Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Khu vực tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính ASEAN

Bài viết tập trung vào các nội dung: (1) thảo luận các khuôn khổ hội nhập tài chính trong khu vực ASEAN và các sáng kiến, cam kết hội nhập đã được các nước thực hiện bao gồm tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do hóa tài khoản vốn, hội nhập thị trường tài chính, hội nhập trong lĩnh vực thanh quyết toán; (2) phân tích thực trạng khu vực tài chính Việt Nam trong mối tương quan so sánh với các nước trong cộng đồng kinh tế ASEAN, liên quan đến đánh giá độ sâu tài chính, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, hoạt động của ngân hàng và các định chế tài chính trung gian, luồng vốn nước ngoài và độ mở tài chính; (3) nêu ra các lợi ích và rủi ro của quá trình hội nhập tài chính ASEAN đối với Việt Nam.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016

Khu vực tài chính Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập tài chính ASEAN


Tô Thị Thanh Trúc

Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: tructtt@uel.edu.vn
(Bài nhận ngày 02 tháng 12 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 29 tháng 01 năm 2016)

TÓM TẮT
Bài viết tập trung vào các nội dung: (1)
thảo luận các khuôn khổ hội nhập tài chính
trong khu vực ASEAN và các sáng kiến, cam kết
hội nhập đã được các nước thực hiện bao gồm
tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do hóa tài khoản
vốn, hội nhập thị trường tài chính, hội nhập
trong lĩnh vực thanh quyết toán; (2) phân tích
thực trạng khu vực tài chính Việt Nam trong mối

tương quan so sánh với các nước trong cộng
đồng kinh tế ASEAN, liên quan đến đánh giá độ
sâu tài chính, thị trường trái phiếu, thị trường
cổ phiếu, hoạt động của ngân hàng và các định
chế tài chính trung gian, luồng vốn nước ngoài
và độ mở tài chính; (3) nêu ra các lợi ích và rủi
ro của quá trình hội nhập tài chính ASEAN đối
với Việt Nam.

Từ khóa: hội nhập tài chính ASEAN, khu vực tài chính Việt Nam, lợi ích, rủi ro.

1. GIỚI THIỆU
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), một
trong 3 trụ cột của ASEAN, sẽ hình thành vào
cuối năm 2015, AEC được hình dung có những
đặc trưng chính: (1) một thị trường và không
gian sản xuất thống nhất; (2) một khu vực kinh
tế có tính cạnh tranh cao; (3) một khu vực phát
triển kinh tế đồng đều; (4) một nền kinh tế hội
nhập đầy đủ với nền kinh tế toàn cầu. Một thị
trường và không gian sản xuất thống nhất
ASEAN bao hàm năm yếu tố cốt lõi, đó là: tự do
lưu chuyển hàng hóa; tự do lưu chuyển dịch vụ;
tự do đầu tư; tự do hơn trong lưu chuyển vốn; tự
do dịch chuyển lao động có tay nghề1.
Bài viết này tập trung thảo luận khía cạnh
hội nhập tài chính của AEC liên quan đến tự do
hơn trong lưu chuyển vốn (Freer flow of
Theo Bản kế hoạch chi tiết cộng đồng kinh tế Asean (Asean
Economic Community Blueprint).
1

capital). Bài viết cũng nhìn vào bức tranh tài
chính của Việt Nam trong mối tương quan so
sánh với các đối tác ASEAN cũng như những cơ
hội và rủi ro mà Việt Nam đối mặt.
2. KHUÔN KHỔ HỘI NHẬP TÀI CHÍNH
ASEAN
Lộ trình hội nhập tài chính của các nước
ASEAN gồm các sáng kiến và kế hoạch liên
quan đến: tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do hóa
tài khoản vốn, phát triển và hội nhập các thị
trường vốn và phát triển các hệ thống thanh
quyết toán. Nhiều sáng kiến và biện pháp đề
xuất trong AEC Blueprint và các khuôn khổ hội
nhập ASEAN như: AEC Strategic Schedule,
through 2015; Asean Capital Market Forum
(ACMF) Implementation Plan, through 2015 đã
được thực hiện nhằm thúc đẩy hợp tác xuyên
biên giới giữa các thị trường tài chính trong khu
vực ASEAN và tự do hóa tài khoản vốn.

Trang 129

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
Về dịch vụ tài chính: Tự do hóa dịch vụ tài
chính liên quan đến việc gỡ bỏ dần những giới
hạn đối với ngân hàng, công ty bảo hiểm và dịch
vụ đầu tư tài chính. Theo AEC Blueprint tự do
hóa về dịch vụ tài chính và dòng vốn phụ thuộc
vào tình hình, sự sẵn sàng của từng thành viên
và kéo dài đến năm 2020. Khi đó, dịch vụ tài
chính sẽ được tự do hóa hoàn toàn trong các
nước ASEAN, nghĩa là tự do hóa cả 4 phương
thức bao gồm: cung cấp dịch vụ qua biên giới
(phương thức 1); tiêu dùng ngoài lãnh thổ
(phương thức 2); hiện diện thương mại (phương
thức 3); hiện diện thể nhân (phương thức 4).
Đến năm 2015 các nước sẽ phải mở cửa tất
cả các ngành dịch vụ với quy định tối thiểu có
70% vốn nước ngoài tham gia. Theo cam kết,
Việt Nam chấp nhận tự do hóa trong lĩnh vực
bảo hiểm phi nhân thọ gián tiếp, tái bảo hiểm,
trung gian bảo hiểm và các dịch vụ phụ trợ bảo
hiểm. Trong lĩnh vực ngân hàng, các dịch vụ gửi
tiền, cho vay, thanh toán và bảo lãnh sẽ được tự
do hóa. Trên thị trường vốn, Việt Nam chưa sẵn
sàng tham gia tự do hóa các dịch vụ quản lý tài
khoản đầu tư của khách, quản lý tài sản, bảo
lãnh thanh toán với các tài sản tài chính. Nước
ta cũng chưa sẵn lòng tham gia vào việc cung
cấp và trao đổi các thông tin, dữ liệu tài chính và
phần mềm quản lý.
Trong năm 2015, các nước ASEAN đã ký
nghị định thư về Thực thi Gói cam kết thứ 6 về
dịch vụ tài chính trong AFAS2, gồm các điều
khoản về thực thi Khuôn khổ hội nhập ngân
hàng ASEAN3 được hoàn thành vào tháng 3
năm 2015. Theo đó, bất kỳ hai hoặc nhiều nước
thành viên ASEAN có thể tham gia các hiệp
định song phương nhằm tạo cơ hội cho các ngân
hàng ASEAN có chất lượng được tiếp cận thị

ASEAN Framework Agreement on Services - Hiệp định khung
ASEAN về dịch vụ, bao gồm bảo hiểm và các dịch vụ liên
quan đến bảo hiểm, ngân hàng và dịch vụ tài chính khác.

trường rộng lớn hơn và linh hoạt vận hành phù
hợp với các ngân hàng trong nước ở nước sở tại.
Đối với tự do hóa tài khoản vốn: Do có sự
khác biệt về trình độ phát triển giữa các nước
ASEAN trong lĩnh vực tài chính, mức độ mở
cửa tài khoản vốn cũng như những bất ổn mà
nền kinh tế có thể gặp phải khi tự do hóa tài
khoản vốn, AEC Blueprint đã hướng dẫn tự do
hóa tài khoản vốn cần tuân theo các nguyên tắc:
(1) đảm bảo quá trình tự do hóa tài khoản vốn
một cách trình tự, thống nhất với lộ trình của
từng quốc gia cũng như sự sẵn sàng của nền
kinh tế; (2) cho phép sự bảo vệ đầy đủ trước các
bất ổn kinh tế vĩ mô tiềm tàng và những rủi ro
hệ thống có thể xuất hiện trong quá trình tự do
hóa; (3) đảm bảo lợi ích từ tự do hóa tài khoản
vốn được chia sẻ bởi tất cả các nước ASEAN.
Trong năm 2015, các nước thành viên tiếp tục
thực hiện đối thoại chính sách về dòng vốn và
các cơ chế tự vệ thông qua Nhóm công tác về tự
do hóa tài khoản vốn (Working committee on
CAL). Tài khoản vốn sẽ tiếp tục được tự do hóa,
các hạn chế và kiểm soát vốn được loại bỏ hoặc
nới lỏng ở mức có thể để thuận lợi hóa lưu
chuyển vốn và thúc đẩy sự phát triển của thị
trường vốn, bao gồm loại bỏ các hạn chế về giao
dịch tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước
ngoài và luồng vốn đầu tư gián tiếp.
Đối với hội nhập và phát triển thị trường
vốn: Chương trình chiến lược (Strategic
Schedule) trong AEC Blueprint, phần liên quan
đến hội nhập và phát triển thị trường vốn, nhằm
đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc xây
dựng một thị trường hội nhập khu vực, nơi mà
trong đó: (1) vốn có thể tự do luân chuyển, (2)
các nhà phát hành có thể tự do huy động vốn ở
bất cứ nơi đâu và (3) các nhà đầu tư có thể đầu
tư mọi nơi. Để vươn đến một thị trường như thế,
đến năm 2015 các nước ASEAN sẽ:

2

3

ASEAN Banking Integration Frameworks (ABIF).

Trang 130

-

Đạt được những hài hòa hơn nữa trong các
chuẩn mực của thị trường vốn liên quan đến

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016

-

-

-

-

các quy định phát hành chứng khoán nợ, các
yêu cầu về công bố thông tin và các quy định
phân phối.
Thúc đẩy các thỏa thuận công nhận lẫn nhau
về đào tạo, bằng cấp và kinh nghiệm của các
chuyên gia thị trường.
Đạt được sự linh hoạt hơn trong ngôn ngữ và
các yêu cầu luật lệ về quản lý hoạt động phát
hành chứng khoán.
Cải tiến cấu trúc thuế chuyển thu nhập để
khuyến khích việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư
trong phát hành nợ của ASEAN.
Thúc đẩy các nỗ lực theo thị trường để thiết
lập sự liên thông trong thị trường nợ và
ngoại tệ, bao gồm các hoạt động huy động
vốn xuyên biên giới.

Các nước Singapore, Malaysia và Thailand
đã áp dụng Các chuẩn mực công bố thông tin
ASEAN (ASEAN Disclosure Standards) cho
việc chào bán chứng khoán nợ và chứng khoán
vốn, cho phép tổ chức phát hành chỉ phải tuân
thủ duy nhất một bộ chuẩn mực về công bố
thông tin, theo đó nhà phát hành có thể phát
hành chứng khoán ở ba thị trường với duy nhất
một bản cáo bạch. Các nước này cũng đã thiết
lập đường link giao dịch cho phép nhà đầu tư ở
một nước có thể mua cổ phiếu ở hai thị trường
còn lại thông qua tài khoản ở địa phương.
Đối với việc xây dựng hệ thống thanh quyết
toán: Ủy ban làm việc về hệ thống thanh quyết
toán của các Ngân hàng trung ương ASEAN
(WCPSS)4, được thành lập vào năm 2010, đã tập
trung vào cải thiện cơ sở hạ tầng về thanh toán
cho các nước thành viên. Ủy ban này thực hiện
các nghiên cứu và cung cấp các gợi ý chính sách
nhằm thúc đẩy một hệ thống thanh toán hiệu
quả, an toàn và hòa nhập trong khu vực. Tuyên
bố về việc áp dụng các nguyên tắc minh bạch
sản phẩm và công bố về các thanh toán thương
mại xuyên biên giới đã được đưa ra. Theo đó,
4

Working Committee on Payment and Settlement System

các nước Malaysia, Philippines, Singapore và
Thailand là những nước đầu tiên thực hiện các
nguyên tắc vào đầu năm 2015, các nước còn lại
gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos,
Myanmar và Việt Nam sẽ áp dụng muộn hơn
trong năm. Các nguyên tắc được thiết kế nhằm
đảm bảo rằng khách hàng có thông tin quan
trọng có thể so sánh, dễ dàng tiếp cận, kịp thời
và rõ ràng để ra các quyết định hợp lý khi thiết
lập các giao dịch thanh toán thương mại xuyên
biên giới. Việc áp dụng các nguyên tắc này giúp
nâng cao hiệu quả của các giao dịch thanh toán
xuyên biên giới giữa các nền kinh tế ASEAN.
Nhằm tăng cường phát triển thị trường tài
chính khu vực, tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính
ASEAN lần thứ 19 và hội nghị chung giữa Bộ
trưởng Tài chính và Thống đốc ngân hàng
Trung ương ASEAN lần thứ nhất ngày
21/3/2015, các nhà lãnh đạo tài chính và ngân
hàng trung ương ASEAN đã đạt được nhất trí
cao trong việc tăng cường phát triển thị trường
tài chính khu vực, đồng thời quyết tâm phối hợp
chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hội nhập tài
chính, tiền tệ khu vực.
3. TỔNG QUAN KHU VỰC TÀI CHÍNH
VIỆT NAM
Độ sâu tài chính
Một thước đo sự phát triển tài chính thông
thường là độ sâu tài chính, là tỷ số M2/GDP (M2
bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi tại
NHNN của NHTM và tiền gửi tiết kiệm tại các
NHTM). Tỷ số này của Việt Nam có xu hướng
tăng lên từ mức 75,6% năm 2005 đến 122,8%
năm 2013, đạt mức cao nhất vào năm 2012 ở
mức 129,9%, cùng xu hướng với các nước AEC.
So với các quốc gia trong khu vực, độ sâu tài
chính của Việt Nam ở mức cao, tương đồng với
các nước Malaysia, Singapore và Thailand, cao
hơn hẳn so với nhóm nước còn lại, nơi con số
này dưới mức 50% (ngoại trừ Brunei
Darussalam).

Trang 131

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
(Đơn vị: %)

Hình 1. Cung tiền (M2/GDP) các nước ASEAN
Nguồn: ADB Indicators for Asia and Pacific 2014
Một thước đo khác đo lường quy mô và sự
phát triển của khu vực tài chính là vốn tín dụng
cung cấp bởi các ngân hàng tính theo tỷ lệ
phần trăm GDP, tỷ lệ này của Việt Nam đã
tăng lên đáng kể tính từ năm 2005, từ 65% đến
114% năm 2013. Việt Nam nằm ở nhóm các
nước có tỷ lệ vốn tín dụng ngân hàng trên GDP
cao trên 100%, cùng với các nước Malaysia,

Singapore và Thailand, gấp đôi so với các nước
ASEAN còn lại. Trên phương diện tổng tài sản,
Báo cáo đánh giá khu vực tài chính Việt Nam
của WB năm 2014: tổng tài sản của hệ thống
tài chính Việt Nam lên đến 200% GDP vào
năm 2011, đối với một nước có thu nhập thấp
như Việt Nam và so với các nước trong khu
vực ASEAN thì con số này là khá lớn.
(Đơn vị: %)

Hình 2. Tín dụng ngân hàng/GDP các nước ASEAN
Nguồn: WB Development Indicators
Trang 132

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
Thị trường trái phiếu
Đến tháng 6/2015, tổng giá trị trái phiếu
đang lưu hành của Việt Nam xấp xỉ 43,5 tỷ Đô
la, là nước có quy mô thị trường trái phiếu nhỏ
nhất so với các nước đã có thị trường này, con
số này chưa bằng một phần năm giá trị thị
trường trái phiếu của Malaysia hay Thailand
với tổng giá trị thị trường xấp xỉ 300 tỷ Đô la.
Tính theo tỷ lệ phần trăm GDP, quy mô thị
trường trái phiếu nước ta cũng ở mức gần như

thấp nhất, chỉ cao hơn Indonesia và xấp xỉ một
phần tư Malaysia. Điểm tương đồng của các
nước ASEAN về thị trường trái phiếu là trái
phiếu chính phủ chiếm phần lớn thị trường.
Tuy nhiên, trái phiếu chính phủ chiếm tới
98,7% thị trường trái phiếu Việt Nam, một bức
tranh rất khác so với các nước Thailand,
Singapore và Malaysia, nơi trái phiếu công ty
đóng góp khoảng từ 25% đến 43,5%.

Hình 3. Giá trị thị trường trái phiếu các nước ASEAN (6/ 2015)
Nguồn: Asian BondsOnline
Thị trường cổ phiếu
Thị trường cổ phiếu Việt Nam có đặc trưng là
số lượng công ty niêm yết lớn nhưng giá trị vốn
hóa bình quân thấp, số lượng công ty niêm yết
trên cả hai sàn TP.HCM và Hà Nội hiện tại là
668 công ty. So với các nước trong AEC, số
công ty niêm yết của Việt Nam chỉ thấp hơn
Malaysia, nơi có số công ty niêm yết năm 2012
là 921 công ty. Quy mô thị trường cổ phiếu của
Việt Nam rất nhỏ bé so với các nước trong khu
vực. Hiện nay, giá trị thị trường các công ty
niêm yết Việt Nam khoảng 58,2 tỷ Đô la, tương

Đặc biệt, năm 2012, so với Malaysia,
nước có quy mô thị trường lớn nhất, thị
trường Việt Nam chỉ bằng 1/15. Cơ sở nhà
đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán
Việt Nam rất mỏng, tham gia thị trường đa số
là nhà đầu tư nhỏ lẻ nên có thể có vấn đề về
chất lượng của việc định giá. Những vấn đề
đáng quan tâm trên thị trường để bảo vệ các
nhà đầu tư là công tác công bố thông tin tin
cậy, kiểm soát giao dịch của các bên liên

Trang 133

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Thẩm định năng lực pháp lý

Theo quy định của pháp luật và theo điều lệ của Công ty, Xác định thẩm quyền giao dịch người đại diện của doanh nghiệp  Lĩnh vực Khách hàng đề nghị cấp hạn mức giao dịch phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đã đăng ký của khách hàng. 11 THẨM ĐỊNH KHÁCH HÀNG 2)Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tố chức Mục đích = Thể hiện được các cột mốc phát triển của doanh nghiệp, thành tựu và nguyên nhân  Giới thiệu đội ngũ lãnh đạo.  Tiểu sử, bằng cấp, trình độ chuyên môn; Quá trình khởi...


Quản lý tài sản, " chuyện không dễ" đối với các ngân hàng

Tham khảo tài liệu 'quản lý tài sản, " chuyện không dễ" đối với các ngân hàng', tài chính - ngân hàng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Applications in Finance by Ramaprasad Bhar_10

Tham khảo tài liệu 'applications in finance by ramaprasad bhar_10', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Bài giảng Nghiệp vụ ngân hàng thương mại: Chương 6 - TS. Nguyễn Thanh Phong

Trong chương này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá. Các nội dung được trình bày trong chương này gồm có: Những vấn đề cơ bản về chiết khấu, phương pháp tính tiền chiết khấu. Mời tham khảo.


The Valuation of Convertible Bonds With Credit Risk

Convertible bonds can be difficult to value, given their hybrid nature of containing elements of both debt and equity. Further complications arise due to the frequent presence of additional options such as callability and puttability, and contractual complexities such as trigger prices and “soft call” provisions, in which the ability of the issuing firm to exercise its option to call is dependent upon the history of its stock price. This paper explores the valuation of convertible bonds subject to credit risk using an approach based on the numerical solution of linear complementarity problems. We argue that many of the existing models, such as that of Tsiveriotis...


Winning Results with Google AdWords_5

Tham khảo tài liệu 'winning results with google adwords_5', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Chuyên san kinh tế tài chính ngân hàng

Ngày 13/02/2012, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành cùng lúc chỉ thị số 01/2012/CT-NHNN và công văn số 674/2012/CV-NHNN về thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2012. Đây là bước đi quyết liệt nhằm đẩy nhanh lộ trình tái cấu trúc hệ thống NH, đồng thời cũng cho thấy định hướng tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt của NHNN....


Bài giảng Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại: Chương 1 (31tr)

Bài giảng Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại: Chương 1 trình bày tổng quan về Ngân hàng thương mại như Ngân hàng thương mại là gì, chức năng ngân hàng thương mại, phân loại ngân hàng thương mại, nghiệp vụ ngân hàng thương mại và các nội dung khác.


Luận văn tốt nghiệp: Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại NH TMCP Đông Á chi nhánh Đà Nẵng

Mục đích nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề có liên quan đến dịch vụ E-banking; tìm hiểu thực trạng triển khai dịch vụ E-banking tại DAB-ĐN, từ đó phân tích, đánh giá, nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ E-banking; phân tích những triển vọng, đưa ra một số giải pháp góp phần mở rộng dịch vụ E-banking.


Bài giảng Quản trị ngân hàng - Phần 2: Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nội dung cơ bản của phần 2 Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong bài giảng quản trị ngân hàng nhằm trình bày về tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng. Bài giảng trình bày khoa học, có sơ đồ minh họa giúp học viên tiếp thu bài học nhanh.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu