Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Luận văn: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Luận văn được cơ cấu thành 5 chương như sau: Chương 1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Chương 2. Luật pháp và thực tiễn quốc tế về xác lập và thực hiện chủ quyền lãnh thổ. Chương 3. Lịch sử xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo. Chương 4. Về những yêu sách thiếu căn cứ đối với hai quần đảo. Chương 5. Phương hướng và một số kiến nghị cho tranh chấp đối với hai quần đảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa
Lê Quang Thành
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Đỗ Hoà Bình

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có vùng biển rộng, bờ biển dài với hàng
trăm đảo, quần đảo lớn nhỏ gần bờ và xa bờ chạy dọc theo chiều dài đất nước. Đặc
biệt, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng
không chỉ với Việt Nam mà còn có vị trí địa chính trị cực kỳ quan trọng đối với cả
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Từ lâu, Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện
chủ quyền đối với hai quần đảo này và Việt Nam có đủ những bằng chứng lịch sử
và pháp lý để chứng minh quan điểm, lập trường đó của mình.
Ngày nay trước nguy cơ nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn
kiệt, các quốc gia đang từng bước dịch chuyển, tăng cường hướng quan tâm của
mình ra biển và đại dương. Không phải ngẫu nhiên mà người ta coi thế kỷ 21 là thế
kỷ của Đại dương. Xu thế tiến ra biển, chiếm lĩnh và khống chế không gian biển,
sử dụng và khai thác biển đang trở thành xu thế chung của cả nhân loại. Khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Biển Đông cũng không nằm ngoài quy luật
đó. Mặt khác, phân tích trên khía cạnh lợi ích nhiều mặt có thể đạt được từ việc
làm chủ được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bất kỳ quốc gia nào ven bờ
Biển Đông đều mong muốn thiết lập được chủ quyền của mình trên hai quần đảo
này.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, trong vùng Biển Đông đã và đang tồn tại
những tranh chấp về chủ quyền rất phức tạp và kéo dài. Tình hình tranh chấp này
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, quốc phòng, sự phát triển của Việt

Nam mà còn ảnh hưởng đến cả hoà bình, ổn định và phát triển của toàn bộ khu
vực.
Hơn bao giờ hết, vấn đề tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo, đang
là vấn đề "nóng, nhạy cảm" đối với Việt Nam và khu vực. Yêu cầu chứng minh và
khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là phù hợp với thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế đã và đang được đặt ra hết sức
cấp thiết. Chứng minh và khẳng định Việt Nam đã xác lập và thực hiện chủ quyền
như thế nào để vừa đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đảm bảo an ninh, quốc
phòng, kinh tế lại vừa đảm bảo được yêu cầu hợp tác, hội nhập quốc tế, không để
xảy ra hoặc làm xuất hiện những nguy cơ xảy ra tranh chấp về lợi ích với các quốc
gia hữu quan, thậm chí là những nguy cơ gây xung đột vũ trang. Câu hỏi này thật
sự không bao giờ là dễ giải đáp, đòi hỏi phải có các giải pháp thích hợp và đặc biệt
phải phù hợp với thực tế lịch sử cũng như luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Mặc dù vấn đề này đã được Việt Nam và các quốc gia hữu quan, quan tâm
giải quyết song do quan điểm, lập trường của các bên còn khác nhau quá xa cho
nên việc đưa ra được những phương hướng, giải pháp thích hợp và được các bên
hữu quan cùng chấp thuận luôn gặp rất nhiều khó khăn. Tranh chấp chủ quyền đối
với hai quần đảo tiếp tục tồn tại và nguy cơ xung đột tiềm tàng xuất phát từ những
tranh chấp này có thể gây những ảnh hưởng xấu đến hoà bình, ổn định trong khu
vực.
2. Tình hình nghiên cứu:
Việc nghiên cứu Luật pháp và thực tiễn quốc tế về vấn đề "xác lập chủ
quyền quốc gia đối với các vùng lãnh thổ" để áp dụng vào trường hợp hai quần đảo
Hoàng Sa – Trường Sa đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Đã có
một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đó là: "Kể chuyện đảo Việt Nam" của tác
giả Vũ Phi Hoàng NXB Quân đội nhân dân năm 1978; "Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của tác giả Lưu Văn Lợi, NXB

Công An Nhân Dân Hà Nội, năm 1995; Luận án phó Tiến sĩ Luật học của tác giả
Hoàng Trọng Lập về “Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và Luật
pháp quốc tế” năm 1996... Các tác giả nước ngoài cũng đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này như: "Cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa - Ai là chủ
sở hữu đầu tiên" của tác giả Daniel J. Dzurek, năm 1996; "Chủ quyền trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của tác giả Monique Chemillier - Gendreau
năm 1997...
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nước dường như vẫn chưa thực
sự rõ ràng khi đưa ra các lập luận pháp lý quốc tế để khẳng định quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn các
công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài thì do không có đầy đủ các tài
liệu và bằng chứng lịch sử về hai quần đảo nên đã có những cách hiểu không chính
xác cả về lịch sử xác lập chủ quyền cũng như một số giai đoạn thực hiện chủ quyền
của Việt Nam đối với hai quần đảo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quốc tế về vấn đề xác lập chủ quyền
quốc gia đối với các vùng lãnh thổ.
- Trình bày, phân tích và đánh giá các bằng chứng lịch sử để từ đó chứng
minh quá trình xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa là phù hợp với thực tế lịch sử cũng như luật pháp quốc tế.
- Phân tích và phê phán yêu sách và lập luận sai trái của các bên (Trung
Quốc, Philippine, Malaysia, Brunei và Đài Loan) tranh chấp chủ quyền đối với hai
quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam.
- Đề xuất các phương hướng và các giải pháp cho tranh chấp song phương
đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như những tranh chấp đa phương đối với quần
đảo Trường Sa.
4. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài:

- Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm, lập trường chính thức của Nhà nước
Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Dựa
trên cơ sở lý luận, các căn cứ pháp lý về xác lập chủ quyền lãnh thổ trong những
quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đặt cái chung trong cái riêng để nghiên
cứu, trên cơ sở so sánh, đánh giá tìm ra những hạt nhân tiến bộ, những ưu điểm để
áp dụng trong hệ thống lý luận nhằm chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi
của Việt Nam đối với hai quần đảo. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khác như: phân tích, thống kê, so sánh...
5. Những đóng góp của Luận văn:
- Góp phần củng cố lập trường pháp lý của Việt Nam khi tiến hành đấu tranh
đối ngoại trên trường quốc tế bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đề xuất một số suy nghĩ, ý tưởng trong quá trình tìm kiếm giải pháp cho
tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa giữa Việt Nam và các bên liên quan
khác.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn được cơ cấu thành 5 chương như sau:
Chƣơng 1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa Trƣờng Sa.
Chƣơng 2. Luật pháp và thực tiễn quốc tế về xác lập và thực hiện chủ quyền
lãnh thổ.
Chƣơng 3. Lịch sử xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai
quần đảo.
Chƣơng 4. Về những yêu sách thiếu căn cứ đối với hai quần đảo.

Chƣơng 5. Phƣơng hƣớng và một số kiến nghị cho tranh chấp đối với hai quần
đảo.

CHƢƠNG 1
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA
HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA - TRƢỜNG SA
Trước đây, trong một thời gian dài, người Việt và người phương Tây biết
đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay ở giữa Biển Đông một cách mơ
hồ và đặt cho chúng một cái tên gọi chung. Người Việt thường gọi là Bãi Cát Vàng
hay Cồn Vàng hoặc về sau này gọi là Hoàng Sa hoặc Đại Trường Sa hay Vạn Lý
Trường Sa (phiên âm theo tiếng Hán). Người phương Tây, cụ thể là người Bồ Đào
Nha gọi là Parcel hay Pracel (theo tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là: đá ngầm). Cho
đến thế kỷ XVII hai quần đảo vẫn được vẽ gộp lại dưới tên gọi chung Paracel, nằm
dọc sát bờ biển miền Trung Việt Nam. Mãi đến năm 1787 - 1788, đoàn khảo sát
Kergariou Locmaria mới xác định được một cách rõ ràng và chính xác vị trí của
quần đảo Paracel như hiện nay. Từ đó, người phương Tây mới bắt đầu phân biệt
quần đảo Paracel ở phía Bắc với quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên
40 của thế kỷ XX người Pháp mới đặt tên là Spratly để chỉ chung cho quần đảo
Trường Sa. Trung Quốc, một bên tham gia tranh chấp chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặt tên cho hai quần đảo này là “Tây Sa” và “Nam Sa”.
Một điều hết sức đặc biệt là có sự nhất quán hết sức rõ ràng giữa danh xưng
quần đảo tên Việt và tên phương Tây. Giám mục Tabert đã từng ghi chú trên bản
đồ “An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ” với hàng chữ Paracel seu Cat Vang. (seu: tiếng
Latinh có nghĩa: hoặc là) [20,tr.2]. Ở Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác đều
không hề có các khái niệm này. Chỉ có ở Việt Nam mới chắc chắn có tên gọi Cát
Vàng hay Hoàng Sa để chỉ Paracel do người phương Tây đặt tên. Điều này là một

Tài liệu cùng danh mục Khoa học xã hội

Tiểu luận “Qua lịch sử phát triển của 3 phương thức sản xuất trước CNTB, chứng minh quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX"

Nhìn vào lịch sử xã hội loài người, ai cũng thấy xã hội mỗi ngày một tiến bộ từ thấp tới cao, từ thô sơ , đơn giản đến đa dạng và phức tạp. Nhưng muốn hiểu nguồn gốc phát triển của xã hội thì chúng ta phải tìm đến căn nguyên kinh tế của nó; nghĩa là phải tìm xem xã hội tiến hành sản xuất như thế nào và quá trình phát triển của nó theo dòng lịch sử ra sao? Để biết được điều đó chúng ta hãy nghiên cứu sơ qua quan điểm của chủ...


Tiểu luận đề tài: Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại

Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất xã hội từ khi ra đời cho đến nay, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Mỗ giai đoạn phát triển nó đều dựa trên nền tảng của giai đoạn trước nó, nó vừa kế thừa của giai đoạn trước, vừa là sự vươn lên hoặc phủ định lại giai đoạn trước. Trong quá trình phát triển đó ta đã thấy rằng sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là một tất yếu khách quan, vai trò của nhà nước ngày...


Tiểu luận: An ninh năng lượng trên thế giới

Nếu coi thế giới là một con người thì năng lượng chính là nguồn máu của thế giới. Năng lượng với tất cả các dạng thức của mình, tham dự mọi hoạt động sống của thế giới từ sinh hoạt đến sản xuất và hơn thế. Năng lượng cùng tầm quan trọng thiết yếu của mình còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các chính sách kinh tế, chính trị của mọi quốc gia trên thế giới.


Đề tài: Sống thử trong giới sinh viên

Đề tài: Sống thử trong giới sinh viên do nhóm sinh viên phối hợp thực hiện. Nội dung đề tài trình bày về cơ sở lý luận của sống thử, Thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay, từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp. Hy vọng đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn.


Luận văn tốt nghiêp “xây dựng kế hoạch sản xuất cho mã hàng thời trang trẻ em nữ”

Thực tế cho thấy các doanh nghiệp may ở Việt Nam chủ yếu sản xuất hàng gia công (CMT) nên lợi nhuận không cao. Để có thể phát triển hơn đặc biệt khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng nghĩa với nó có cũng nhiều khó khăn, thử thách và cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự thay đổi để có thể tồn tại và phát triển. Muốn vậy các doanh nghiệp phải nhanh chóng chuyển sang sản xuất hàng trọn gói (FOB). Tuy nhiên bước...


Tiểu luận: Đánh giá tính tích cực nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học

Đất nước ta đang trên con đường hội nhập với thế giới về nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đòi hỏi con người Việt Nam nhất là thế hệ trẻ phải tích cực, năng động, sáng tạo, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam


Đề tài: “Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và mối quan hệ biện chứng để nói vềvấn đềô nhiễm môi trường ở Hà Nội hiện nay.”

Hà nội là trung tâm chính trị, khoa học kỹ thuật, kinh tế văn hoá và giáo dục của cả nước.Hà nội đang cùng cả nước bước vào thời kỳ mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quá trình đổi mớiđất nước trong những năm vừa qua, thủđô Hà Nội đã có những bước phát triển khá mạnh trên mọi mặt đời sống –kinh tế- chính trị - văn hoá- xã hội. Kinh tế thủđô Hà Nội đạt nhịp độ tăng trưởng cao...


Luận văn: Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hiện đại

Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất xã hội từ khi ra đời cho đến nay, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Mỗ giai đoạn phát triển nó đều dựa trên nền tảng của giai đoạn trước nó, nó vừa kế thừa của giai đoạn trước, vừa là sự vươn lên hoặc phủ định lại giai đoạn trước. Trong quá trình phát triển đó ta đã thấy rằng sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là một tất yếu khách quan, vai trò của nhà nước ngày...


Báo cáo: Vai trò của chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn

Khái niệm : “chính sách'' là ''kiểu'', là phương pháp can thiệp của Nhà nước vào một lĩnh vực nào đó theo những mục tiêu và thời hạn nhất định. chính sách nông nghiệp, nông thôn như là một tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế có liên quan đến nông nghiệp và các ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn nhằm tác động vào nông nghiệp, nông thôn theo những mục tiêu nhất định trong một thời hạn nhất định....


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - CÁCH TRÌNH BÀY MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC

Tựa đề phản ánh nội dung cô đọng nhất của đề tài, thường mang tính tổng quát hóa về vấn đề nghiên cứu, phản ánh nhiệm vụ, mục đích, nội dung của đề tài. Trong tựa đề nên chứa những từ khóa mọ tả công việc nghiên cứu sẽ trình bày. Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu,thường được viết ở trung tâm của bài báo,độ dài khoảng từ 10 15 từ.


Tài liệu mới download

Đại cương về bào chế
  • 12/10/2015
  • 71.305
  • 188

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Đề tài: TIẾNG ANH GIÁO DỤC
  • 20/05/2011
  • 44.577
  • 763

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu