Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Một số vấn đề lý luận về quyền im lặng trong tố tụng hình sự

Quyền im lặng là quyền cơ bản của con người trong tố tụng hình sự và một trong những biện pháp quan trọng bảo vệ quyền con người. Quyền im lặng đã được quy định từ rất lâu trong Bộ luật tố tụng hình sự của nhiều nước và tỏ ra có hiệu quả trong việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoạt động tố tụng hình sự.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016

Một số vấn đề lý luận về quyền im lặng
trong tố tụng hình sự


Võ Văn Tài

Trường Đào tạo Bồi Dưỡng Nghiệp vụ Kiểm sát Tp.HCM - Email: vovantai79vks@gmail.com



Trịnh Tuấn Anh

Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM
(Bài nhận ngày 23 tháng 9 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 25 tháng 11 năm 2015)

TÓM TẮT
Quyền im lặng là quyền cơ bản của con
người trong tố tụng hình sự và một trong những
biện pháp quan trọng bảo vệ quyền con người.
Quyền im lặng đã được quy định từ rất lâu
trong Bộ luật tố tụng hình sự của nhiều nước và
tỏ ra có hiệu quả trong việc đảm bảo quyền của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoạt động
tố tụng hình sự. Ở Việt Nam hiện nay còn nhiều
tranh luận về quyền im lặng, có ý kiến ủng hộ

đưa quyền im lặng vào luật, số khác lại cho
rằng chưa đến lúc quy định quyền này, cũng có
những ý kiến băn khoăn, nêu ra những khó khăn
nếu quyền này được thực thi. Nguyên nhân của
sự bất đồng này một phần bắt nguồn từ việc
chưa hiểu rõ, hiểu đúng nội hàm của quyền im
lặng. Bài viết phân tích nguồn gốc và bản chất
của quyền im lặng, góp phần có cái nhìn đúng
đắn hơn về nội hàm của quyền im lặng.

Từ khoá: Tố tụng hình sự, quyền im lặng, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa.
1. GIỚI THIỆU
Dưới góc độ tư pháp hình sự thì quyền im
lặng là một trong những quyền con người cơ bản
trong hoạt động tố tụng hình sự. Theo Luật quốc
tế, quyền im lặng cũng được xem là một quyền
quan trọng của bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự, là một yêu cầu quan trọng của một phiên tòa
công bằng là một vấn đề rất quan trọng của luật
nhân quyền quốc tế, được thể hiện thông qua
một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm: (i) Bảo
vệ các quyền tự do và an ninh cá nhân của con
người (về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân
phẩm); và (ii) Đảm bảo quá trình xét xử được
công bằng. Quyền im lặng không được quy định
cụ thể trong luật nhân quyền quốc tế, nhưng
được coi là quyền và (ii) Quyền không bị buộc
phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc
Trang 86

buộc phải nhận là mình có tội. Dưới góc độ luật
nhân quyền quốc tế, trong một kết luận của Ủy
ban nhân quyền đã nêu: bất kì ai bị bắt giữ về
một cáo buộc hình sự cần được thông báo về
quyền giữ im lặng trong quá trình thẩm vấn của
cảnh sát. Ở cấp độ khu vực, Công ước châu Mỹ
về quyền con người cũng khẳng định rằng bất
kỳ người bị buộc tội nào đều không bắt buộc
phải làm nhân chứng chống lại chính mình hoặc
nhận tội. Trong vụ John Murray kiện Vương
quốc Anh, Tòa án nhân quyền châu Âu tuyên
bố: “không thể nghi ngờ gì nữa, quyền giữ im
lặng trong quá trình thẩm vấn của cảnh sát và
quyền chống lại sự tự buộc tội được thừa nhận
là những tiêu chuẩn quốc tế phổ biến, nằm ở

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016
trung tâm của khái niệm về một thủ tục công
bằng1.
2. NGUỒN GỐC CỦA QUYỀN IM LẶNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Quyền được im lặng là một chuẩn mực đã
được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận,
theo đó người bị cáo buộc có quyền từ chối đưa
ra ý kiến hay trả lời câu hỏi của giới chấp pháp
cả trước và trong quá trình xét xử2.
Cụm từ tiếng La-tinh “nemo tenetur prodere
seipsum” đã xuất hiện từ thời La Mã, có nghĩa
là không ai bị ràng buộc để phản bội chính
mình. Vì vậy, trong khoa học pháp lí đã tồn tại
quan điểm cho rằng quyền im lặng có nguồn gốc
từ luật La Mã cổ đại, xuất phát từ nguyên tắc
của người La Mã và được sử dụng trong lĩnh
vực dân sự, thương mại khi ở đó người ta khẳng
định “trách nhiệm chứng minh thuộc bên khẳng
định chứ không phải bên phủ định. A khẳng định
B nợ mình thì A phải chứng minh”. Ở thời kì đó,
chế định này nhiều khi đã bị lợi dụng để sử dụng
như là công cụ bảo vệ cho giai cấp thống trị hơn
là quyền cho bất kì cá nhân nào bị buộc tội. Chế
định này đảm bảo rằng chỉ khi có lí do hợp lí để
nghi ngờ ai đó vi phạm pháp luật thì người đó
mới có thể bị buộc trả lời những câu hỏi buộc
tội. Tuy nhiên, chế định này gần như đã bị “tê
liệt” trong các toà án suốt thời trung cổ, nó chỉ
được phục hưng và tôn trọng kể từ các cuộc
cách mạng tư sản ở châu Âu. Sự phục hồi của
quyền này dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc
khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự của thế
giới đó là quyền không tự tố giác.
Tuy nhiên, có quan điểm lại cho rằng nước
Anh là quốc gia đầu tiên đưa ra khái niệm về
Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), Quyền im lặng
trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và
Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và
pháp luật, 2015, Số 3(323), tr.29-33.
2
Eileen Skinnider, Frances Gordon (2001), The right to
slience-international norms and domestic realitie, In sino
canadian international conference on the ratification and
implementation of human rights covenants, Beijing, p. 12
1

quyền được im lặng. Ở Anh, xuất phát từ quan
điểm lịch sử về sự cân bằng quyền lực giữa nhà
nước và quyền công dân3, ngay từ thế kỉ XVI đã
tồn tại nguyên tắc về quyền im lặng: “không ai
bị ràng buộc để buộc tội mình, bất kì hình thức
hoặc toà án nào”4. Lịch sử tố tụng Anh chứng
kiến sự thay đổi từ học thuyết “người bị buộc
tội trình bày” (accused speaks theory) đến học
thuyết “kiểm tra sự buộc tội” (testing the
prosecution theory). Học thuyết hiện đại “kiểm
tra sự buộc tội” trong việc xét xử hình sự thay
thế học thuyết “người bị buộc tội trình bày”, bị
cáo mới có được quyền hữu hiệu để từ chối trả
lời những buộc tội đối với mình. Có thể nói,
những người bào chữa đã góp công lớn trong
việc “khai sinh” ra đặc quyền chống lại sự tự
buộc tội và quyền im lặng, cũng như tạo nên
cuộc cách mạng về tố tụng mà kết quả của nó
vẫn tồn tại trong hệ thống tư pháp ở Anh5.
Mặc dù không có căn cứ rõ rằng nhưng ngày
nay, tại Vương quốc Anh và các nước thuộc
dòng họ pháp luật Anh, quyền im lặng vẫn được
gìn giữ. Các quốc gia này đều có những điều
luật quy định về quyền được im lặng của công
dân trước các hình thức chất vấn của nhà nước,
cả trước và trong quá trình xét xử. Ví dụ như
Australia, mặc dù không quy định về quyền
được im lặng trong Hiến pháp song chính quyền
vẫn thừa nhận về quyền này trong các luật và bộ
quy tắc cấp bang và liên bang. Quyền im lặng
được coi là một trong những biện pháp quan
trọng nhất bảo vệ người dân trước các hành
động tuỳ tiện của nhà nước.

3

Ronald Banasazak (2002), Fair Trial Rights of the Accused
Greenwood Pres, Introduction section.
4
Nguyên văn: “that no man is bound to incriminate himself,
on any charge (no matter how properly instituted), or in any
Court (not merely in the ecclesiastical or Star Chamber
tribunals)”.
5
Lê Huỳnh Tấn Duy (2015),“Trực tiếp ghi nhận quyền im
lặng cho người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt
Nam”, Tạp chí khoa học pháp lí, số (3), tr. 48 - 56.

Trang 87

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
Tuy nhiên, khi nói về quyền im lặng, người
ta thường nhắc nhiều hơn đến Hoa Kỳ với thuật
ngữ “Miranda warning” (lời cảnh báo Miranda:
“Anh có quyền im lặng”) bắt nguồn từ vụ
Miranda kiện Arizona6, mà sau này trở thành
nguyên tắc cơ bản về quyền im lặng trong luật
về tố tụng hình sự của Hoa Kỳ. Từ đó,
“Miranda warning” được dùng như công cụ
hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền của nghi phạm
hình sự nhằm tránh việc tự buộc tội chính mình
do bị bức cung7.
Vụ việc Miranda là một trong 4 trường hợp
xảy ra trong công tác xét xử của Toà án tối cao
đó là Vignera kiện chống lại New York (1966),
Westover kiện chống lại nhà nước Mỹ (1966) và
California kiện Stewart (1966). Mỗi trường hợp
đề cập sự thú tội hợp pháp do cảnh sát thu được
từ những đối tượng nghi vấn đang bị giam giữ
và không có sự hiểu biết về những quyền hiến
pháp và sự bảo vệ khi họ bị coi là người bị nghi
vấn trong vụ phạm tội. Quyết định của Toà án
tối cao trong trường hợp Miranda liên quan đến
một quyền con người cơ bản trong lĩnh vực tư
pháp hành sự đã được ghi nhận trước đó trong tu
chính án thứ năm của Hiến pháp Hoa Kỳ và việc
có thể chấp nhận các lời khai đạt được từ những
người bị tình nghi khi bị hỏi cung tại đồn cảnh
sát (hay khi họ từ chối sự tự do của họ). Theo tu
chính án Hiến pháp lần thứ năm của Hoa Kỳ
quy định rằng:”... và trong bất kỳ vụ án hình sự
nào cũng không phải bị ép buộc làm nhân
chứng chống lại chính mình, và không thể bị
tước đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu
không qua một quá trình xét xử theo đúng thủ

6

Xem: Nguồn gốc của lời cảnh báo Miranda: Anh có quyền
im lặng, nguồn : http://www.nguoiduatin.vn/nguon-goccua-loi-canh-bao-miranda-anh-co-quyen-im-langa83948.html
7
Michael P. Stone & Marc Berger, Civil Rights Liability for
Intentional Violations of Miranda Part One: Liability
Considerations, Law Enforcement Defense Center
(Evanston, Ill.).

Trang 88

tục quy định của pháp luật8…”Có nghĩa là một
người bị tình nghi không thể bị bắt buộc theo
bất cứ cách nào để thú tội hay thú tội do bị
cưỡng ép. Toà án tối cao Hoa Kỳ coi câu trên
trong Tu chính án năm là một trong những
quyền căn bản của công dân và gọi nó là “quyền
không tự buộc tội bản thân”. Việc sử dụng
quyền này bao gồm cả quyền từ chối trả lời mọi
câu hỏi, bởi vì mọi lời nói của một người đều có
thể bị đem ra làm bằng chứng chống lại chính
mình. Như vậy, có thể thấy rằng quyền im lặng
là một trong những quyền con người căn bản và
lâu đời nhất tại Hoa Kỳ. Theo cuốn từ điển pháp
luật của Hoa Kỳ thì Tu chính án năm còn bắt
công tố viên phải mang ra được các bằng chứng
khác, ngoài lời khai của bị cáo để chứng minh bị
cáo có tội.
Theo Toà án tối cao, việc Miranda thú tội là
kết quả của việc cảnh sát sử dụng phương pháp
tra tấn trong suốt cuộc hỏi cung của họ. Vì vậy,
sự kết án về Miranda đã bị thay đổi và toà án đã
đưa ra một bộ hướng dẫn hành động cho cảnh
sát trước khi hỏi cung người bị tình nghi tại đồn
cảnh sát. Những quyết định trong những trường
hợp sau đã cô đọng những quyền của những
người bị tình nghi được trình bày trong lời cảnh
báo Miranda. Theo Toà án tối cao Hoa Kỳ,
trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải thông báo cho
nghi phạm hình sự như sau: “Anh có quyền giữ
im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì
anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh
trước toà. Anh có quyền có luật sư trước khi
Nguyên văn: Không người nào bị buộc phải trả lời về một
tội có mức án tử hình hoặc một trọng tội nào khác, nếu
không có một cáo tội trạng hay tố cáo trạng do một đại bồi
thẩm đoàn đưa ra, ngoại trừ trong các trường hợp xảy ra
trong lục quân, hải quân, hoặc trong hàng ngũ dân quân, khi
đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc khi có nguy
hiểm cho quần chúng; và không người nào phải bị xử hai lần
cho cùng một tội có thể đưa đến tử hình hoặc giam cầm; và
trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng không phải bị ép buộc
làm nhân chứng chống lại chính mình, và không thể bị tước
đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu không qua một quá
trình xét xử theo đúng thủ tục quy định của pháp luật; không
một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng cho mục đích công
cộng nếu không được bồi thường thỏa đáng.
8

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016
khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi
cảnh sát thẩm vấn anh. Nếu anh không thể tìm
được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư
trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có thể trả lời
câu hỏi khi không có luật sư nhưng anh vẫn có
quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có
mặt của luật sư”.
3. BẢN CHẤT CỦA QUYỀN IM LẶNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hiện nay, trong khoa học pháp lí tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của
quyền im lặng dưới góc độ tư pháp hình sự.
Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền im lặng
chỉ là một trong những vấn đề cụ thể của nguyên
tắc cơ bản trong tố tụng hình sự đó là nguyên tắc
suy đoán vô tội, tức là quyền im lặng là quyền
phái sinh từ nguyên tắc suy đoán vô tội9.
Quan điểm thứ hai cho rằng quyền im lặng
là một trong những quyền để thực hiện quyền
bào chữa, là bộ phận cấu thành của quyền bào
chữa. Để bảo đảm quyền bào chữa phải có
quyền im lặng10. Quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là tổng hợp các quyền mà
pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự. Như vậy, quyền bào chữa
trước hết phải là những điều được pháp luật ghi
nhận và bảo đảm thực hiện, có nghĩa là phải
được ghi nhận về mặt pháp lí. Những gì không
được pháp luật ghi nhận thì cũng không được
coi là quyền bào chữa. Cùng với việc ghi nhận,
pháp luật còn xác định cơ chế đảm bảo cho chủ
thể (cụ thể là người bị tạm giữ, bị cáo, bị can)
thực hiện quyền này. Cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến hành tố tụng cũng như các cơ
quan, cá nhân khác không hạn chế, ngăn cản
9

Quyền im lặng, nguồn:
http://www.thanhnien.com.vn/chao-buoi-sang/quyen-imlang-566963.html,
10
Nguyễn Văn Hậu, Bàn về quyền im lặng của bị can, bị
cáo, nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/ban-vequyen-im-lang-cua-bi-can-bi-cao-466037.html

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền
bào chữa. Quyền bào chữa gắn liền với chủ thể
bị buộc tội (người bị tam giữ, bị can, bị cáo)
được thể hiện thông qua quan hệ pháp luật hình
sự giữa một bên là nhà nước và bên kia là người
bị buộc tội. Nội dung của quyền bào chữa là
người bị buộc tội sử dụng mọi lí lẽ, chứng cứ,
tài liệu để chống lại toàn bộ hoặc một phần sự
buộc tội của Nhà nước (cụ thể là cơ quan công
tố) nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình.
Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng
theo tác giả, quyền im lặng chỉ là một trong
những vấn đề cụ thể của nguyên tắc suy đoán vô
tội. Quyền im lặng là quyền phái sinh cơ chế
thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội. Thực ra
ngay từ thời La Mã cổ đại, người ta đã khẳng
định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố
cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên
phủ định. Những tư tưởng này chỉ được các
quan toà áp dụng trong tố tụng dân sự. Đây
được coi là cội nguồn của nguyên tắc suy đoán
vô tội (presomtion of innonce). Ở Anh, ngay từ
thế kỉ XV, Hoàng gia Anh đã đề ra nguyên tắc
“chưa bị toà kết án thì vẫn coi là vô tội” và chế
độ cho người bị bắt được tại ngoại. Khi nói về
suy đoán vô tội, học giả Trezare Becaria trong
cuốn “về tội phạm và hình phạt” năm 1764 đã
viết: “Không ai có thể bị coi là kẻ có tội khi còn
chưa có bản án kết tội và xã hội không thể tước
của bị can sự bảo hộ của mình trước khi quyết
định rằng anh ta đã vi phạm những điều kiện mà
sự tuân thủ các điều kiện đó thì anh ta được
đảm bảo sự bảo hộ”. Tuy nhiên, chỉ đến khi
Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 nổ ra, tư
tưởng này mới được ghi nhận như là nguyên tắc
của pháp luật. Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 long
trọng tuyên bố: Mọi người được coi là vô tội
cho đến khi bị tuyên bố phạm tội. Nếu xét thấy
cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt
Trang 89

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử
lí nghiêm khắc. Điều 11, Tuyên ngôn nhân
quyền của Liên hợp quốc năm 1948 cũng tuyên
bố: Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là
vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp
trong phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm
cần thiết cho quyền biện hộ. Không ai có thể bị
kết án về một tội hình sự do những điều mình đã
làm hay không làm, nếu những điều ấy không
cấu thành tội hình sự chiếu theo pháp luật quốc
gia hay pháp luật quốc tế hiện hành và không bị
tuyên phạt hình phạt nặng hơn hình phạt được
áp dụng trong thời gian phạm pháp.
Hiện nay trong khoa học pháp lí vẫn còn tồn
tại nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của
nguyên tắc suy đoán vô tội. Quan điểm thứ nhất
cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội chính là
nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội
của toà án đã có hiệu lực pháp luật11. Quan điểm
thứ hai cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội
gồm những nội dung sau: (1) Người bị tình nghi,
bị can, bị cáo (người bị buộc tội) được coi là
không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực
pháp luật của toà án kết tội đối với người đó; (2)
Nghĩa vụ chứng minh một người có tội thuộc về
bên có trách nhiệm buộc tội. Người bị tình nghi,
bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội
nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh sự
vô tội của mình; (3) Khi có những nghi ngờ về
pháp luật và chứng cứ xuất hiện thì những nghi
ngờ này phải được hiểu và giải thích theo hướng
có lợi cho người bị tình nghi và bị can, bị cáo12.
Như vậy, hiện có nhiều quan điểm khác nhau
về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội.
Theo tác giả, nguyên tắc suy đoán vô tội gồm
những nội dung sau: (1) Không ai có thể bị coi

: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo
trình luật tố tụng hình sự, Nxb. Hồng Đức, 2012, tr. 77.
12
Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí (2004), Cải cách tư pháp ở
Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 171.
11

Trang 90

là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được
chứng minh theo đúng các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 và chưa được xác định
bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của
toà án. (2) Trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về các cơ quan điều tra, viện kiểm sát; bị
can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải
chứng minh là mình vô tội. (3) Bản cáo trạng
của viện kiểm sát và bản án kết tội của toà phải
dựa trên các chứng cứ khẳng định chắc chắn về
lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội
phạm. (4) Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo
nếu không thể loại trừ được theo trình tự, thủ tục
do luật định và khi chưa có sự thống nhất trong
việc giải thích, áp dụng các quy phạm pháp luật
đều phải được giải quyết theo hướng có lợi cho
họ. Đây có lẽ là cách tiếp cận mới nhất theo
đúng tinh thần và quan điểm của Hiến pháp năm
2013 và Tuyên ngôn quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam tham gia năm 1977. Theo
đó, quyền bào chữa là hệ thuộc quan trọng để
thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội. Như vậy,
suy cho cùng, quyền im lặng có nguồn gốc từ
nguyên tắc suy đoán vô tội, là cơ chế thực thi
nguyên tắc suy đoán vô tội trong bảo vệ quyền
con người trong tố tụng hình sự.
Có thể nói rằng, quyền im lặng là bước tiến
dài của việc tôn trọng quyền con người trong xã
hội thượng tôn pháp luật, văn minh. Quyền im
lặng là sự phòng vệ rất tự nhiên của người bị
buộc tội, nhất là trong các vụ án kinh tế khi mà
ở đó tính đúng sai dựa trên việc hành xử có
đúng quy định của pháp luật chuyên ngành như
thuế, tài chính, ngân hàng. Trong bối cảnh các
quy định này chưa rõ ràng, thay đổi liên tục, còn
có cách hiểu khác nhau, ngay cả các cơ quan
nhà nước cũng có cách giải thích chưa thống
nhất thì quyền im lặng không buộc phải chứng
minh vô tội có ý nghĩa rất lớn. Nếu im lặng bị
coi là ngoan cố, còn tranh luận để đòi hỏi cách
hiểu thống nhất và bào chữa cho mình bị coi là
chối tội thì sẽ đẩy người bị buộc tội vào thế bất

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Giáo trình Luật thương mại quốc tế: Phần 1

Giáo trình Luật thương mại quốc tế là công cụ hữu ích giúp cho cán bộ chính phủ hàng ngày phải làm việc trong môi trường quốc tế đầy biến động, cũng như những cán bộ mong muốn tìm hiểu thêm những thông tin cơ bản liên quan đến các khía cạnh của pháp luật thương mại quốc tế. Mời các bạn cùng tìm hiểu phần 1 cuốn sách.


Bảo đảm sự thuận lợi, công bằng và hợp lý trong việc tự xử lý tài sản bảo đảm khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng

Biện pháp bảo đảm cung cấp cho bên nhận bảo đảm quyền định đoạt có điều kiện. Điều đó có nghĩa là bên nhận bảo đảm có quyền áp dụng bất kỳ phương thức định đoạt nào đối với tài sản bảo đảm khi xảy ra sự kiện vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm miễn rằng việc định đoạt tài sản bảo đảm được thực hiện trong điều kiện thương mại hợp lý hoặc một cách thiện chí trung thực. Lý thuyết này được áp dụng phổ biến ở nhiều nước.


Câu hỏi trắc nghiệm an toàn giao thông - Nguyễn đình Sắc - 7

Những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự: 1/ Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ; 2/ Xe quân sự,công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp; 3/ Xe cứu thương đang làm nhiệm vụ cấp cứu; 4/ Xe hộ đê,xe đang làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai hoặc tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; 5/ Đoàn xe có cảnh sát dẫn đường; 6/ Đoàn xe tang;...


Chuyên đề luật hiến pháp nước - Bài 4

Trong lĩnh vực tư pháp (impeachment): mô hình đa dạng, phần lớn nghị viện các nước có quyền này. Trong lĩnh vực giám sát hoạt động của hành pháp (Việt Nam thể hiện rõ nhất, các nước Bắc âu, Các nước theo DoP)


Giáo trình luật ngân hàng của Pháp

Tài liệu song ngữ Pháp - Việt giúp bạn tìm hiểu về luật ngân hàng của Pháp.Tài liệu tham khảo dành cho giảng viên và sinh viên đang nghiên cứu và học tập bộ môn này.


Ebook Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội (sách tham khảo): Phần 2

Nối tiếp nội dung của phần 1 cuốn sách "Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội", phần 2 giới thiệu tới người đọc các nội dung: Pháp luật với điều lệ, văn kiện của tổ chức xã hội, pháp luật với tôn giáo, pháp luật với hương ước, pháp luật với dư luận xã hội. Mời các bạn cùng tham khảo.


Bài tiểu luận Luật lao động: Đề tài lao động là người giúp việc gia đình

Nội dung bài tiểu luận gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của lao động là người giúp việc gia đình trong pháp luật Việt Nam và chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động là người giúp việc gia đình và định hướng hoàn thiện. Mời các bạn tham khảo!


Bài giảng Kỹ năng hoà giải của luật sư - TS. Nguyễn Minh Hằng

Bài giảng Kỹ năng hoà giải của luật sư nhằm trình bày về nội dung: vị trí và tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề hoà giải; rèn luyện kỹ năng chuẩn bị tham gia hoà giải và kỹ năng hoà giải vụ án dân sự, nắm vững và áp dụng các quy định của luật nội dung và luật tố tụng liên quan đến hoà giải vụ án dân sự.


Bài giảng Luật Kinh tế (cao học)

Bài giảng Luật Kinh tế trình bày các khái niệm cơ bản về luật kinh tế, quy phạm pháp luật kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, cơ sở pháp luật hợp đồng Việt Nam và một số nội dung liên quan khác. Đây là tài liệu dành cho học viên cao học.


CÁC QUI TẮC XÂY DỰNG VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

Khi Nhà nước ra đời, giai cấp thống trị nâng ý chí của mình lên thành pháp luật đây chính là hoạt động xây dựng pháp luật. + Hoạt động này được tiến hành thường xuyên do sự phát triển của xã hội. + Đây là một hoạt động phức tạp: qua nhiều giai đoạn có nhiều cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân tham gia. + Khi ban hành văn bản: cơ quan ban hành phải tuân thủ những qui định của Nhà nước về: Thẩm quyền, cơ cấu, thủ tục, trình tự, hình thức, nội...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu