Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giải quyết các tranh chấp dân sự tại tòa án theo thủ tục rút gọn

Trong bài viết này, tác giả đánh giá thực trạng, những hạn chế của pháp luật trong thực tiễn, từ đó sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá để kiến nghị hoàn thiện pháp luật dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 27, THÁNG 9 NĂM 2017

GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
SETTLING CIVIL DISPUTES IN COURT
BASED ON SIMPLIFIED PROCEDURE
Trịnh Hữu Bình1

Tóm tắt – Theo thủ tục thông thường, thời hạn
giải quyết một vụ án có thể được kéo dài từ 4 đến
8 tháng. Vì vậy, về chủ quan, Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án không nhất thiết phải
xác định loại vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ
pháp luật rõ ràng để giải quyết nhanh hơn, cho
nên nhiều vụ án bị kéo dài là điều không tránh
khỏi. Do đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
được bổ sung thủ tục rút gọn đã đáp ứng được
nhiệm vụ đó. Tuy nhiên, qua nghiên cứu những
quy định mới về thủ tục rút gọn, tác giả nhận
thấy còn có những hạn chế nhất định. Trong bài
viết này, tác giả đánh giá thực trạng, những hạn
chế của pháp luật trong thực tiễn, từ đó sử dụng
phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh
giá để kiến nghị hoàn thiện pháp luật dựa trên
quan điểm của Đảng và Nhà nước về chiến lược
cải cách tư pháp. Những kiến nghị hoàn thiện
pháp luật có thể áp dụng vào công tác xét xử
một cách có hiệu quả, là nguồn tài liệu tham
khảo cho sinh viên ngành Luật và phục vụ cho
công tác giảng dạy.
Từ khóa: thủ tục rút gọn, tranh chấp dân
sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự.

the Civil Procedure Code 2015 has fulfilled that
task. However, by examining the new provisions
on the simplified procedure, the author realizes
that there are certain limitations. In this paper,
the author assesses the real state of law restrictions in practice, and then applies the methods of
synthesis, analysis, comparison and evaluation in
order to make proposals for the perfect law based
on the view of the Party and the State on the
strategies of judicial reform. The proposals can
be both applied effectively in judicial work and
used as reference sources for law students and
for teaching.
Keywords: simplified procedure, civil dispute,
civil procedure code.
I. DẪN NHẬP
Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định
trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm
2015 để rút ngắn thời gian, giải quyết nhanh
những tranh chấp dân sự có tình tiết đơn giản,
quan hệ pháp luật rõ ràng. Tuy nhiên, do là một
quy định mới, chưa được vận dụng và áp dụng
một cách rộng rãi nên thực tiễn chưa có nhiều
kết quả để kiểm nghiệm, kết luận tính khả thi
của thủ tục rút gọn.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số
vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây
dựng BLTTDS” do Tòa án Nhân dân Tối cao thực
hiện năm 1996 [1] đã có những nghiên cứu bước
đầu về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn như các
loại việc phát sinh từ thực tiễn có thể giải quyết
theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, nêu một số ý
kiến khác nhau khi xây dựng thủ tục này ở Việt
Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thủ tục rút
gọn trong công trình mới dừng lại ở mức độ khái
quát, gợi mở vấn đề chứ chưa phân tích sâu về
cơ sở khoa học của việc xây dựng thủ tục này.

Abstract – According to the ordinary procedure, the time duration for a case proceeding
can be extended from 4 to 8 months; therefore,
subjectively the judge who is assigned to settle
the case does not necessarily determine the type
of case involving simple facts or the clear legal
relationship to deal with promptly; consequently,
the simplified procedure which was specified in
1
Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ và Thi hành án Hình sự, Tòa
án Nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Email: binhtrongtinh@gmail.com
Ngày nhận bài: 21/6/2017; Ngày nhận kết quả bình
duyệt: 10/8/2017; Ngày chấp nhận đăng: 12/9/2017

48

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 27, THÁNG 9 NĂM 2017

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn
thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc dân
sự theo định hướng cải cách tư pháp” do Trần
Anh Tuấn thực hiện năm 2010 [2] đã đề cập đến
thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
chưa đáp ứng được yêu cầu về tính linh hoạt,
mềm dẻo và có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền
lợi của đương sự cũng như việc đa dạng hóa các
loại hình thủ tục tố tụng cho phù hợp với tính
chất của từng loại tranh chấp, đồng thời đưa ra
yêu cầu cần thiết phải xây dựng thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, đề tài chưa nêu ra được cụ thể phạm
vi các loại việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự
rút gọn cũng như trình tự, thủ tục rút gọn được
thực hiện như thế nào.
Ngoài ra, một số bài viết về thủ tục rút gọn
đăng trên các tạp chí khoa học như: “Vấn đề về
thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ở nước ta”
của tác giả Trần Đức Mai [3]; “Bàn về thủ tục
rút gọn trong hoạt động tố tụng của các cơ quan
tư pháp, nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung Hiến
pháp năm 1992” của tác giả Trần Huy Liệu [4];
“Về việc xác định phạm vi những vụ kiện được
giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn”
của tác giả Trần Anh Tuấn [5]; “Một số vấn đề
về thủ tục rút gọn quy định tại BLTTDS năm
2015” của tác giả Đặng Thanh Hoa [6],. . . có đề
cập đến nhiều vấn đề khác nhau về thủ tục tố
tụng dân sự rút gọn. Tuy nhiên, nhiều vấn đề có
ý nghĩa về lí luận và thực tiễn chưa được nghiên
cứu sâu, hoặc có đề cập nhưng chưa phân tích
thỏa đáng, kế thừa các công trình khoa học nêu
trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu phân tích làm rõ
về nhận thức để thủ tục rút gọn hoàn thiện hơn
nữa trong thực tiễn áp dụng.
II.

KINH TẾ - XÃ HỘI

tổ chức. Đồng thời giúp giảm nhẹ đáng kể chi
phí tố tụng, thời gian, công sức của các đương
sự cho việc tham gia tố tụng tại Tòa án, có tác
dụng kịp thời ngăn chặn hạn chế những tác động
tiêu cực, góp phần ổn định xã hội.
Việc học hỏi kinh nghiệm từ một số nước trên
thế giới đã áp dụng thủ tục rút gọn vào giải
quyết tranh chấp dân sự đã mang lại nhiều kinh
nghiệm quý báu cho Việt Nam trong quá trình
hoàn thiện pháp luật. Ở Nhật Bản, Tòa án đơn
giản có thẩm quyền giải quyết những vụ án liên
quan đến yêu cầu có số tiền kiện không vượt quá
1,4 triệu yên. Luật nước này công nhận các quy
định đặc biệt nhằm đơn giản hóa thủ tục khởi
kiện, xét xử như việc khởi kiện có thể thực hiện
bằng miệng, đương sự không cần phải chuẩn bị
văn bản mà chỉ cần có mặt vào ngày tranh luận
miệng để nêu ý kiến là đủ. Tòa án khi thấy phù
hợp có quyền yêu cầu nộp văn bản thay cho việc
hỏi người làm chứng, đương sự hoặc người giám
định, không phụ thuộc vào việc các đương sự có
phản đối hay không. Ở Trung Quốc, đặc điểm của
thủ tục rút gọn tại nước này là hai bên đương sự
có thể đồng thời đến Tòa án đề nghị giải quyết
tranh chấp. Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể
xét xử ngay hoặc định một ngày khác; đồng thời,
Tòa án có thể thông báo miệng cho các đương
sự về nội dung khởi kiện [7].
Hiện nay, trong tố tụng dân sự ở nước ta, thủ
tục rút gọn được hiểu là thủ tục tố tụng được
áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều
kiện theo quy định với trình tự đơn giản so với
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường
nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn
đảm bảo đúng pháp luật [8, Điều 316]. Trong tố
tụng hành chính thủ tục rút gọn được hiểu là thủ
tục giải quyết vụ án hành chính khi có các điều
kiện theo quy định của pháp luật nhằm rút ngắn
về thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết
vụ án hành chính thông thường nhưng vẫn bảo
đảm giải quyết đúng pháp luật [9]. Với những
quy định trên, ta có thể hiểu khái quát về thủ tục
rút gọn trong tố tụng như sau: “thủ tục rút gọn là
một thủ tục đặc biệt được áp dụng đối với những
vụ việc rõ ràng, đơn giản nhằm giải quyết nhanh
chóng vụ việc nhưng vẫn đúng theo quy định của
pháp luật” [10].
* Đặc điểm thủ tục rút gọn
Dưới góc độ là một thủ tục đặc biệt trong tố

KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN

* Khái niệm thủ tục rút gọn
Bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, nhiều
nước trên thế giới đã xây dựng thủ tục tố tụng rút
gọn để áp dụng xử lí những vi phạm pháp luật
nhỏ, giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện có
giá trị thấp, những vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ
ràng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa
án, tạo cơ sở pháp lí để Tòa án xử lí hoặc giải
quyết nhanh chóng các vi phạm hoặc các tranh
chấp phát sinh trong xã hội mà vẫn bảo đảm các
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
49

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 27, THÁNG 9 NĂM 2017

tụng, thủ tục rút gọn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, rút ngắn về thời gian tố tụng. Đặc
trưng của thủ tục này là thời hạn tiến hành tố
tụng có sự rút ngắn so với thủ tục thông thường.
Trong thủ tục thông thường, nhà làm luật quy
định thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạt
động tố tụng ở những giai đoạn tố tụng nhất định
nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án chính xác,
kịp thời, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với một
số vụ án nhất định, có thể cho phép giải quyết
nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp
dụng thời hạn chung để giải quyết thì có thể gây
ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức
của các bên tranh chấp và cơ quan tiến hành tố
tụng. Với những vụ án đó, pháp luật quy định
một thời gian tố tụng ngắn hơn thời hạn thông
thường, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng xử lí
vụ án nhanh chóng nhằm đáp ứng yêu cầu của
xã hội.
Thứ hai, giản lược về thủ tục tố tụng. Thủ tục
rút gọn chỉ áp dụng đối với một số vụ án nhất
định, do có sự rút ngắn về thời gian so với thủ
tục thông thường nên để phù hợp với khoảng thời
gian rút ngắn đó, pháp luật cho phép người tiến
hành tố tụng không phải thực hiện một số hoạt
động tố tụng nhất định và vì vậy lược bớt được
một số thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án. Thứ ba, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối
với một số vụ án nhất định. Ở pháp luật tố tụng
hình sự, các thủ tục rút gọn chỉ ở những vụ án
đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng,. . .
Hiện nay, BLTTDS Việt Nam cũng quy định thủ
tục rút gọn có thể áp dụng cho những vụ án có
tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng,
đương sự đều có nơi cư trú rõ ràng.

KINH TẾ - XÃ HỘI

đương sự đều có nơi cư trú, trụ sở rõ ràng, không
có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp
đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam
có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ
tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được
chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và
có thỏa thuận thống nhất về xử lí tài sản.
Nhận thức thế nào là vụ án “có tình tiết đơn
giản, quan hệ pháp luật rõ ràng”? Có thể hiểu là
các tình tiết rõ ràng để Tòa án dễ xác định được
sự thật khách quan, thuận lợi trong kiểm tra tính
hợp pháp trong việc khởi kiện của đương sự, điển
hình giữa nguyên đơn và bị đơn có hợp đồng tín
dụng cụ thể, rõ ràng, các khoản vay được giải
ngân, nên bị đơn khó có thể chối cãi trách nhiệm
các khoản nợ của mình đối với nguyên đơn. Tuy
nhiên, nếu như bị đơn chỉ đồng ý trả khoản tiền
là nợ gốc, nhưng không đồng ý thanh toán lãi
quá hạn vì cho rằng nguyên đơn đã tính lãi quá
cao, tình tiết này có hai ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất, do bị đơn đã phản đối một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên
không thỏa mãn điều kiện đương sự thừa nhận
nghĩa vụ để Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn.
Ý kiến thứ hai, vẫn áp dụng được thủ tục rút
gọn, vì bị đơn thừa nhận nghĩa vụ trả phần nợ
gốc và khoản tiền lãi cho nguyên đơn, bị đơn chỉ
không chấp nhận nguyên đơn tính lãi suất quá
cao chứ không phải chối bỏ nghĩa vụ trả nợ của
mình đối với nguyên đơn. Do vậy, việc còn lại là
xác định lãi suất cho phù hợp theo quy định của
pháp luật.
Xác định thế nào việc “đương sự đã thừa nhận
nghĩa vụ”?
“Đương sự”, theo quy định của BLTTDS năm
2015, được xác định gồm cả nguyên đơn, bị đơn
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như
vậy, trong quan hệ tranh chấp, bên có nghĩa vụ đã
thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bên yêu cầu
và không đưa ra bất kì phản đối nào so với yêu
cầu khởi kiện, sự thừa nhận đó không trái với
đạo đức xã hội cũng như không vi phạm điều
cấm của pháp luật thì Tòa án xem đó là trường
hợp đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ. Cụ thể như
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán
khoản nợ vay quá hạn thì phải có sự thừa nhận
nghĩa vụ của bị đơn về khoản nợ đó, nếu khoản
nợ đó có người thứ ba bảo lãnh thì người bảo
lãnh với tư cách là người có nghĩa vụ liên quan

III. THỰC TRANG CỦA PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ THEO
THỦ TỤC RÚT GỌN
* Về điều kiện giải quyết tranh chấp dân sự
theo thủ tục rút gọn
Theo quy định tại Điều 317 BLTTDS năm
2015, vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn
khi có đủ các điều kiện: Vụ án có tình tiết đơn
giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự thừa
nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo
đảm đủ làm căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa
án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ. Các
50

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 27, THÁNG 9 NĂM 2017

chấp nhận thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
* Những hạn chế khi giải quyết tranh chấp dân
sự theo thủ tục rút gọn
Về thời điểm xác định áp dụng thủ tục rút gọn,
Điểm b Khoản 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015
quy định, Thẩm phán được phân công giải quyết
vụ án có thể quyết định tiến hành thụ lí vụ án
theo thủ tục rút gọn khi đủ điều kiện được quy
định tại Khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015.
Hạn chế đặt ra khi thụ lí hồ sơ vụ án, Thẩm
phán có phải thông báo cho đương sự biết Tòa án
sẽ giải quyết vụ kiện theo thủ tục rút gọn không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 318 BLTTDS
năm 2015, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thụ
lí vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết
vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn và đương sự có quyền khiếu nại
quyết định đó.
Một vấn đề nữa được đặt ra là trường hợp
Thẩm phán đã quyết định thụ lí vụ án theo thủ
tục rút gọn, nhưng sau đó không nhận được sự
phản hồi (trả lời bằng văn bản) về nghĩa vụ của
các đương sự khác đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, thì vụ án đó có tiếp tục giải quyết
theo thủ tục rút gọn không? Vì nếu không có sự
phản hồi kịp thời của đương sự xem như chưa đủ
các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, và nếu như
đủ căn cứ xác định được đương sự trong vụ án
đã nhận được thông báo của Tòa án về việc giải
quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn nhưng vì
lí do khách quan họ không thực hiện được việc
trả lời. Như vậy, khi chưa có cơ sở xác định họ
đã thừa nhận nghĩa vụ của mình theo yêu cầu
của nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện thì vụ
án phải được chuyển sang giải quyết theo thủ tục
thông thường. Ngược lại, các đương sự không có
văn bản trả lời nhưng lỗi không thuộc về họ như
không nhận được giấy báo hoặc có nhận được
nhưng quá thời hạn quy định (do ghi sai địa chỉ,
không đúng tên người nhận, do phát hành văn
bản chậm. . . ) thì sẽ giải quyết như thế nào cho
hợp lí, để không làm mất đi tính khả thi của thủ
tục rút gọn quy định trong BLTTDS năm 2015
và đây cũng là căn cứ xác định trách nhiệm của
Thẩm phán, Thư kí, người tống đạt?
Hạn chế về việc chuyển vụ án được giải quyết
theo thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường,
theo quy định tại Khoản 3 Điều 317 và Khoản 4
Điều 323 BLTTDS năm 2015 mới chỉ quy định

KINH TẾ - XÃ HỘI

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ
tục rút gọn, nếu có tình tiết mới làm cho vụ án
không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục
rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ
án sang giải quyết theo thủ tục thông thường, cụ
thể là các đương sự không thống nhất nội dung
vụ án. Do đó, cần phải xác minh, thu thập thêm
tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám
định; định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp
mà các đương sự không thống nhất về giá; cần
phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; phát
sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phát
sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập; phát
sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh
chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập
chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy
thác tư pháp.
Riêng đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, Điểm c Khoản 3 Điều 317 BLTTDS
năm 2015 quy định bắt buộc phải chuyển sang
thủ tục tố tụng thông thường, còn có những hạn
chế nhất định vì pháp luật không quy định một
cách cụ thể trong trường hợp nào khi áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì vụ án phải
chuyển sang giải quyết thông thường, trường hợp
nào áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn
giữ nguyên quyết định giải quyết theo thủ tục rút
gọn.
Mặc dù đây là những quy định mới trong tố
tụng dân sự nên khi vận dụng sẽ phát sinh những
hạn chế nhất định nhưng phải khẳng định rằng
thủ tục rút gọn được quy định trong BLTTDS
năm 2015 là bước tiến mới của chủ trương cải
cách tư pháp của Đảng, phù hợp yêu cầu đòi hỏi
của xã hội, có ý nghĩa pháp lí sâu sắc trong tình
hình hiện nay. Thủ tục rút gọn sẽ là cơ sở pháp
lí để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết
nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án đơn giản, rõ
ràng góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng vụ
án kéo dài.
Một trường hợp giải quyết án [11] chứng minh
cụ thể là: Vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng
giữa Ngân hàng A và bà HTTL - chủ doanh
nghiệp tư nhân HV có vay vốn tại Ngân hàng A.
Ngân hàng khởi kiện đòi bà HTTL tổng số tiền
nợ gốc là 706.800.000 đồng theo 02 hợp đồng tín
dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 12/HĐTD
ngày 10/02/2009 vay số tiền 1.500.000.000 đồng,
hạn vay 01 năm, lãi suất tại thời điểm cho vay
51

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 27, THÁNG 9 NĂM 2017

10,5%/năm, mục đích vay để thu mua chế biến
thủy sản. Để bảo đảm cho số tiền vay trên bà
HTTL, ông LMP, ông LVD, ông LHV có kí các
Hợp đồng thế chấp số 12E/BĐTV và Hợp đồng
thế chấp số 12D/BĐTV, Hợp đồng thế chấp số
12C/BĐTV cùng ngày 10/2/2009 gồm các tài sản
là các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hợp
đồng tín dụng số 21/HĐTD ngày 05/10/2010 vay
số tiền 130.000.000 đồng, hạn vay 01 năm, lãi
suất tại thời điểm cho vay 14,5 %/năm, mục đích
vay để thu mua chế biến thủy sản. Để đảm bảo
cho khoản vay này, bà HTTL và ông LHV có thế
chấp cho Ngân hàng A 01 Giấy đăng kí xe ôtô
biển số 84L-32. . . loại xe đông lạnh do Phòng
Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh A cấp ngày
29/01/2008 cho ông LHV theo Hợp đồng thế
chấp tài sản số 21/BĐTV ngày 05/10/2010.

KINH TẾ - XÃ HỘI

liệu chứng cứ đã được cung cấp đầy đủ, rõ ràng
nên có thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết.
IV. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP DÂN SỰ THEO THỦ TỤC
RÚT GỌN
Kể từ ngày 01/7/2016, khi BLTTDS năm 2015
có hiệu lực thi hành, hình thức và nội dung đơn
khởi kiện được áp dụng theo quy định tại Điều
189 BLTTDS năm 2015, các văn bản biểu mẫu tố
tụng thực hiện theo Nghị quyết số: 01/NQ-HĐTP
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn. Thủ
tục nhận và xử lí đơn khởi kiện được thực hiện
theo quy định tại Điều 191 của BLTTDS năm
2015 và việc trả lại đơn khởi kiện phải thực hiện
đúng theo quy định tại Điều 192 của BLTTDS
năm 2015, nếu vi phạm thời hạn xem xét đơn
khởi kiện và thụ lí vụ án sẽ làm mất đi tất cả
các ý nghĩa của quy định thời hạn chuẩn bị xét
xử nói chung và mục đích, ý nghĩa của một thủ
tục tố tụng đơn giản, gọn nhẹ nói riêng. Những
nỗ lực làm đơn giản, ngắn gọn của quá trình tố
tụng sẽ không có ý nghĩa nếu như không xử lí
được sự trì hoãn của giai đoạn tiền tố tụng này.
Đối với những vụ án được giải quyết theo thủ
tục rút gọn, Tòa án không tổ chức phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải vì tính chất của những vụ án được giải
quyết theo thủ tục rút gọn là đơn giản, rõ ràng,
các đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ và Tòa án
không cần phải thu thập tài liệu chứng cứ. Sau
khi lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198
và Điều 204 BLTTDS năm 2015, trong thời hạn
01 tháng kể từ ngày thụ lí vụ án, do duy nhất
một Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án, phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời
hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Như vậy,
thời hạn đưa vụ án dân sự ra xét xử theo thủ
tục rút gọn đã rút ngắn lại so với thủ tục thông
thường là 15 ngày. Quyết định đưa vụ án ra xét
xử theo thủ tục rút gọn phải gửi ngay cho Viện
Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trường hợp Viện
Kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại
Khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015 theo thủ
tục rút gọn, Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng

Ngày 28/3/2016, đại diện Ngân hàng A có
đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện
đối với hợp đồng tín dụng số 12/HĐTD ngày
10/02/2009 và rút lại yêu cầu xử lí tài sản thế
chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 12C/BĐTV; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 12D/BĐTV và hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất 12E/BĐTV cùng ngày 10/02/2009.
Ngân hàng A yêu cầu bà L phải trả số tiền vay
còn lại là 118.800.000 đồng và phần lãi tính đến
ngày 23/5/2016 là 149.836.184 đồng, tổng cộng
gốc và lãi là 268.636.184 đồng. Nếu bà L không
thực hiện nghĩa vụ thì yêu cầu được xử lí tài sản
thế chấp còn lại là chiếc xe ôtô biển số 84L-32. . .
và yêu cầu bà L tiếp tục trả lãi trên số nợ gốc
chưa trả với lãi suất nợ quá hạn cho đến khi tất
toán các khoản nợ trên cho Ngân hàng.
Bị đơn HTTL thừa nhận có đứng tên đại diện
Doanh nghiệp Tư nhân HV kí kết Hợp đồng tín
dụng số 12/HĐTD ngày 10/02/2009 và Hợp đồng
tín dụng số 21/HĐTD ngày 05/10/2010 với lãi
suất và số tiền vay, mục đích vay đúng như ngân
hàng đã yêu cầu. Bà thừa nhận có nợ ngân hàng
tổng số tiền gốc là 706.800.000 đồng, về phần lãi
thì bà không rõ yêu cầu tòa án giải quyết theo
pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là ông LHV trình bày: ông cũng thừa nhận nợ như
trong hợp đồng vay nhưng điều kiện kinh tế khó
khăn nên doanh nghiệp của vợ chồng ông chưa
có tiền trả nợ cho ngân hàng. Như vậy, đối với
vụ án này, các bên đã thừa nhận nghĩa vụ và tài
52

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Bạn và những điều cần biết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Đề nghị cho biết vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là những hành vi nào và những đối tượng nào sẽ bị xử lý khi vi phạm trong lĩnh vực này?


Giáo trình Tội phạm học (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 2

Phần 2 giáo trình gồm các chương như: Tình hình và nguyên nhân của tội phạm; khái niệm, đặc điểm và phân loại nạn nhân của tội phạm; dự báo và phòng ngừa tội phạm. Mời các bạn tham khảo giáo trình để lấy thêm thông tin phục vụ nghiên cứu và học tập.


Bài giảng Pháp luật về đầu tư: Chương 7 - Đại học Mở TP HCM

Nội dung của bài giảng Pháp luật về đầu tư chương 7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tìm hiểu các qui định của pháp luật về việc đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư ở Việt Nam ra nước ngoài. Khái niệm và những nguyên tắc chung lĩnh vực khuyến khích và cấm đầu tư.


Giáo trình Pháp luật trong thương mại quốc tế - Phần 1

Giáo trình "Pháp luật trong thương mại quốc tế" được biên soạn dựa theo đề cương chi tiết học phần Pháp luật trong thương mại quốc tế có tham khảo các tài liệu, giáo trình của một số tác giả trong nước và nước ngoài. Nội dung của giáo trình bao gồm 2 chương, trong phần 1 của giáo trình trình bày chương 1 với nội dung về nguồn luật điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế.


GOOD MEDICAL PRACTICE PROFESSIONALISM, ETHICS AND LAW

The primary purpose of this book is to provide in a single accessible format information central to the professional, ethical and legal requirements of being a doctor. It covers a core curriculum for medical students who must obtain a grounding in the elements of what constitutes being a medical professional [1–2]. The same material is essential for doctors in training and for international medical graduates coming to work in Australia. This book should be a useful and readily accessible starting point for busy doctors looking for answers to issues as they arise in practice....


Ebook Các quy định về tổ chức phi chính phủ phục vụ công tác thanh tra ngành nội vụ: Phần 2

Tiếp nối phần 1, mời các bạn cùng tham khảo tiếp phần 2 cuốn sách "Các quy định về tổ chức phi chính phủ phục vụ công tác thanh tra ngành nội vụ". Cuốn sách được tài trợ bởi Dự án “Tăng cường năng lực thanh tra ngành Nội vụ đến năm 2014”. Cuốn sách nhằm tổng hợp các quy định về tổ chức phi chính phủ, giúp cán bộ thanh tra ngành nội vụ có tài liệu tham khảo làm tốt công tác của mình.


Bàn về trình độ sáng tạo trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam

Bài viết đề xuất giải pháp để các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam đạt trình độ sáng tạo được cấp patent theo quy định của pháp luật, đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam đối với các bài thuốc cổ truyền, khi các quốc gia khác đang có xu hướng chiếm đoạt tri thức truyền thống.


KỸ THUẬT CHỈNH LÝ TÀI LIỆU FONT LƯU TRỮ

Trong nội dung này chúng ta đề cập đến việc chỉnh lý tài liệu phông lưu trữ của các sở thuộc UBND tỉnh * Sở: là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý ngàng hoặc lĩnh vực công tác. * Phông lưu trữ của sở là toàn bộ TLTT hình thành trong quá trình hoạt động của sở được đưa vào lưu trữ. * Những sở hoạt động có 4 điều kiện sau đây thì được thành lập phông lưu trữ. + Có văn bản pháp qui về việc thành lập cơ quan, qui định chức...


Bộ đề thi vấn đáp Luật Chứng khoán

Tham khảo đề thi - kiểm tra 'bộ đề thi vấn đáp luật chứng khoán', kinh tế - quản lý, luật phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Giáo trình Lôgíc học đại cương - Nguyễn Thúy Vân, Nguyễn Anh Tuấn

Lôgíc học đại cương là một môn học chung cho các trường ĐH-CĐ trên cả nước. Nội dung sách gồm 6 bài: Nhập môn Lôgíc, phán đoán, các quy luật lôgíc, suy luận, chứng minh và giả thuyết. Cuối mỗi bài có ôn tập và câu hỏi. Mời bạn đọc tham khảo tài liệu.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu