Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay

Bài viết Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay trình bày: Phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) nói riêng là nhiệm vụ quan trọng để phát triển đất nước. Hiện nay, nhân lực KH&CN của Việt Nam không phải ít so với quy mô dân số, cũng như so với các nước trong khu vực; nhưng có cơ cấu và chất lượng hạn chế,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
ở Việt Nam hiện nay
Đỗ Tuấn Thành1
1

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: thanhdt1818@gmail.com
Nhận ngày 8 tháng 8 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 11 năm 2017.

Tóm tắt: Phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) nói
riêng là nhiệm vụ quan trọng để phát triển đất nước. Hiện nay, nhân lực KH&CN của Việt Nam
không phải ít so với quy mô dân số, cũng như so với các nước trong khu vực; nhưng có cơ cấu và
chất lượng hạn chế. Việt Nam cần tiếp tục xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN
mang tính chiến lược và phù hợp hơn để nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập sâu
rộng quốc tế hiện nay.
Từ khóa: Khoa học công nghệ, nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam.
Phân loại ngành: Luật học
Abstract: The development of human resources in general and those of science and technology in
particular is an important task for the development of the country. At present, regarding the
quantity, the science and technology human resources in Vietnam are not small against the
population size. Its quantity is not small either as compared to those of other regional countries.
However, the human resources are faced with limitions in terms of structure and quality. Vietnam
should continue to develop a more strategic and appropriate policy of science and technology
human resource development to improve rapidly the quality of the resource, thus meeting
the requirements of the country’s current causes of industrialisation and modernisation and
international integration.
Keywords: Science and technology, human resources, human resource development, Vietnam.
Subject classification: Jurisprudence

1. Đặt vấn đề
Hiện nay, thế giới đã bước vào giai đoạn
đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
50

Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0, Việt Nam có cơ hội để rút ngắn
khoảng cách tụt hậu so với các nước khác.
Tuy nhiên, để áp dụng khoa học công nghệ

Đỗ Tuấn Thành

vào nền kinh tế một cách hiệu quả, cần phải
có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là
nhân lực KH&CN. Nhưng, trên thực tế
mạng lưới tổ chức KH&CN và chất lượng
đội ngũ nhân lực KH&CN ở Việt Nam vẫn
rất thấp; Việt Nam còn thiếu các chuyên gia
đầu ngành, các tổ chức nghiên cứu mạnh có
đủ khả năng giải quyết những vấn đề
KH&CN lớn của quốc gia và hội nhập quốc
tế. Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN
Việt Nam hiện nay như thế nào? Việt Nam
cần có những chính sách gì để thúc đẩy
phát triển nguồn nhân lực KH&CN? Đây là
các vấn đề được đề cập trong bài viết này.

2. Thực trạng nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ Việt Nam hiện nay
2.1. Số lượng nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ
Tổng số nhân lực trong 1.513 tổ chức
KH&CN của cả nước là 60.543 người, đạt 7
người/1vạn dân. Trong đó, số người có
trình độ tiến sĩ là 5.293 người (8,74%),
trình độ thạc sĩ là 11.081 người (18,30%),
trình độ đại học là 28.689 người (47,39%)
và trình độ từ cao đẳng trở xuống là 15.480
người (25,57%). Số lượng này được phân
bổ theo 5 lĩnh vực: khoa học xã hội và nhân
văn; khoa học tự nhiên; khoa học nông
nghiệp; khoa học y, dược; khoa học kỹ
thuật và công nghệ. Trong tổng số 60.543
người, 6.420 người thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội và nhân văn, chiếm 10,6%; 4.460
người thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên,
chiếm 7,4%; 15.302 người thuộc lĩnh vực
khoa học nông nghiệp, chiếm 25,3%; 6.548
người thuộc lĩnh vực khoa học y, dược,
chiếm 10,8%; và 27.813 người thuộc lĩnh
vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, chiếm
45,9% [11, tr.56].

Hiện nay, đội ngũ cán bộ khoa học công
nghệ ở các viện nghiên cứu còn nhiều bất
cập do số cán bộ có trình độ cao chuyển
sang các công việc khác có thu nhập cao
hơn, trong khi số cán bộ mới tuyển vào chủ
yếu là sinh viên mới ra trường, chưa có
kinh nghiệm nghiên cứu [12, tr.8]. Đồng
thời, tuổi đời của các cán bộ nghiên cứu
khoa học hiện tại là khá cao. Theo điều tra
của Bộ Khoa học và Công nghệ, hầu hết đội
ngũ cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư
có độ tuổi trên và gần đủ 60 tuổi, số người
có độ tuổi dưới 50 tuổi chỉ chiếm 12%. Hơn
10.000 người có học vị tiến sĩ, nhưng trình
độ so với chuẩn quốc tế còn rất thấp và chỉ
có khoảng 25% cán bộ có thể sử dụng thành
thạo tiếng Anh, Việt Nam đặc biệt thiếu các
chuyên gia và các tổng công trình sư [4,
tr.2]. Trong thực tế, nhiều địa phương còn
thiếu cả về số lượng và chất lượng đội ngũ
nhà khoa học (trên 90% số tổ chức
KH&CN có số nhân lực dưới 30 người,
trong đó có nhiều tổ chức có số nhân
lực dưới 10 người). Các nhà khoa học
tập trung nhiều ở Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh.
2.2. Chất lượng nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ
Nhân lực KH&CN ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Tuy nhiên, theo báo cáo
của Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ cấu
nhân lực trong tổ chức KH&CN còn chưa
hợp lý; tỷ lệ nhân lực gián tiếp trên tổng số
nhân lực KH&CN còn quá cao; chính sách
khuyến khích và hỗ trợ về vốn tín dụng và
đất đai còn nhiều rào cản; chưa tạo lập được
môi trường cạnh tranh; chất lượng đội ngũ
lãnh đạo, quản lý, viên chức thực thi
chuyên môn công vụ khoa học công nghệ;
sản phẩm của KH&CN vẫn còn rất khiêm
51

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

tốn. Viện Thông tin khoa học (ISI) thống
kê: trong 15 năm (1996-2011) Việt Nam
mới có hơn 13.000 ấn phẩm công bố trên
tập san quốc tế có bình duyệt. Con số này
bằng 1/5 của Thái Lan; bằng 1/6 của
Malaysia và bằng 1/10 của Singapore.
Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần
Singapore, gấp 3 lần Malaysia và gấp gần
1,5 lần Thái Lan [1]. Trong 5 năm (20062010), cả nước chỉ có 200 bằng sáng chế,
giải pháp hữu ích được cấp tại Cục Sở hữu
trí tuệ; chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký
tại Mỹ. Riêng năm 2011, Việt Nam không
có bằng sáng chế nào được đăng ký ở Mỹ,
trong khi đó Singapore có tới 647 bằng,
Malaysia là 161 bằng, Thái Lan có 53 bằng,
và Philippines có 27 bằng. Mặt khác, các
kết quả nghiên cứu đề tài kinh tế dù xuất
sắc cũng không có tính triển khai ứng dụng.
Theo Chiến lược phát triển khoa học công
nghệ giai đoạn 2011-2020, đến năm 2015
số cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ
cũng chỉ đạt từ 9 đến 10 người/vạn dân; đào
tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế có 5.000
kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý; có 30
tổ chức nghiên cứu cơ bản. Việt Nam hiện
nay còn thiếu rất nhiều về số lượng cán bộ
nghiên cứu khoa học công nghệ để đạt tỷ lệ
10-12 cán bộ khoa học trên 1 vạn dân đến
năm 2020.
2.3. Cơ cấu và trình độ nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ
Những năm qua, cơ cấu nhân lực KH&CN
trong các tổ chức nói chung, trong các địa
giới hành chính (bộ, ngành, địa phương) nói
riêng luôn có sự phân bổ không đồng đều,
còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng;
sự gắn kết giữa các tổ chức KH&CN công
lập với khu vực doanh nghiệp và khu vực
đào tạo chưa chặt chẽ, điều đó dẫn đến lãng
phí nguồn lực đầu tư cho KH&CN (kết quả
52

nghiên cứu còn chưa được ứng dụng vào
thực tiễn), nhiều nơi nguồn nhân lực cả trực
tiếp và gián tiếp trong các tổ chức KH&CN
công lập (được gọi là viên chức nhà nước)
chưa đủ và chưa hợp lý về cơ cấu; chưa
khẳng định được năng lực chuyên môn,
năng lực nghiên cứu; chưa thực sự trở thành
công cụ đắc lực để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội một cách đều khắp. Nếu so sánh
tại mốc năm 2011 với mốc năm 2016 và chỉ
tính số lượng nhân lực làm việc trong các
đơn vị sự nghiệp công lập thì sự biến động
về cơ cấu không có sự thay đổi đáng kể.
Năm 2011, số lượng người làm việc tại các
bộ, ngành là 25,971/tổng số 30,327 người
thuộc nhân lực KH&CN, chiếm 85,63%;
ở địa phương nhân lực KH&CN chỉ
chiếm 14,36% (4,356/30.327 người). Đến
năm 2016, tỉ lệ nhân lực KH&CN tại các
bộ, ngành vẫn có cơ cấu là 85,81%
(34.305/39.976 người) còn cơ cấu tại địa
phương lại bị giảm xuống còn 14,18%
(5.671/39.976 người).
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN tại
các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,
vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vùng dân
tộc ít người và miền núi cũng luôn là vấn đề
được Chính phủ quan tâm. Nhà nước ban
hành nhiều chính sách tác động trực tiếp và
gián tiếp để thu hút, phát triển nguồn nhân
lực KH&CN có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ giỏi về công tác làm việc tại các
vùng này. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Ủy
ban Dân tộc, việc thực hiện mục tiêu phát
triển nguồn nhân lực KH&CN tại những
vùng, miền núi, dân tộc thiểu số ở nước ta
còn rất hạn chế. Số người không có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ lệ tới
86,21% trong tổng lao động trong độ tuổi.
Ở một số dân tộc, tỷ trọng nguồn chưa qua
đào tạo trong dân số ở độ tuổi lao động còn
cao (như dân tộc Mông 98,7%, dân tộc
Khmer 97,7%, dân tộc Thái 94,6%, dân tộc

Đỗ Tuấn Thành

Mường 93,3%...). Mặc dù ở một số tỉnh, tỷ
lệ nguồn nhân lực (đã, đang làm việc trực
tiếp có liên quan đến các lĩnh vực KH&CN)
có trình độ đại học trở lên trong tổng số dân
số chiếm tới 77,26%, nhưng năng lực, trình
độ làm việc thực tế của họ còn thấp hơn
nhiều, chưa theo kịp miền xuôi [10]. Cơ cấu
ngay trong một vùng, miền, địa phương
cũng rất bất hợp lý và không cân đối về tỉ
trọng ngành, nghề. Ví dụ, tại Hải Phòng,
một số ngành nghề thế mạnh (như cơ khí,
công nghệ vật liệu mới, công nghiệp chế
biến, công nghệ thông tin...) đã xảy ra tình
trạng mất cân đối, ở đó số lượng người có
trình độ chuyên môn cao (trên đại học) có
tỷ lệ rất thấp (khoa học công nghiệp là 7%;
công nghệ thông tin là 6,8%; môi trường là
2,24%; lĩnh vực xây dựng đạt mức thấp
nhất 0,79%) [9, tr.8, 9].

3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các quy phạm
pháp luật khoa học và công nghệ. Luật
Khoa học và công nghệ năm 2013 được
Quốc hội thông qua có nhiều nội dung đổi
mới chưa từng có ở nước ta từ trước đến
nay đối với hoạt động KH&CN. Đây là một
dấu mốc quan trọng mở đường và tạo cơ sở
pháp lý vững chắc cho việc đẩy mạnh tổ
chức và hoạt động của KH&CN để đưa các
quy định đi vào cuộc sống. Việc cần làm
đầu tiên là xây dựng và hoàn thiện hệ thống
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật kịp
thời và đồng bộ. Trong đó, đặc biệt, cần chú
ý ban hành: chính sách đào tạo, bồi dưỡng,
trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ; chính sách
tuyển dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu sinh,
thực tập sinh, chuyên gia khoa học và công

nghệ học tập và làm việc ở trong và ngoài
nước, nhất là các chuyên gia giỏi, chuyên
gia đầu đàn trong các lĩnh vực; chính sách
đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh
giá và bổ nhiệm cán bộ khoa học và công
nghệ dựa trên những giá trị đóng góp nổi
bật trong nghiên cứu khoa học và cải tiến
kỹ thuật; chính sách áp dụng nâng lương
vượt cấp, tăng lương trước hạn.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến Luật Khoa học và công
nghệ. Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục
pháp luật về khoa học và công nghệ. Đổi
mới cơ chế quản lý tổ chức bộ máy, cơ chế
quản lý tài chính thông qua các buổi hội
nghị, hội thảo tập huấn. Nâng cao nhận
thức, tinh thần trách nhiệm về mục tiêu,
quan điểm, ý nghĩa, yêu cầu và nội dung
của hoạt động khoa học công nghệ.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách đào tạo,
thu hút, đãi ngộ nhà khoa học. Hiện nay,
các tỉnh, thành phố chỉ tập trung vào chính
sách về đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, kiến thức
quản lý nhà nước, lý luận chính trị - hành
chính, mà ít chú trọng đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học trình độ cao thuộc các lĩnh vực
khoa học và công nghệ ưu tiên. Số lượng
các nhà khoa học đầu ngành, có trình độ
chuyên môn cao và hiện đang tham gia các
hoạt động nghiên cứu khoa học mang tính
chuyên nghiệp là rất ít và ngày càng suy
giảm. Trong khi đó, các cán bộ khoa học trẻ
lại không được tạo điều kiện để phấn đấu
theo đuổi và gắn bó với sự nghiệp khoa học
lâu dài. Số lượng cán bộ khoa học và công
nghệ đông, số tổ chức khoa học và công
nghệ nhiều, nhưng không có các tập thể
khoa học mạnh, các tổ chức khoa học và
công nghệ đạt trình độ quốc tế [6, tr.45].
Nhiều nước rất coi trọng việc thu hút các
nhà khoa học nổi tiếng từ nước ngoài về
làm việc; có chế độ đãi ngộ các nhà khoa
53

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

học phù hợp (bao gồm trả lương cao cho
họ, hỗ trợ họ về nhà ở, tạo điều kiện để họ
làm việc cùng một lúc ở nhiều nước) [5,
tr.65]. Tại Việt Nam, Luật Khoa học và
Công nghệ năm 2013 có điểm đột phá về
chính sách đãi ngộ đối với nhân lực, nhân
tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
Theo đó, Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở
nghiên cứu khoa học được đầu tư tiềm lực
cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tổ chức
nghiên cứu. Nhà khoa học được ưu đãi về
thuế thu nhập cá nhân và thủ tục hành chính
trong hoạt động khoa học công nghệ được
cải cách; được giao chủ trì đề tài, dự án
quan trọng cấp quốc gia; được hưởng
lương, phụ cấp đặc biệt theo thỏa thuận với
cơ quan nhà nước giao nhiệm vụ; được bố
trí nhà công vụ, phương tiện đi lại trong
thời gian thực hiện nhiệm vụ; được quyền
quyết định việc tổ chức nhiệm vụ được
giao. Những nhà khoa học trẻ tài năng được
ưu tiên xét cấp học bổng; được giao chủ trì
thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ
tiềm năng; được ưu tiên chủ trì, tham gia
thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ
khác; được ưu tiên bổ nhiệm lên vị trí công
tác cao. Thể chế hóa chính sách này,
Chính phủ xây dựng và triển khai nhiều
chính sách, thu hút, trọng dụng nhân tài.
Đó là các nghị định số 24/2010/NĐ-CP,
số 29/2012/NĐ-CP, số 40/2014/NĐ-CP,
số 87/2014/NĐ-CP. Các nghị định này quy
định xét tuyển đặc cách không qua thi tuyển
vào làm việc trong các cơ quan hành chính
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đối với
những người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ
sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước, tốt
nghiệp loại giỏi, xuất sắc của các trường đại
học có uy tín ở nước ngoài hoặc có kinh
nghiệm công tác từ 5 năm trở lên, đáp ứng
yêu cầu vị trí việc làm cần tuyển dụng. Tuy
nhiên, trên thực tế, nhiều đơn vị còn chưa
áp dụng đúng các chế độ, chính sách đãi
54

ngộ theo đúng các quy định tại Nghị định
40/2014/NĐ-CP. Các nhà khoa học trẻ dù
có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, có các công trình
khoa học xuất bản trong và ngoài nước vẫn
phải hưởng lương theo định mức, hệ số của
Nhà nước. Người có bằng tiến sĩ do chỉ
hưởng mức lương khoảng ba triệu đồng,
nên khó có thể chuyên tâm nghiên cứu. Tại
nhiều tổ chức khoa học công nghệ, những
chính sách trọng dụng vẫn chưa được triển
khai rộng, chưa tạo một môi trường thật sự
thông thoáng khuyến khích hoạt động
nghiên cứu sáng tạo. Chế độ đãi ngộ, tôn
vinh các nhà khoa học chưa tương xứng với
chất xám mà họ bỏ ra cho các công trình
nghiên cứu. Các nhà khoa học trẻ cũng
chưa được tin tưởng giao làm chủ nhiệm đề
tài, nhiệm vụ; chủ yếu chỉ tham gia với tư
cách là thành viên đề tài. Vẫn chưa có các
chính sách rõ ràng để các nhà khoa học có
thể tăng thu nhập, thay đổi môi trường, tư
duy làm việc. Ngoài ra, việc hỗ trợ kinh phí
nghiên cứu cho các nhà khoa học từ các quỹ
còn rườm rà về thủ tục và mất nhiều
thời gian.
Thứ tư, tạo điều kiện làm việc và trang
thiết bị nghiên cứu cho đội ngũ nhà nghiên
cứu khoa học và công nghệ. Trang thiết bị
nghiên cứu khoa học của Việt Nam mặc dù
đã được quan tâm, cải tiến và đổi mới
nhiều, song phần lớn vẫn là những sản
phẩm công nghệ cũ, lạc hậu và chưa đáp
ứng được yêu cầu cơ sở hạ tầng phục vụ
cho sự phát triển khoa học công nghiệp.
Mức tỷ trọng đầu tư để phát triển KH&CN
hiện nay tuy đã có nhiều chuyển biến và
được chú trọng, nhưng mới chỉ đạt gần 2%
tổng chi ngân sách nhà nước. Đó là một con
số quá thấp so với nhu cầu phát triển
KH&CN trước yêu cầu của cuộc cách mạng
công nghệ lần thứ tư. Trong khi đó, ở các
nước tiên tiến, tỷ trọng đầu tư cho phát triển
khoa học công nghệ, đặc biệt là nghiên cứu

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Tài liệu về LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, x• hội của đất nước, dân tộc và nhân loại; Để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức x• hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành,...


Journal of Korean Law Volume 6, Number 2

The Journal of Korean Law reviews all the received materials. Manuscripts are sent to three most relevant investigators for review of the contents. The editor selects peer referees by recommendation of the Editorial Board members or from the specialist database owned by the Editorial Board. For review, names and their affiliations of the authors are blinded.


Giáo trình Luật doanh nghiệp: Phần 1

Giáo trình Luật doanh nghiệp: Phần 1 với kết cấu gồm 5 chương giới thiệu những nội dung về những qui định chung của luật doanh nghiệp, thành lập và đăng kí kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh.


Câu Hỏi Trắc Nghiệm Ôn Tập Tư Pháp

Quốc gia nước ngoài là chủ thể cơ bản của TPQT. Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập và thay đổi các quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Người VN định cư ở nước ngoài là công dân VN cư trú.


Bài giảng môn Luật Hình sự: Bài 2 - ĐH Mở

Bài giảng môn Luật Hình sự: Bài 2 - Các tội xâm phạm sở hữu có nội dung trình bày về khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm sở hữu trong bộ Luật Hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, các tội phạm cụ thể.


Ebook Luật doanh nghiệp: Phần 2 - NXB Lao động xã hội

Ebook "Luật doanh nghiệp" Phần 2 gồm 8 chương (từ chương 2 tới chương 10) là các quy định về việc thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp, quản lý nhà nước, các điều khoản thi hành luật... Mời các bạn tham khảo để nắm bắt nội dung.


Tìm hiểu về CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI

Cộng đồng quốc tế hiện nay có hơn 239 quốc gia và mỗi nước có những luật pháp riêng điều chỉnh hoạt động của cư dân và các mối quan hệ với bên ngoài. Những hệ thống luật pháp quốc gia khác nhau đó có thể tập trung trong hai loại lớn là hệ thống Dân luật và hệ thống Luật chung. Bên cạnh đó, cũng có hệ thống luật Islam giáo đang được nhiều nước áp dụng. Cũng cần lưu ý rằng tuy có ba hệ thống luật pháp chính là hệ thống Dân luật, hệ thống Luật...


Tài liệu hướng dẫn dùng cho thuyền trưởng và các sỹ quan part 3

Theo dõi việc duy trì ca kíp trên tàu - Theo dõi và thúc đẩy công việc bàn giao thuyền viên - Xây dựng mối quan hệ hợp tác, tương trợ giữa các bộ phận và mỗi một thuyền viên - Xem xét kỉ luật thuyền viên và đề xuất cho Chủ tàu về việc sử dụng thuyền viên


Bai thi luat giao thong duong thuy noi dia

Tham khảo tài liệu 'bai thi luat giao thong duong thuy noi dia', tài liệu phổ thông phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Giá trị pháp lý của chứng cứ giao dịch điện tử

Hiện nay, trong quá trình hòa nhập nền kinh tế toàn cầu, việc các doanh nhân thực hiện các giao dịch thương mại, dân sự thông qua các phương tiện điện tử đã dần trở thành một xu hướng phổ biến, bởi tính nhanh gọn, hiệu quả của hình thức này. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tại Việt Nam các cơ quan tài phán (tòa án,


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu