Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ebook Tiền và hoạt động ngân hàng: Phần 2 - NXB Giao thông vận tải

Nối tiếp phần 1, phần 2 ebook "Tiền và hoạt động ngân hàng" của tiến sĩ Lê Vinh Danh do NXB Giao thông vận tải ấn hành gồm các nội dung: Hệ thống tiền tệ quốc tế, thanh toán quốc tế, chính sách tiền tệ, tác động của chính sách tiền tệ, chính sách tiền tệ và vai trò điều tiết kinh tế của ngân hàng trung ương,... Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Phần III - Tiền tệ và tài chính quốc tế

PHẦN III - TIỀN TỆ VÀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Thế giới ngày nay càng ngày càng có khuynh hướng tiến tới nhất thể hóa. Dù muốn dù
không, sự mở cửa nền kinh tế và những phát minh khoa học, ứng dụng công nghệ gần đây đã
làm cho địa cầu thực sự trở thành một cộng đồng với đầy đủ ý nghĩa của từ này hơn bao giờ
hết. Trong cộng đồng này, các quốc gia là những thành viên chấp nhận sự lệ thuộc và ảnh
hưởng qua lại lẫn nhau vừa công khai vừa vô hình.
Sự ràng buộc lẫn nhau trong cộng đồng bắt đầu từ khía cạnh kinh tế. Hàng hóa của
mỗi quốc gia dần dần được buôn bán trên khắp thế giới. Dầu lửa của Trung Đông cung cấp
cho cả châu Phí đến châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Lúa mì và sắt thép của Anh, Pháp, Đức trở
thành hàng tiêu dùng tại Argentina, Brazil, Nam Phi, Việt Nam… Vải vóc, ti vi, máy tính của
Nhật Bản có mặt khắp các văn phòng trên thế giới. Máy bay Boeing của Mỹ được sử dụng ở
hầu khắp các nước… Mỗi nước đối với cộng đồng thế giới, giống như mỗi thành viên trong
một nền kinh tế quốc gia, đều là người bán và cũng là người mua. Do họ vừa là người bán vừa
là người mua, sự tồn tại của nước này cần cho sự tồn tại của nước khác và ngược lại. Các
nước đều phụ thuộc lẫn nhau, và đều ý thức một cách tự nhiên rằng mỗi nước không thể phát
triển một cách mạnh mẽ và bền vững, nếu dựa trên các quan hệ kinh tế bất bình đẳng, phương
hại đến lợi ích của nhau.
Quá trình phụ thuộc ngày càng lớn đến mức nếu một quốc gia thành viên bị cô lập với
thế giới bên ngoài, chắc chắn nó sẽ bị tụt hậu và suy thoái. “Thời đại của những xung đột bộ
phận đã qua, thế giới cần phải nhanh chóng hội nhập để đối thoại với vũ trụ”. Khi hiểu được
tính liên kết để tồn tại là một tất yếu, chúng ta sẽ thấy rằng hệ thống kinh tế và các thể chế của
nó đương nhiên sẽ là những bước dẫn nhập đầu tiên cho sự hợp nhất này.
Thương mại quốc tế là cầu nối xa xưa nhất giữa các vùng và các nước từ thời cổ đại.
Nếu thương mại đã từng là người dẫn đường cho chiến tranh, thì cũng chính nó là tác nhân
giúp cho thế giới ý thức được tính cần cố lẫn nhau vì sự tồn tại chung. Cho đến ngày nay, hầu
hết nhân dân của gần như tất cả các nước trên thế giới, do nhu cầu cuộc sống, luôn phải quan
tâm đến không chỉ tình hình trong nước mà cả tình hình kinh tế và thương mại của quốc tế.
Những biến động như giá dầu lửa tăng vào các năm 1973, 1978, 1988, sụt giá đô la Mỹ (1985
- 1992)… vẫn còn làm cho hàng hóa của tất cả các nước đều lên giá, cuộc sống của mỗi người
trên hành tinh đều trở nên khó khăn hơn một phần, thì con người vẫn còn phải quan tâm đến
tất cả các thay đổi trong đời sống kinh tế thế giới. Bởi vì, những thay đổi ở ngoài biên giới
tưởng chừng không có liên quan, nhưng kỳ thực nó sẽ lan truyền chấn động và ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của mỗi người.
Hiểu biết càng ngày càng tốt hơn tình hình kinh tế quốc tế sẽ giúp ích cho các cá nhân,
cộng đồng và các nền kinh tế dễ dàng điều chỉnh để không những thích ứng với mọi hoàn
cảnh mới luôn biến đổi trong nền kinh tế thế giới, mà còn để vận dụng nó một cách có lợi cho
sự phát triển của khu vực, hay quốc gia mình. Tất cả các nền kinh tế ngày nay đều có buôn
bán với thế giới bên ngoài. Nói chung, xuất khẩu và nhập khẩu tác động đến tiềm năng sản
xuất, tổng cầu và thu nhập của mỗi quốc gia. Năm 1991, nước Đức cung cấp cho nước ngoài
một số lượng hàng hóa có giá trị bằng 38% tổng sản lượng thu nhập quốc dân. Cùng năm ấy,
lượng hàng hóa mà nó mua của thế giới bên ngoài để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong
nước có giá trị bằng 31,4%. Như vậy gần 70% sản lượng của nền kinh tế Đức đã phụ thuộc
vào trao đổi với bên ngoài. Do vậy, bất cứ biến động lớn nào trong tình hình ngoại thương,
giá dầu hỏa, giá USD đều làm cho nền kinh tế của cường quốc thứ 3 này đi vào những cơn
sốc không phải nhẹ. Đối với những quốc gia có tỷ trọng buôn bán lớn hơn như Bỉ (70,9% cho
xuất khẩu và 68,1% nhập khẩu trên GDP năm 1991) tác động của những thay đổi trên bình
diện quốc tế đến với nó càng nặng nề hơn
Do đó xuất phát từ lợi ích kinh tế của chính mình, mỗi nền kinh tế và mỗi cá nhân đều
quan tâm nghiên cứu quan hệ kinh tế quốc tế và những tác động định kỳ của các quan hệ này
227

Tiền và hoạt động ngân hàng - TS. Lê Vinh Danh

.Đương nhiên, thương mại quốc tế là bộ phận cầu nối và hạt nhân quan trọng của kinh tế
quốc tế. Khi tìm hiểu về thương mại quốc tế, chúng ta buộc phải có những hiểu biết nhất định
về các vấn đề tiền tệ - tài chính và thanh toán quốc tế. Lý do đơn giản là, nếu thương mại là
cầu nối cho sự liên hệ của cộng đồng thế giới, thì tiền tệ và thanh toán quốc tế là công cụ để
nó thực hiện chức năng của cầu nối này.
Điều đầu tiên mà chúng ta cần biết là Hệ thống tiền tệ quốc tế quá khứ và hiện nay.
Chính nhu cầu phải có một thước đo chung, một đồng tiền chung cho thanh toán quốc tế đã
tạo ra lần lượt các loại tiền tệ quốc tế khác nhau ■

228

Chương 9 - Hệ thống tiền tệ quốc tế

Chương 9 - HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
9.1. LỊCH SỬ CỦA HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỔC TẾ CẬN ĐẠI

Nhận thức được sự cần thiết của thương mại quốc tế đối vợi sự phát triển mạnh mẽ
của mỗi quốc gia, để hỗ trợ cho quá trình thanh toán quốc tế được thuận tiện nhằm thúc đẩy
thương mại, tăng trưởng nhanh, người ta đã có nhiều cố gắng thiết lập một Hệ thống thanh
toán và chuyển nhượng quốc gia từ cuối thế kỷ XIX. Trở ngại chính của quá trình thanh toán
là mỗi quốc gia buôn bán với nhau đều có một đơn vị tiền riêng. Nếu sự trao đổi hoặc tính
toán qua lại giữa các đơn vị tiền này không dựa trên một tiêu chuẩn hoặc một th́ước đo chung
nào hết, thì sẽ rất khó ổn định giá trị của mỗi đồng tiền trong mối tương quan với các đồng
tiền khác, và tất nhiên là khó mà có thể ổn định được giá cả hàng hóa trong thương mại. Có
nhiều loại tiêu chuẩn và thước đo chung đã được chọn để làm nền tảng cho sự trao đổi giữa
các đồng tiền khác nhau. Vàng là thước đo được chọn đầu tiên như là một loại tiền tệ quốc tế.
9.1.1. Chế độ bản vị vàng
9.1.1.1. Khái quát
Đầu thế kỷ XIX. buôn bán giữa các nước châu Âu, giữa châu Âu, Bắc Mỹ và thế giới
còn lại qua quá trình tự phát đã đi đến thống nhất với nhau thông qua vàng. Thương nhân của
nước Anh ngần ngại khi được thanh toán cho hàng hóa của họ bằng đồng tiền của Pháp, của
Mỹ hay của Tây Ban Nha. Lý do vì những đồng tiền ấy chỉ có thể dùng để mua lại hàng của
chính nước sở tại chứ không thể đem về tiêu dùng ở Anh đuợc. Ðiều tương tự cũng diễn ra
nếu Anh lại thanh toán việc mua hàng của họ cho các nước nói trên bằng đồng Bảng. Tuy
nhiên, nếu các nhà nhập khẩu ở Hà Lan, Tây Ban Nha, Pháp hay Mỹ trả cho thương nhân
người Anh bằng vàng (Gold) ròng, vấn đề trở thành không khó khăn. Người Anh chấp nhận
ngay vàng bởi vì vàng quý, hiếm và giống nhau ở mọi nơi. Vàng ở Nam Mỹ, Bắc Phi, châu
Á… đều giống vàng của châu Âu và Bắc Mỹ. Do vậy, nó gần như có thể dùng để trao đổi
hàng hoá được ở khắp nơi trên thế giới. Mặc nhiên, vàng được chấp nhận làm phương tiện
trong mua bán quốc tế. Các nhà nhập khẩu tính toán giá trị của hàng hoá họ mua và bán với
người nước ngoài thông qua vàng từ những năm 1820.
Từ đó đến 1914 là giai đoạn mà hàng hoá trong thương mại và đồng tiền của mỗi nước
có tham gia ngoại thương đều tính toán qua lại cho nhau, định lượng đơn vị giá trị… bằng
đơn vị vàng. Đó là lý do người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn mà tiền nội địa mỗi nước và
tiền tệ trong thanh toán quốc tế đều đặt căn bản trên giá trị vàng (Gold standard).
Nửa đầu thế kỷ XIX, Hoa Kỳ xác định giá trị đồng tiền của mình trên cơ sở: 20,67
USD được xem ngang giá với 1 ounce vàng (999,9). Cũng vào thời gian đó, chính quyền Anh
mua vàng và bán vàng ra với giá cố định được luật pháp quy định là 4,34 Pound Anh một
ounce. Đương nhiên, thương mại giữa hai quốc gia được thực hiện trên cơ sở thừa nhận giá trị
của 20,67 USD là tương đương với 4,34 bảng Anh. Như vậy, 1 bảng Anh được tính là tương
đương với 4,76USD. Tỷ giá trao đổi, mà bấy giờ chúng ta đã sử dụng như là một thuật ngữ rất
quen thuộc, ngày ấy, được xác định giữa đồng tiền này với đồng tiền khác thông qua cách đơn
giản như sau: Nếu bạn muốn tính đồng tiền của nước A tương đương bao nhiêu đồng tiền của
nước B. trước tiên bạn tính giá trị tương đương của đồng tiền B.
Một thương nhân Tây Ban Nha chở hàng qua bán ở Anh. Bán hàng và thu tiền Bảng
Anh xong, ông ta vào ngân hàng Anh đổi ra vàng. Mỗi một đồng bảng Anh, ngân hàng đổi
cho ông ta 1/4,34 ounce vàng (hay 0,23 ounce) theo luật. Mang vàng về nước dùng vàng đổi
ra tiền của Tây Ban Nha đồng Peseta, cứ mỗi đơn vị 0,23 ounce vàng ông ta đổi lại được 140
peseta. Bằng cách ấy, không những ông và các bạn thương nhân của ông ở Tây Ban Nha, ở
Anh, mà kể cả chính quyền hai nước hiểu rằng 1 bảng Anh là bằng 140 Peseta. Hay nói cách
khác, tỷ giá trao đổi giữa peseta và bảng Anh là 1/140.

229

Tiền và hoạt động ngân hàng - TS. Lê Vinh Danh

Các nhà xuất nhập khẩu, các ngân hàng thanh toán liên quốc gia (hay thanh toán quốc
tế) lẫn nhau đều chấp nhận tỷ giá trên. Với phương thức này, nếu gọi P1 là giá hàng hoá ở
Anh, P2 là giá hàng hoá ở Tây Ban Nha, thì một món hàng có giá trị bằng 1 bảng Anh sẽ
P
tương ứng với giá P2 ở Tây Ban Nha là: P1 = 1 p 2 vậy P2 = 1 = 140P1 = 140 peseta
1
140
140
Ngược lại một món hàng có giá ở Anh là 2,5 bảng, sẽ có giá ở Tây Ban Nha là: P1 = 1 P2
140
=> P2 = P1 × 140 = 2,5 bảng × 140 = 350 peseta
1
là e. Lúc đó P1 =
Người ta gọi tỷ giá trao đổi
2 được gọi là công thức tính giá
140
trị hàng hóa tương đương giữa Anh và Tây Ban Nha với P1 là giá hàng tại Anh P2 là giá hàng
ở Tây Ban Nha và e là tỷ giá trao đổi giữa một Peseta với một bảng Anh thông qua vàng.
Bây giờ, giả sử rằng vì một số lý do nào đấy, trước đây một kiện vải nhập cảng từ Ấn
Độ có giá ở Anh là 1 bảng và đương nhiên có giá ở Tây Ban Nha là I40 Peseta, Nay đột nhiên
nước Anh có tình trạng lạm phát. P1 trở nen lớn hơn eP2 (P1> P2 ). Chuyện này rất hay xảy ra
thời bấy giờ, ớ khắp các nước, không có ngoại lệ nào. Giá một kiện vải vọt lên 2 bảng Anh.
Mặc dù vậy, do quan hệ tỷ giá giữa đồng Peseta của Tây Ban Nha và đồng Rupee của Ấn
thông qua vàng vẫn không đổi, nên một kiện vải vẫn chỉ có giá ở Tây Ban Nha là 140 Peseta.
Sự lên giá vải ở Anh (và kể cả các loại hàng hóa khác) thúc đẩy các thương nhân Tây Ban
Nha đem hàng qua Anh bán. Mỗi mét vải họ bán được 2 bảng, đem vào ngân hàng Anh đổi ra
thành (0.23 2 =) 0,46 ounce vàng. 0,46 ounce vàng này mang về Tây Ban Nha đổi cho ngân
hàng Tây Ban Nha được thành 280 Peseta. Các thương nhân hưởng được món lời gần gấp đôi,
trong khi vàng ở kho của nước Anh xuống tàu xuất cảng sang Tây Ban Nha.
Điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta nên nhớ lại rằng vào giai đoạn này (1821-1914) việc phát
hành tiền giấy ở các nước (đồng Peseta. Pound Anh, Rupee, hay USD ..) được đảm bảo bằng
dự trữ vàng. Vàng nhiều, các chính phủ sẽ in ra nhiều tiền giấy. Vàng ít, các chính phủ phải
thu lại bớt tiền. Tiền luôn luôn được ấn định tương đương với dự trữ vàng trong ngân khố. Cứ
mỗi 4,34 bảng Anh có thể đổi được 1 ounce vàng và ngược lại. Vàng chạy ra khỏi kho của
Anh làm cho tiền bảng bị thu hẹp. Ngược lại, vàng về kho của Tây Ban Nha nhiều làm đồng
peseta tăng lên. Sự khan hiếm của đồng bảng sẽ dần dần làm cho tiền bảng trở nên có giá trị
hơn, giá P1 sẽ bắt đầu hạ. Cùng lúc ấy, sự thừa đồng Peseta ở Tây Ban Nha làm cho hàng hoá
tăng giá. P2 lên giá và P1 xuống giá cho đến khi đẳng thức P1 = eP2 được cân bằng trở lại. Lúc
bấy giờ, người ta gọi đây là cơ chế điều chỉnh tự động cán cân thanh toán thăng bằng giữa hai
nước (Anh - Tây Ban Nha) hay “Automatic Balance of Payment Equilibrium”. Điều tương tự
như thế cũng xảy ra ở quá trình thanh toán khắp các nước còn lại trong gần 100 năm
9.1.1.2. Sự sụp đổ chế độ bản vị vàng
Có 3 tai họa đã thực sự làm cho chế độ thanh toán lấy vàng như là một loại tiền tệ của
quốc tế sụp đổ. Ðó là 2 cuộc Chiến tranh thế giới và trận đại suy thoái, 1929 - 1933. Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất (l914 - 1918) đã làm cho châu Âu mua quá nhiều hàng hóa của Mỹ
vì đòi hỏi của cuộc chiến và sau này là nhu cầu tái thiết sau chiến tranh, đến mức họ không
còn đủ vàng để trả và phải phát hành tiền giấy quá mức bảo chứng vàng (Xem lại 2.1.2.2,
phân đoạn 2.1 Chương 2). Đầu tiên các chính phủ châu Âu tìm cách hạn chế việc này bởi các
biện pháp như: Cấm xuất cảng vàng và không bán vàng cho nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quá
của các chính sách ấy không được như mong muốn vì các chính phủ phải chỉ tiêu quá nhiêu.
Lượng tiền mặt in ra bắt đầu gấp đôi rồi gấp 3 lần dự trữ vàng
Chỉ riêng nước Mỹ, do làm giàu được từ chiến tranh với dự trữ vàng bằng 1/2 kho
vàng của cả thế giới, tiếp tục giữ được bảo chứng vàng cho tiền giấy. Vào năm 1914, 4,34

230

Chương 9 - Hệ thống tiền tệ quốc tế

bảng Anh ≡ 1 ounce vàng ≡ 20,67 USD hay 20,67 USD ≡ (4,67) × (4,34) Pound và tỷ giá e
giữa 1 bảng Anh so với 1 USD là 4,67.
Siêu lạm phát từ Đức sang các nước châu Âu khác kể cả Anh, đã làm cho cán cân
thăng bằng nói trên bị mất. Đồng bảng Anh tuôn ra thị trường quá nhiều làm cho giá trị của
nó so với vàng vượt lên hơn 4.34 Pound/ounce. Kết quả là tỷ giá e giảm xuống dưới 4,67.
Chính phủ các nước, để cố gắng bảo vệ bản vị, đã vừa vay vàng của Hoa Kỳ, vừa ép nước Mỹ
phải lạm phát theo. Năm 1927, bản vị vàng được thiết lập lại tương đối. Thật không may, chỉ
vài năm sau, khủng hoảng kinh tế và sự sụp đổ ngân hàng từ Mỹ lan sang các nước. Trong
cơn hoảng loạn, nhân dân ùa đến ngân hàng rút tiền mặt đi mua vàng hoặc đổi vàng. Các
NHTW vay mượn nhau những món tiền rất khổng lồ để khống chế bớt sự mất giá của lượng
tiền giấy đã in ra quá nhiều. Mùa xuân năm 1933, đồng bảng Anh mất giá 30% so với USD và
một vài đồng tiền khác. Nhưng USD cũng lại mất giá trầm trọng so với vàng vì lạm phát. 1
ounce vàng từ giá 20,67USD đã vọt lên mức 35USD vào ngày 31 tháng Giêng năm 1934. Tất
cả các nước châu Âu, Bắc Mỹ, đều lâm vào lạm phát, thiếu hụt vàng, và tỷ giá giữa đồng bản
địa so với vàng vọt lên như con ngựa bất kham.
Các chính phủ phải lần lượt bãi bỏ quy định bảo chứng vàng cho tiền giấy đã phát
hành vì không nước nào còn đủ vàng để đổi lại tiền giấy cho dân kể cả Hoa Kỳ. Luật dự trữ
vàng năm 1934 ở Mỹ và những điều tương tự khác ở các nước, khuyến khích nhân dân bán
vàng cho chính phủ, cấm chuyển vàng ra ngoài chỉ với hy vọng củng cố kho dự trữ để giữ giá
tiền bản địa trong thanh toán quốc tế. Vì tiền giấy không còn được đảm bảo bằng vàng, mọi
người giờ đây chỉ có thể dùng tiền để đổi vàng chứ không thể để đổi vàng, cơ sở để tính giá trị
đồng tiền của nước này qua đồng tiền của nước khác qua vàng đã hoàn toàn sụp đổ. Năm
1937, nhiều nước bắt đầu lượng giá giá trị đơn vị tiền tệ của mình so với một đơn vị tiền tệ
của nước khác thông qua đồng USD vì đồng USD, được giữ khá cố định với 35USD ≈ 1
ounce vàng trong suốt 1934 - 1937. Tình hình này được tiếp tục cho đến khi chiến tranh thế
giới ll bùng nổ năm 1939.
9.1.2. Thoả thuận Bretton Woods- tỷ giá trao đổi cố định

Để ổn định cho sự phát triển của thương mại quốc tế sau chiến tranh, các nước phương
Tây đã suy nghĩ nhiều, theo cách của họ, về việc thiết lập một hệ thống tiền tệ và thanh toán
chung cho quốc tế.
Tháng 7 năm 1944, tại Mount Washington Hotel ở Bretton Woods, New Hamsphire,
Hoa Kỳ hơn 700 người từ 44 nước khắp nơi trên thế giới đã tự tập để bàn về thương mại và
thanh toán liên quốc gia trong tương lai. Kiến trúc sư của hội nghị là John Maynard Keynes
và Harry D. White, Thứ trưởng Bộ ngân khố Hoa Kỳ.
Thoả thuận mang tên Bretton Woods ra đời với ba nội dung chủ yếu:
- Các nước thành viên cùng ký tên trong thoả thuận đồng ý và sẽ cố gắng giữ tỷ giá
trao đổi (exchange rate) giữa đồng tiền nước mình với đồng tiền các nước khác ổn định, cũng
như sẽ có những can thiệp cần thiết để giữ cho tỷ giá này chỉ là dao động ±1% so với tỷ giá cố
định (Fixed Exchange Rate) nói trên.
- Các nước thành viên đồng ý góp vốn thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (International
Monetary Fund: IMF) nhằm mục đích cho các nước thành viên vay vốn vào những lúc cần
thiết để can thiệp, giũ đồng tiền nước mình không biến động quá với tiêu chuẩn nói trên.
- Tỷ giá trao đổi cố định giữa đồng tiền các nước được tính thông qua bản vị vàng thế
giới, với giá vàng được chuẩn hoá và cố định (International Gold Standard). Vàng được bán
đi mua lại hoặc vay mượn lẫn nhau giữa NHTW các nước để có thể bán ra hoặc mua vào
trong thị trường nội địa kịp thời, nhằm giữ giá đồng tiền không đổi.
Thực chất Bretton Woods là thoả thuận hướng về việc giữ giá đồng tiền các nước theo
giá vàng và chống lạm phát giá cả. Sự lây lan của siêu lạm phát và khủng hoảng (1922-1923,
1929-1933) làm sụp đổ mọi thứ và các nước châu Âu đã vô cùng kinh sợ viễn cảnh này. Bên
cạnh đó, ý đồ Keynes là giữ giá vàng ổn định để thương mại và thanh toán quốc tế có cơ sở
231

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Xử lý nợ xấu nhìn từ kinh nghiệm các nước

Dưới đây là tài liệu Xử lý nợ xấu nhìn từ kinh nghiệm các nước. Tài liệu trình bày về khái niệm về mua bán nợ; xử lý nợ xấu nhìn từ kinh nghiệm các nước. Mời các bạn tham khảo tài liệu để bổ sung thêm kiến thức về lĩnh vực này.


QUY TRÌNH THANH TOÁN VÀ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN SÉC

Một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng của mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định trên séc. Người có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho người gửi tiền một quyển séc.Mỗi lần muốn rút tiền ra thì lập một tờ séc đưa đến ngân hàng để lĩnh tiền....


Monetary policy strategies in the world economy carlberg_6

Tham khảo tài liệu 'monetary policy strategies in the world economy carlberg_6', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Bài thảo luận nhóm về ngân hàng ACB (Phần 7)

Trong nhưng năm qua ngân hàng ACB đã có những bước phát triển nhanh chóng về chất lượng quy mô và vị thế, được các tổ chức quốc tế bình chọn là “The best Bank in Viet Nam” trong nhiều năm liên tục. Để đạt được những thành công rực rỡ đó phải nhắc đến vai trò của những người lãnh đạo ngân hàng ACB. Với phong cách lãnh đạo nhóm tài tình, linh hoạt, ý chí vươn lên của tuổi trẻ những nhà lãnh đạo đã truyền được nhiệt huyết tới các nhân viên của công ty, làm cho các nhân viên nhận biết được vị...


Bài 1: Introduction(Independent component analysis (ICA)

Independent component analysis (ICA) is a method for finding underlying factors or components from multivariate (multidimensional) statistical data. What distinguishes ICA from other methods is that it looks for components that are both statistically independent, and nongaussian. Here we briefly introduce the basic concepts, applications, and estimation principles of ICA.


CONTRO STEVE JOBS

Sono dieci anni che la Apple colleziona un successo dopo l’altro. La società di Cupertino ha portato nelle case di milioni di persone non solo una tecnologia, ma anche uno stile di vita. Chi compra un MacBook, un iPad, un iPhone non sta solo comprando un computer, un tablet o uno smartphone; sta dichiarando un’appartenenza. Sta dicendo qualcosa di sé. Ma cosa c’è dietro questo successo? Cosa è riuscito a fare Steve Jobs che non sono riusciti a fare gli altri imprenditori? Evgeny Morozov, l’enfant terrible del web, ha affilato la sua penna, ha preso un bel respiro, e si è buttato a testa bassa contro i...


Tài liệu quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Năm 2012 qua đi, hoạt động ngân hàng nổi lên hàng loạt vấn đề nóng như nợ xấu, tín dụng đen, chiếm dụng vốn, thua lỗ, những biến động lớn trên thị trường tiền tệ … đã cho thấy vấn đề quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay cần được nhìn nhận và chú trọng quan tâm một cách sâu rộng hơn nữa.


The Exchange Rate Exposure of U.S. and Japanese Banking Institutions

A popular approach to measuring the interest-rate risk exposure of a bank is to run regressions of the bank’s stock return on a risk factor, such as an interest rate. The regression coefficient on the interest rate — often referred to as the interest-rate beta, is a measure of the bank’s average exposure to interest rate changes over the sample period considered (Flannery and James 1984a). Interest rate betas do not tell us where the bank’s exposure comes from, that is, what positions generate it. This issue has been investigated by relating interest rate betas to summary statistics of bank positions. For example, interest rate betas have...


5c trong tín dụng: Năng lực, vốn, thế chấp, uy tín và các điều kiện khác

Tham khảo tài liệu '5c trong tín dụng: năng lực, vốn, thế chấp, uy tín và các điều kiện khác', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Bài giảng Quản lý rủi ro tín dụng: Chương 1 - Hiệp hội ngân hàng ASEAN

Trong chương 1 Kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro tín dụng nằm trong bài giảng quản lý rủi ro tín dụng nhằm trình bày về chức năng của tín dụng, hoạt động và các rủi ro tín dụng, các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng và dự phòng lỗ khoản vay.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu