đất nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động và tích cực hội nhập thành công vào...


Sơ lược về mô hình kinh doanh Porter’s Five Forces

Sức mạnh Khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành sản xuất nào đó. Nhìn chung, khi sức mạnh khách hàng lớn, thì mối quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần với cái mà các nhà kinh tế gọi là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một người mua.


Lecture Global business today (6/e): Chapter 4 - Charles W.L. Hill

In this chapter, you will learn to: Explain what is meant by the culture of a society, identify the forces that lead to differences in social culture, identify the business and economic implications of differences in culture, recognize how differences in social culture influence values in the workplace, demonstrate an appreciation for the economic and business implications of cultural change.


Optimal Decisions Using Marginal Analysis

This chapter introduces the analysis of managerial decision making that will occupy us for the remainder of the book. The chapter is devoted to two man topics. The first is a simple economic model (i.e., a description) of the private, profit-maximizing firm. The second is an introduction to marginal analysis, an important tool for arriving at optimal decisions. Indeed, it is fair to say that the subsequent chapters provide extensions or variations on these two themes


THỜI CƠ TRONG KINH DOANH

Đó là các cơ hội, dịp may có khả năng đem lại hiệu quả và hiệu suất hoạt động kinh doanh tốt cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp biết tiếp nhận (tạo ra) và khai thác nó. Ví dụ, nhu cầu xã hội đột nhiên tăng lên về mặt loại sản phẩm tiêu dùng mà chỉ có doanh nghiệp (hoặc một số không nhiều các doanh nghiệp cùng ngành hàng) mới (đang) có.


Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn (Phần 8)

3. Tổ chức hoạt động tiêu chuẩn hoá công ty Để tổ chức hoạt động tiêu chuẩn hoá, công ty cần quan tâm đến 2 yếu tố, đó là: - Cán bộ tiêu chuẩn hoá - Tổ chức bộ phận tiêu chuẩn hoá 3.1 Cán bộ tiêu chuẩn hoá 3.1.1 Yêu cầu về trình độCán bộ tiêu chuẩn hoá trong công ty phải có trình độ và nghiệp vụ sau: a. Có hiểu biết vững chắc về: - Hoạt động của công ty: sản phẩm, công nghệ và thị trường của công ty - Những vấn đề cơ bản về...


Tài liệu mới download

Hệ điều hành MS-DOS
  • 01/12/2010
  • 44.628
  • 674

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu