Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Mua bán và sáp nhập (M&A) ngân hàng tại Việt Nam – Những vấn đề đặt ra từ thương vụ sáp nhập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn – Đệ Nhất – Tín Nghĩa

Vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế nói chung và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nói riêng là một chủ chương đúng đắn và đang được xã hội hết sức quan tâm. Việc sáp nhập ba ngân hàng: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn – Tín Nghĩa – Đệ Nhất là thương vụ sáp nhập đầu tiên theo chủ chương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Bài báo đề cập đến những vấn đề này và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Nguyễn Ngọc Lý và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

105(05): 137 - 143

MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM – NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THƯƠNG VỤ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN SÀI GÒN - ĐỆ NHẤT - TÍN NGHĨA
Nguyễn Ngọc Lý*, Trần Văn Quyết, Dương Thanh Tình
Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT
Vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế nói chung và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nói riêng là một chủ
chương đúng đắn và đang được xã hội hết sức quan tâm. Việc sáp nhập ba ngân hàng: Ngân hàng
thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn – Tín Nghĩa – Đệ Nhất là thương vụ sáp nhập đầu tiên theo
chủ chương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, sau
thành công của thương vụ sáp nhập này còn đặt ra nhiều vấn đề cần lưu ý khi tiến hành hợp nhất.
Bài báo đề cập đến những vấn đề này và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
Từ khóa: Mua bán sáp nhập, tái cấu trúc, ngân hàng

ĐẶT VẤN ĐỀ*
Thị trường tài chính ngân hàng ở Việt Nam
có sự phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần
đây, sự phát triển này là tất yếu trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhu
cầu về vốn và đầu tư trong xã hội ngày càng
tăng. Tuy nhiên, thị trường này đã và đang
phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách
thức. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
dẫn đến tình trạng nền kinh tế trì trệ, lạm phát
tăng cao, chính sách thắt chặt tín dụng của
Ngân hàng Nhà nước (NHNN)… Trong khi
đó, do việc thực hiện lộ trình tự do hóa tài
chính ngày càng tới gần khiến Ngân hàng
thương mại Việt Nam cũng chịu không ít áp
lực từ cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài. Ngoài ra, áp lực tăng vốn điều lệ theo
lộ trình quy định tại Nghị định 141/2006NĐCP đang ngày một gia tăng, đó là một thách
thức không nhỏ đối với các ngân hàng có quy
mô vốn khiêm tốn. Đứng trước tình hình đó,
các ngân hàng thương mại Việt Nam muốn
tồn tại và cạnh tranh được với các tổ chức tài
chính nước ngoài thì một trong những phương
pháp được đưa ra lựa chọn là sáp nhập và
mua lại các ngân hàng nhỏ để tạo thành các
ngân hàng lớn hơn hoạt động hiệu quả và tăng
năng lực cạnh tranh. Hoạt động mua bán, sáp
nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng được
*

Tel: 0988467658

đánh giá là khuynh hướng và là một nhân tố
quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống
ngân hàng Việt Nam. Trước xu hướng hội
nhập và những thách thức của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu thì việc mua bán và
sáp nhập các ngân hàng có quy mô nhỏ,
hoạt động yếu kém là một tất yếu. Việc sáp
nhập thành công ba ngân hàng là ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn – Đệ Nhất –
Tín Nghĩa thể hiện sự tất yếu đó. Tuy nhiên,
hậu sáp nhập các ngân hàng này đặt ra
nhiều vấn đề cần giải quyết nhằm thực hiện
chủ chương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
trong thời gian tới.
GIỚI THIỆU VỀ HOẠT ĐỘNG M&A VÀ
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A NGÂN
HÀNG TẠI VIỆT NAM
Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là thuật
ngữ thường được nhắc tới trong thời gian gần
đây ở Việt Nam, thể hiện hoạt động hai hay
nhiều doanh nghiệp kết hợp lại với nhau
nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong
chiến lược kinh doanh của mình. Sáp nhập
doanh nghiệp (Merger) là việc một hoặc một
số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình
sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm
dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Mua lại doanh nghiệp (Acquisition) được
hiểu là việc mua toàn bộ hoặc một phần tài
sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát,
137

142Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Ngọc Lý và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại. Việc mua lại hoặc
thôn tính cũng có thể được thực hiện bởi
chính đội ngũ quản lý hoặc bởi các nhà đầu tư
bên ngoài.[5]
Hoạt động M&A ngân hàng ở Việt Nam thực
sự trở nên sôi động kể từ năm 2007 khi Việt
Nam chính thức ra nhập WTO, chính thức mở
cửa thị trường tài chính và cho phép các ngân
hàng nước ngoài mở rộng chi nhánh và thành
lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài, còn
trước đó, số lượng thương vụ hàng năm rất ít
và cũng không gây được nhiều sự chú ý.
Chính sự tham gia của các ngân hàng nước
ngoài đã làm gia tăng tính cạnh tranh trong hệ
thống tài chính ngân hàng và thúc đẩy M&A
phát triển.
Về số lượng thương vụ: Giai đoạn 2007-2008
có thể coi là giai đoạn bùng nổ của hoạt động
M&A ngân hàng tại Việt Nam với hơn 10
thương vụ M&A ghi nhận được. Nhưng sau
đó, khuynh hướng này lại thoái trào trong
năm 2009-2010, thể hiện ở số lượng thương
vụ giảm đi rõ rệt dù cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu lan ra từ Mỹ tạo khá nhiều cơ
hội cho các ngân hàng lớn thâu tóm ngân
hàng nhỏ cũng như cho các nhà đầu tư tiến
hành mua bán doanh nghiệp. Sang những năm
đầu thập kỷ thứ 2, tuy hoạt động mua bán sáp
nhập ngân hàng ở Việt Nam không có sự gia
tăng đáng kể về mặt lượng nhưng về chất thì
đã tiến một bước dài với giá trị mỗi thương
vụ đều lớn hơn hẳn. Thương vụ Mizuho mua
15% cổ phần VietcomBank trị giá 567.3 triệu
USD là thương vụ có giá trị lớn nhất năm
2011. Năm 2012 khép lại với thương vụ đạt
giá trị kỷ lục 743 triệu USD cho 20% cổ phần
VietinBank do Bank of Tokyo-Mitsubishi
UFJ mua lại. [7]
Về đối tác tham gia trong các thương vụ: Một
điều dễ nhận thấy, hầu hết các thương vụ
M&A ngân hàng, nhất là các thương vụ lớn,
diễn ra tại Việt Nam đều có liên quan đến các
nhà đầu tư nước ngoài. Từ năm 2007 đến nay
có tới hơn 15 thương vụ M&A có yếu tố nước
ngoài và chủ yếu dưới hình thức mua cổ phần
của các ngân hàng. Mặc dù chưa có các chỉ

105(05): 137 - 143

tiêu cụ thể đánh giá mức độ thành công của
hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng
nhưng thực tế cho thấy hoạt động của các
ngân hàng “hậu M&A” hoàn toàn bình
thường, chưa có bất kỳ một ghi nhận nào về
sự đổ vỡ của các đối tác. Hơn nữa, hầu hết
các vụ sáp nhập đều mang tính hợp tác để
cùng phát triển chứ không phải thôn tính
mang tính thù địch, vì thế, các đối tác đều rất
cố gắng cho sự thành công của cả 2 bên.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THƯƠNG
VỤ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG TMCP SÀI
GÒN - ĐỆ NHẤT - TÍN NGHĨA
Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó
khăn, tính thanh khoản của hệ thống các tài
chính tín dụng (TCTD) kém, đứng trước yêu
cầu lành mạnh hóa các tài chính tín dụng
(TCTD) của NHNN, việc sáp nhập các TCTD
quy mô nhỏ, hoạt động yếu kém là một yêu
cầu tất yếu. Đối với 3 ngân hàng là Ngân
hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng
thương mại cổ phần Đệ Nhất (Ficombank),
Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank) thì giai đoạn trước hợp nhất
đang bị mất thanh khoản tạm thời, trình độ
quản lý yếu kém, buông lỏng giám sát. Và cả
3 ngân hàng này đều có quy mô nhỏ, tính đến
thời điểm trước hợp nhất ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn có vốn điều lệ lớn nhất
với trên 4.184 tỷ đồng, tổng tài sản 77.985 tỷ
đồng; ngân hàng thương mại cổ phần Tín
Nghĩa có vốn điều lệ trên 3.399 tỷ đồng, tổng
tài sản 58.939 tỷ đồng; ngân hàng thương mại
cổ phần Đệ Nhất có vốn điều lệ 3.000 tỷ
đồng, tổng tài sản 17.104 tỷ đồng.[1]
Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính
thức cấp Giấy phép số 238/GP-NHNN về
việc thành lập và hoạt động Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) trên cơ sở
hợp nhất tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng
TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng thương
mại cổ phần Đệ Nhất (Ficombank), Ngân
hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank). Ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2012.
Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của

138

143Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Ngọc Lý và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

ba ngân hàng cũng như thể hiện quyết tâm
làm lành mạnh hóa thị trường tài chính ngân
hàng của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, hậu sáp nhập các ngân hàng này
đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề
định giá, minh bạch thông tin, thiếu các tổ
chức môi giới tư vấn, khung pháp luật, nhân
sự, hậu sáp nhập…
Một là, vấn đề định giá trong thương vụ
M&A
Định giá là một giai đoạn trong xác định giá
trị doanh nghiệp. Đây luôn luôn là vấn đề
phức tạp đối với các nhà đầu tư và doanh
nghiệp khi đàm phán giao dịch M&A. Định
giá gồm 2 phần chính là giá trị doanh nghiệp
vô hình và giá trị doanh nghiệp hữu hình.
Hiện nay, thị trường M&A Việt Nam sử dụng
ba phương pháp định giá chính: định giá theo
giá trị tài sản thực, định giá theo dòng tiền
chiết khấu và định giá theo giá thị trường.
Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn
chế nhất định, với kiến thức về M&A còn khá
sơ sài của các doanh nghiệp trong nước cùng
với một thị trường chứng khoán chưa phát
triển như hiện nay thì việc lựa chọn định giá
theo phương pháp nào cũng có những khó
khăn nhất định.
Về định giá tài sản vô hình cũng là một trong
những vấn đề khó khăn bởi vì khó dự báo
được những dòng tiền đáng tin cậy của tài sản
vô hình được thẩm định, rất khó chia tách các
dòng tiền của một doanh nghiệp thành từng
bộ phận cấu thành, trong đó có tài sản vô
hình. Ngoài ra, xác định giá trị vô hình sẽ liên
quan đến hoạt động định giá thương hiệu.
Trong khi đó hoạt động định giá thương hiệu
hiện tại ở Việt Nam chưa có phương pháp cụ
thể hay chưa có công cụ để định giá nên
thường được định giá vo. Bên cạnh đó, các
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư cho thương
hiệu không theo chiến lược. Do đó doanh
nghiệp cũng không có con số nào thống kê
đầy đủ doanh nghiệp đã bỏ ra bao nhiêu tiền
để xây dựng thương hiệu từ ngày khai lập cho
tới ngày bị bán hay thâu tóm. Do vậy việc
thỏa thuận này thường theo bế tắc hay theo
phương thức bán “vo”.

105(05): 137 - 143

Chính vì lý do trên mà đây là một vấn đề được
quan tâm rất nhiều trong quá trình tiến hành
thương vụ M&A. Để định giá doanh nghiệp
mục tiêu thì ngân hàng thường phải thuê chuyên
gia định giá và các chuyên gia này thường phải
kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để có thể
định giá được một cách gần đúng nhất giá trị
của doanh nghiệp mục tiêu.
Hai là, vấn đề minh bạch thông tin
Vấn đề minh bạch thông tin tài chính và hoạt
động của các doanh nghiệp Việt Nam là một
vấn đề nổi cộm trong nền kinh tế của Việt
Nam nói chung và trong các thương vụ M&A
nói riêng. Trên thực tế hầu hết các doanh
nghiệp ở Việt Nam đều có 2 hệ thống sổ sách
kế toán. Một sổ được hạch toán theo dõi nội
bộ dùng cho mục đích quản lý. Một sổ được
hạch toán để lập báo cáo thuế và quyết toán
thuế cuối năm. Và các số liệu trong sổ này
cũng được sử dụng để làm thông tin chính
thức khi công bố thông tin về doanh nghiệp ra
bên ngoài. Trong những báo cáo này có rất
nhiều báo cáo về tình hình tài chính và hoạt
động của doanh nghiệp được ngụy tạo và che
đậy, trong đó có những khoản nợ bị che dấu,
những tài sản được thổi phồng, việc thiếu
thuế chính phủ, hay việc giấy phép không rõ
ràng. Việc các thông tin tài chính mà doanh
nghiệp đưa ra chưa minh bạch còn do các
công ty mục tiêu luôn muốn bán được giá cao
nên có xu hướng đưa ra những thông tin có
lợi cho doanh nghiệp của mình, còn những
thông tin thực sự cần thiết thì lại không được
công bố. Điều này khiến các nhà đầu tư
không thể biết chính xác được tình hình sức
khỏe của doanh nghiệp.
Trong thương vụ sáp nhập 3 ngân hàng Sài
Gòn – Tín Nghĩa – Đệ Nhất, vấn đề minh
bạch thông tin cũng được ít nhiều nhắc tới. Ở
một góc độ nào đó, các con số trong báo cáo
tài chính vẫn chưa cho thấy trọn vẹn sự minh
bạch. Như trong báo cáo thường niên của
ngân hàng Đệ Nhất năm 2010 cho thấy trong
cơ cấu dư nợ cho vay trong năm 2010, trung
dài hạn chiếm 14% tổng dư nợ, ngắn hạn
chiếm 86% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay ngắn
hạn chiếm đa số vậy mà chỉ trong vòng 9
139

144Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Ngọc Lý và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

tháng đầu năm 2011, Ficombank lại thông cáo
rằng đang mắc kẹt trong việc dùng vốn ngắn
hạn cho vay trung dài hạn và đánh mất thanh
khoản tạm thời nhanh như vậy.[1]
Hay như trường hợp ngân hàng SCB, tỷ lệ nợ
xấu của ngân hàng cuối năm 2010 tăng cao,
lên tới 12.46%. Tuy nhiên không có sự giải
thích rõ ràng ngay cả đối với các cổ đông của
SCB vì sao nợ xấu lại tăng cao như vậy và
việc trích lập dự phòng rủi ro như thế nào, và
tại sao lại thiếu thanh khoản trầm trọng đến
mức phải vay Ngân hàng Nhà nước hơn 2000
tỷ đồng.
Trong vấn đề định giá các ngân hàng trong
thương vụ này, nhà đầu tư cũng không có
thuyết minh cụ thể về phương pháp sử dụng
và kết quả định giá ba ngân hàng và vì sao tỷ
lệ chuyển đổi cổ phiếu phổ thông của ba ngân
hàng bị hợp nhất thành cổ phiếu của ngân
hàng mới lại là 1:1:1 (mỗi cổ phiếu phổ thông
của một ngân hàng bị hợp nhất được hoán đổi
thành một cổ phiếu của ngân hàng mới theo
nguyên tắc ngang bằng mệnh giá) trong khi
đó trên thực tế tại thời điểm đó cổ phiếu của
ba ngân hàng này được giao dịch với giá khác
nhau trên sàn OTC. Giá cổ phiếu SCB có mức
giá 4.900đ/CP, cổ phiếu của Tin Nghia Bank
được chào bán với giá 7.700đ/CP và
Ficombank với giá 9.300đ/CP.[1]

Ba là, thiếu các tổ chức môi giới, tư vấn
M&A
Nguyên tắc thực hiện các giao dịch sáp nhập
và mua lại doanh nghiệp là dựa trên sự thoả
thuận đồng ý của hai bên đối tác và có người
trợ giúp của doanh nghiệp tư vấn. Thị trường
M&A hoạt động bền vững là dựa vào các
doanh nghiệp tư vấn trong lĩnh vực này. Vì
vậy, tính chuyên nghiệp của thị trường M&A
phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp của các
doanh nghiệp tư vấn. Hiện nay năng lực và
phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp tư
vấn M&A tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế
và chưa thực sự chuyên nghiệp như nguồn
nhân lực có trình độ chuyên môn sâu về lĩnh
vực này còn chưa cao, khả năng cung cấp các
dịch vụ có liên quan đến hoạt động M&A còn
hạn chế…

105(05): 137 - 143

Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều các công
ty chứng khoán, ngân hàng, tổ chức tư vấn tài
chính, kiểm toán tham gia vào làm trung gian,
môi giới cho các bên trong hoạt động M&A.
Tuy nhiên do vẫn còn nhiều hạn chế về hệ
thống luật, nguồn nhân sự, trình độ công
nghệ, cơ sở dữ liệu và thông tin mà những tổ
chức này hoạt động chưa chuyên nghiệp,
chưa thể hiện được vai trò tạo lập thị trường
của mình.
Bốn là, về khung pháp luật
Hiện nay ở Việt Nam, khung pháp lý cho
M&A rất phân tán khiến cho việc M&A các
ngân hàng rất khó diễn ra. Về hoạt động
M&A ngân hàng được đề cập trong sáu bộ
luật khác nhau gồm Luật cạnh tranh, Luật đầu
tư, Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán,
Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng
Nhà nước và nhiều văn bản khác. Tuy nhiên,
những quy định về hoạt động M&A trong các
văn bản Luật này hầu như mới chỉ dừng lại ở
việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động
M&A. Trong khi đó hoạt động này đòi hỏi
phải có những quy định cụ thể, có một cơ chế
thị trường để chào bán, chào mua doanh
nghiệp, giá cả, cung cấp thông tin, chuyển
giao quyền sở hữu, chuyển dịch tư cách pháp
nhân, các nghĩa vụ tài chính, người lao
động… Đồng thời, còn hàng loạt vấn đề liên
quan trực tiếp đến M&A mà pháp luật nước ta
còn chưa quy định cụ thể như kiểm toán, định
giá, tư vấn, môi giới, bảo mật, cơ chế giải
quyết tranh chấp… Bên cạnh đó, thẩm quyền
quản lý của các đơn vị chủ quản đối với từng
loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau. Hiện
tại, các hoạt động M&A liên quan tới doanh
nghiệp niêm yết do Ủy ban chứng khoán Nhà
nước quản lý, liên quan tới đầu tư trực tiếp
nước ngoài thuộc thẩm quyền của Bộ kế
hoạch và đầu tư.
Chính những quy định chưa rõ ràng và bị chi
phối bởi nhiều luật như thế đã gây khó khăn rất
nhiều cho doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
M&A ở Việt Nam. Sự chồng chéo của các luật
đã làm hạn chế những nhà đầu tư nước ngoài
muốn thực hiện hoạt động M&A với các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung và với Ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam nói riêng.

140

145Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Ngọc Lý và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

Năm là, vấn đề hậu sáp nhập
Một trong những vấn đề mà tất cả các doanh
nghiệp tham gia M&A luôn phải quan tâm là
vấn đề hậu sáp nhập. Các vấn đề quản lý như xử
lý nợ, lợi ích cổ đông thiểu số, người lao động,
cơ cấu tổ chức, ban điều hành, văn hóa doanh
nghiệp, thuơng hiệu và thị trường là những vấn
đề quan trọng cần được quan tâm giải quyết sau
khi hợp nhất ba ngân hàng lại với nhau.
Văn hóa doanh nghiệp: Văn hóa doanh
nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc
quyết định sự thành công của một thương vụ
M&A. Lãnh đạo công ty thường mắc sai lầm
cố hữu khi cho rằng hợp nhất chỉ đơn thuần
liên quan đến hoạt động tài chính và đánh giá
thấp những xung đột văn hóa thường xảy đến
trong tương lai. Thông thường, các nhân viên
cấp thấp – trung có khuynh hướng đối phó
với vụ hợp nhất, vốn được quyết định ở
những tầng nấc quản lý cao hơn. Để hòa nhập
văn hóa của ba ngân hàng sau hợp nhất và để
tránh những xung đột văn hóa tiềm tàng, ban
điều hành ngân hàng sau hợp nhất phải tiến
hành tuyên truyền định hướng về các chính
sách, chế độ liên quan tới toàn bộ nhân viên
ngân hàng tham gia hợp nhất, đồng thời xây
dựng cho ngân hàng mới một chiến lược hòa
nhập văn hóa doanh nghiệp với tầm nhìn mới
để có thể lôi cuốn toàn bộ nguồn nhân lực
ngân hàng vào những sứ mệnh lớn hơn những
lợi ích và văn hóa cục bộ trước đây của mình.
Quản lý rủi ro: rủi ro chính yếu của SCB sau
khi hợp nhất cần phải xử lý là rủi ro tín dụng
và rủi ro vận hành.
Rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc
khách hàng không trả được đầy đủ, đúng hạn
các khoản nợ hoặc khách hàng không thực hiện
đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ với ngân hàng.
Theo báo cáo tài chính sau hợp nhất của SCB
mới đến ngày 30/9/2011, chỉ tiêu cho vay
khách hàng là 70.104 tỷ đồng, dự phòng rủi
ro là 10854 tỷ đồng, tỷ lệ DPRR/CVKH là
2.64%. So với các ngân hàng TMCP khác có
quy mô tương đương như ngân hàng
Eximbank EIB, Ngân hàng Sài Gòn – Thương
Tín STB, ngân hàng Á Châu ACB thì chi phí

105(05): 137 - 143

trích lập DPRRTD và tỷ lệ DPRR/CVKH của
SCB mới là cao nhất, chứng tỏ SCB mới tiếp
tục phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao và vấn
đề xử lý nợ xấu là một vấn đề mà ban quản trị
mới của ngân hàng cần phải quan tâm giải
quyết hàng đầu thời gian sau hợp nhất.[6]
Bên cạnh rủi ro tín dụng thì ban quản trị ngân
hàng sau hợp nhất cũng cần phải quan tâm tới
rủi ro vận hành. Đây là những rủi ro phát sinh
do yếu tố con người hoặc do sự không hoàn
chỉnh trong các quy trình vận hành, sự yếu
kém trong hệ thống thông tin, hệ thống kiểm
soát nội bộ, hoặc do những thay đổi của các
yếu tố khách quan (cơ chế, chính sách nhà
nước, sự thay đổi của môi trường tự nhiên…)
Do Ngân hàng SCB mới là sự hợp nhất từ 3
ngân hàng Sài Gòn - Tín Nghĩa – Đệ Nhất.
Trước khi hợp nhất, ba ngân hàng này hoạt
động riêng rẽ với đội ngũ nhân viên khác
nhau, quy trình nghiệp vụ, các quy chế, quy
định về tác nghiệp khác nhau, hệ thống quản
lý, hệ thống công nghệ thông tin khác nhau…
nên không thể nhanh chóng ban quản trị sau
hợp nhất có thể tích hợp dữ liệu công nghệ
thông tin của 3 ngân hàng này thành một hệ
thống và hòa nhập những yếu tố riêng biệt
còn lại thành một thể thống nhất.
Để đảm bảo ngân hàng sau sáp nhập hoạt
động hiệu quả, an toàn và thống nhất, ban
quản trị ngân hàng cần phải xây dựng lại một
hệ thống quy trình, quy chế, quy định chặt
chẽ, đầy đủ, tuân thủ pháp luật và để làm định
hướng thống nhất cho hoạt động của toàn bộ
ngân hàng. Công tác quản trị rủi ro cần được
xây dựng và triển khai thực hiện trong toàn bộ
hệ thống ngân hàng từ cấp quản trị, ban điều
hành tới các nhân viên của ngân hàng.
Bên cạnh việc xây dựng một hệ thống quy
chế, quy định, quy trình chuẩn, ngân hàng
cũng cần phải cơ cấu lại mô hình tổ chức của
mình trên nguyên tắc phân định rõ khối kinh
doanh, quản lý rủi ro và hỗ trợ từ Hội sở
xuống các đơn vị về chức năng, nhiệm vụ. Có
thể thấy khi hợp nhất 3 ngân hàng với nhau
tất yếu sẽ tinh giản các hoạt động phòng, ban
hay sự trùng lặp về tổ chức giữa các ngân
141

146Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

TYING ODYSSEUS TO THE MAST: EVIDENCE FROM A COMMITMENT SAVINGS PRODUCT IN THE PHILIPPINES*

Since the 1980s, the Bank has made progress in integrating gen- der issues into country work and lending, particularly in education and health. For example, between 1995 and 2000 the Bank lent more than $3.4 billion for girls’ education programs, and was also the single largest lender in the world for health, nutrition, and pop- ulation projects, three-quarters of which contained gender-respon- sive actions. Attention to gender issues in World Bank Country Assistance Strategies (CASs) also increased during this period. Sever- al organizational changes designed to facilitate greater attention to gender and development issues were also made, including issuing an Operational Policy on the gender dimension of development in 1994, and...


Một số kết quả thực hiện đề án tái cơ cầu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Một số kết quả thực hiện đề án tái cơ cầu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trình bày vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, việc giữ ổn định và củng cố năng lực hoạt động cho hệ thống ngân hàng là vấn đề được quan tâm đặc biệt,... Mời các bạn cùng tham khảo bài viết


The Future of Banking A VoxEU.org eBook

The Future of Banking Edited by Thorsten Beck A VoxEU.org eBook .The Future of Banking A VoxEU.org eBook .Centre for Economic Policy Research (CEPR) Centre for Economic Policy Research 3rd Floor 77 Bastwick Street London, EC1V 3PZ UK Tel: +44 (0)20 7183 8801 Fax: +4 (0)20 7183 8820 Email: cepr@cepr.org Web: www.cepr.org © Centre for Economic Policy Research, 2011 ISBN (eBook): 978-1-907142-46-8 .The Future of Banking A VoxEU.org eBook Edited by Thorsten Beck .Centre for Economic Policy Research (CEPR) The Centre for Economic Policy Research is a network of over 700 Research Fellows and Affiliates, based primarily in European Universities. The Centre coordinates the research activities of its Fellows and Affiliates...


Tài trợ dự án - Dịch vụ cơm hộp văn phòng phục vụ các món chay mang thương hiệu “Cơm V”

Hà nội đang phát triển nhanh chóng, số lượng doanh nghiệp tăng lên, các văn phòng, tòa nhà cao ốc mọc lên từng ngày và theo đó là sự phát triển của các dịch vụ cơm văn phòng. Hiện nay thị trường cơm văn phòng vẫn đang phát triển theo sự phát triển của các văn phòng doanh nghiệp. Đây là một thị trường khá hấp dẫn, thế nên cũng dễ hiểu khi thấy gần đây có khá nhiều người nhảy vào kinh doanh loại hình này, thậm chí nhiều quán café đơn thuần giờ cũng biến thành café 2 trong 1 (café + cơm văn...


LÃI SUẤT - ThS. Nguyễn Hoài Phương

I. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LÃI SUẤT Marx: “Lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định”  Các nhà kinh tế học về lượng cầu tài sản:


OIL AND GAS BONDS - Bonding Requirements and BLM Expenditures to Reclaim Orphaned Wells

he product of the risk-neutral default intensity and the loss rate equals the instantaneous credit spread. Like Duffee (1999) and Elton et al. (2001), we assume a constant loss rate and allow the default intensity to vary stochastically over time. We model each firm’s default intensity as a function of a low number of latent common factors and a latent firm-specific factor. This extends the analysis of Duffee (1999), who estimates a separate model for each firm. As in Duffee (1999), all factors follow square-root diffusion processes. We use a latent factor model, since Collin-Dufresne et al. (2001) show that observable financial and economic variables cannot explain...


Đáp án chi tiết đề thi Giao dịch viên Vietcombank

Đáp án chi tiết đề thi Giao dịch viên Vietcombank gồm có 40 câu hỏi về cuộc thi sẽ vô cùng bổ ích cho các bạn đang làm ngân hàng và tham gia cuộc thi giao dịch viên của Vietcombank. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.


Đề tài phân tích rủi ro tín dụng trong trung và dài hạn của ngân hàng đầu tư và phát triển - 3

Phòng kế hoạch nguồn vốn của BIDV Cần Thơ) Qua số liệu 3 năm cho ta thấy trong thành phần kinh tế Nhà nước có mức dư nợ là khá cao. Cụ thể là năm 2005 mức dư nợ của thành phần Nhà nước chiếm 45,7%/tổng dư nợ của NH, sang năm 2006 đã tăng 48,06%/tổng dư nợ của NH,


BỘ ĐỀ ÔN THI HẾT MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Mức độ thanh khoản của một tài sản được xác định bởi: a) Chi phí thời gian để chuyển tài sản đó thành tiền mặt. b) Chi phí tài chính để chuyển tài sản đó thành tiền mặt. c) Khả năng tài sản có thể được bán một cách dễ dàng với giá thị trường. d) Cả a) và b). e) Có người sẵn sàng trả một số tiền để sở hữu tài sản đó.


Giáo trình phân tích một số loại nghiệp vụ mới trong kinh doanh ngân hàng quản lý ngân quỹ p6

Séc trắng: được ban hành theo mẫu thống nhất của ngân hàng nhà nước. Séc trắng chỉ được bán cho khách hàng có mở tài khoản thanh toán séc. • Người ký phát hành séc: là chủ tài khoản hoặc là người được chủ tài khoản uỷ quyền, chỉ được quyền ký phát séc trong phạm vi số dư tài khoản hoặc trong phạm vi uỷ nhiệm (đối với trường hợp uỷ quyền) • Người thụ hưởng: là người có quyền hưởng số tiền ghi trên tờ séc...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu