Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Công tác quản lý phát triển đô thị bền vững, một số bài học kinh nghiệm

Nội dung của bài viết trình bày về vài nét về đô thị bền vững và một số bài học kinh nghiệm quốc tế, từ các nước phát triển trên thế giới như Canada, Thụy Điển, Pháp, Hà Lan, Ai Cập; trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Srilanka, Pakistan; và trong khu vực ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia.



Đánh giá tài liệu

4.5 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Công tác quản lý phát triển đô thị bền vững, một số bài học kinh nghiệm Công tác quản lý phát triển đô thị bền vững, một số bài học kinh nghiệm Bài viết Quy hoạch đô thị, Quản lý đô thị, Công tác quản lý đô thị, Công tác phát triển đô thị, Đô thị bền vững
4.5 5 71
  • 5 - Rất hữu ích 38

  • 4 - Tốt 33

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG,
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
PGS.TS.KTS. Nguyễn Tố Lăng
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
1. Mở đầu:
Mức độ đô thị hóa đang tăng lên nhanh chóng ở Việt Nam, đạt khoảng 30% hiện
nay với trên 750 đô thị, 180 khu công nghiệp tập trung, nhiều đô thị mới và khu kinh tế
đặc thù trong cả nước. Quá trình đô thị hoá mang lại nhiều hiệu quả tích cực song cũng
làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập trong quy hoạch và quản lý đô thị liên quan đến các
khía cạnh về kinh tế - xã hội và môi trường.
Các đô thị đang gặp nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc của bùng nổ đô thị
trên mọi phương diện, đặc biệt là công tác quản lý phát triển đô thị. Chính quyền đô thị
tại hầu hết các đô thị Việt Nam, đặc biệt là ở những đô thị lớn như Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với những thách thức của quá trình đô thị hóa nhanh và
phát triển, cụ thể là: Sự phát triển mất cân đối; Sự phát triển thiếu bền vững; Năng lực
quản lý hành chính của chính quyền đô thị đã vượt quá khả năng điều hành của chính
quyền địa phương; Vấn đề an toàn xã hội, điều phối thu nhập và đói nghèo của đô thị.
Đô thị phát triển bền vững thường phải được quan tâm trong suốt quá trình triển
khai xây dựng và hoạt động. Do đó, công tác quy hoạch đô thị phải được coi là một quá
trình và công tác quản lý đô thị phải được lưu ý đặc biệt, khi mà quy mô đô thị ngày càng
tăng. Hiện nay, công tác quản lý đô thị mới thực sự được đặt đúng vị trí và tầm quan
trọng của nó trong phát triển đô thị. Một loạt các Luật, Nghị định và các Văn bản dưới
luật, v.v... được ban hành đã phần nào đưa công tác quy hoạch và quản lý đô thị từng
bước nâng cao và có hiệu quả. Việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế
giới và các nước trong khu vực là hết sức cần thiết và có ý nghĩa, từ đó chọn cho mình
đường đi ngắn nhất, vận dụng linh hoạt và phù hợp với điều kiện thực tế của từng đô thị,
từng tỉnh để xây dựng và quản lý đô thị hiệu quả.
Bài viết này trình bày vài nét về đô thị bền vững và một số bài học kinh nghiệm
quốc tế, từ các nước phát triển trên thế giới như Canada, Thuỵ Điển, Pháp, Hà Lan, Ai
Cập; trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Srilanka, Pakistan; và trong
khu vực ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia.
2. Vài nét về đô thị bền vững:
Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại: môi trường
vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường xã hội. Cả ba loại hình
này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hoặc đại
diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu, phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của
con người trong đô thị. Một đô thị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình
thái môi trường lớn hơn tổng của các hậu quả xấu.

Sự tác động giữa môi trường kinh tế và môi trường vật chất thường được đặc
trưng bằng nhiều yếu tố bất lợi từ bên ngoài. Các ảnh hưởng xấu sinh ra từ các hoạt động
kinh tế trong đô thị lên môi trường vật chất rất rõ ràng, có thể xác định là thảm họa về
môi trường sinh ra từ đô thị, sự giảm sút của tài nguyên thiên nhiên, tiếng ồn, ô nhiễm
nước và không khí, sự thu hẹp của các không gian xanh, tắc nghẽn giao thông và việc sử
dụng quá mức năng lượng.
Sự tác động giữa môi trường kinh tế và xã hội làm tăng lên các hiệu quả kể cả
thuận lợi và bất lợi. Hiệu quả thuận lợi xuất phát từ các dịch vụ xã hội như giáo dục, sức
khoẻ, tiện nghi xã hội và những nghề nghiệp có chất lượng. Ngược lại, các yếu tố bất lợi
về kinh tế có thể gây ra các hậu quả xấu về môi trường xã hội.
Sự tác động thứ ba nêu lên những thuận lợi và khó khăn xuất phát từ các môi
trường vật chất và xã hội. Các khu cây xanh cho sinh hoạt công cộng là nguồn môi
trường tốt cho phúc lợi xã hội. Mặt khác, sự xuống cấp của các công trình lịch sử, sự mất
mát của những công trình văn hoá hoặc các vấn đề về sức khoẻ đô thị là những ví dụ về
hậu quả của môi trường vật chất lên môi trường xã hội.
Nhiều tài liệu cho rằng một trong những đòi hỏi ban đầu cho phát triển đô thị bền
vững là khả năng tồn tại lâu dài, với ba yếu tố cơ bản: 1. Phương tiện sinh sống (sự đầy
đủ về nước sạch, thực phẩm, không khí, không gian trống, năng lượng và xử lý chất thải);
2. An toàn (không có chất độc, bệnh tật, tiếng ồn và các mối nguy hiểm trong môi
trường); 3. Hài hoà (mức độ của mỗi cá nhân cảm nhận sự tiện lợi đối với môi trường
xung quanh).
Một số điểm quan trọng được xem xét ở đô thị bền vững có thể là: Sự tham gia
của dân cư trong việc quyết định chính sách và phát triển cộng đồng; Hình dáng cấu trúc
của đô thị liên hệ chặt chẽ với tính chất sử dụng; Sự liên kết cao hơn giữa các khu vực tự
nhiên và khu vực xây dựng; Đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng là hình thức cơ bản
của giao thông; Có tính tập thể về bảo tồn văn hoá và tài nguyên tự nhiên cho các thế hệ
mai sau; Cung cấp các cơ hội công bằng về chất lượng sống cho mọi người trong cộng
đồng; Giảm chi phí về năng lượng và tài nguyên; Giảm mức độ chất thải do tái chế.
Tóm lại, đô thị bền vững là một đô thị được phát triển dựa trên cơ sở bền vững
của các yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường và kinh tế. Dân cư hiện tại và những
thế hệ tương lai đều có được cuộc sống hạnh phúc, có đầy đủ phúc lợi và các dịch vụ
công cộng cơ bản, có sức khoẻ, được đảm bảo an toàn, giáo dục và đối xử công bằng.
Được tận hưởng bản sắc văn hoá dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, có quyền chăm lo,
bảo vệ cảnh quan và môi trường.
Hiện nay ở Việt Nam, nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy mọi mặt quá trình phát triển
đô thị bền vững. Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều vấn đề còn cần phải nghiên cứu khắc
phục, như: Quy hoạch đô thị đôi khi vẫn bị coi là một sản phẩm, chưa phải là một quá
trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạch còn chưa rõ ràng, phương pháp lập quy hoạch
chưa hiện đại; Vốn dành cho công tác quy hoạch đô thị còn ít, quá trình xây dựng theo
quy hoạch còn chậm; Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong suốt quá trình phát triển đô
thị; Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng bộ giữa các công trình hạ
tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nói chung ở mọi khâu còn yếu
kém.

Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và phát huy nội
lực, việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới và khu vực, rút ra bài
học cho đất nước là hết sức cần thiết.
3. Một số bài học kinh nghiệm về quy hoạch, quản lý đô thị:
3.1. Quy hoạch - Kiến trúc đô thị:
Tại Thụy Điển, nằm bên hồ lớn nhất đất nước Mälaren là thành phố Vasteras với
ảnh hưởng đặc biệt của phong cách kiến trúc thế kỷ XIII. Vasteras có rất nhiều công trình
cổ mang dấu ấn của lịch sử phát triển, ở đây, việc bảo tồn luôn luôn được quan tâm để
phù hợp và hài hoà với sự phát triển của kiến trúc hiện đại và cảnh quan kiến trúc chung.
Về quy hoạch và kiến trúc, chính quyền thành phố hết sức lưu ý việc đầu tư xây
dựng trong quá trình phát triển đảm bảo mối liên hệ với môi trường, cảnh quan và hệ sinh
thái hồ. Cụ thể về gìn giữ môi trường, mặt nước hồ được quan tâm đặc biệt, tất cả hệ
thống nước thải dân dụng, công nghiệp và nước mặt đều được tập trung vào một nhà máy
để xử lý trước khi đổ vào hồ. Hồ Malaren có một hệ thống đường dạo với chiều rộng từ
10-20 mét bao quanh và một hệ sinh thái rừng ôn đới tự nhiên với thảm thực vật phong
phú. Về quản lý kiến trúc, các công trình xây dựng đều phải thấp dần về phía bờ hồ để
đảm bảo tầm nhìn và mỹ quan. Tại đây, việc khai thác phong cách kiến trúc truyền thống
của Thụy Điển thế kỷ XIII được ủng hộ triệt để và quan tâm đặc biệt.
Tại Trung Quốc, một trong những yếu tố đem lại thành công là hệ thống văn bản
pháp luật cũng như bộ máy thi hành pháp luật rất nghiêm khắc, công tác giải phóng mặt
bằng được tập trung vốn, triển khai nhanh và đầu tư dứt điểm cho từng dự án. Do vậy,
các công trình xây dựng và các tuyến đường trong đô thị được cải tạo, mở rộng và tiến
hành theo đúng kế hoạch, quy hoạch được duyệt.
Về kinh nghiệm trong quản lý bảo tồn di sản đô thị, các biện pháp kiểm soát phát
triển khu vực Tây Hồ thuộc Hàng Châu, một viên ngọc trong chuỗi điểm du lịch của
Trung Quốc là một ví dụ. Với vẻ nguyên sơ như xưa, mỗi năm Tây Hồ có tới 10 triệu du
khách tham quan, trong đó 2 triệu du khách đến từ nước ngoài. Đến đây, du khách như
lạc vào một thế giới khác; bờ hồ được kè bằng đá, bên cạnh vẫn nguyên vẹn từng bụi cây,
từng phiến đá lát đường, từng gốc liễu cổ thụ rủ bóng ven hồ. Những mái ngói cổ kính
còn vẹn nguyên với cỏ dại và rêu xanh phủ đầy trên mái. Dọc trên 6 km vòng quanh hồ
không hề có bất kỳ một công trình kiến trúc mới nào. Xa xa, hút tầm mắt mới thấy những
toà nhà cao tầng, những công trình kiến trúc mới của Hàng Châu, thủ phủ tỉnh Triết
Giang. Như vậy những gì tân kỳ, hiện đại đều được bố trí lùi xa, khuất sau Tây Hồ và bàn
tay con người không can thiệp thô bạo vào thiên nhiên và những gì mà người xưa để lại.
Tại Singapore, là một quốc gia - đô thị với hệ thống tập trung cao độ, cả nước chỉ
có một tổ chức chịu trách nhiệm về xét duyệt quy hoạch và đầu tư - Cơ quan tái phát triển
đô thị. Tính tập trung, công khai và mục đích quy hoạch cùng với công tác quy hoạch
kiểm soát và quản lý theo quy hoạch rõ ràng nên quản lý quy hoạch kiến trúc ở Singapore
hoạt động rất có hiệu quả.
Từ cuối những năm 1980, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá đô thị mới được đặc
biệt chú ý. Nguyên tắc phổ biến về bảo tồn di sản kiến trúc đô thị ở Singapore chủ yếu là
xây dựng mới theo hình thức cũ và bổ sung các chức năng mới theo hướng hiện đại.

Việc bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống, giữ gìn cảnh quan tập trung
vào các vấn đề: lối sống, nghề truyền thống, hình thức kiến trúc nhà ở và các di sản văn
hoá có giá trị (đền, chùa, thành quách, dinh, thự…). Khai thác các giá trị văn hoá truyền
thống tạo được thế mạnh trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ du lịch, đây là quan điểm bảo
tồn các quần cư truyền thống khá triệt để, có chọn lọc, thậm chí mang cả ý nghĩa giáo dục
thông qua các tổ chức tham quan du lịch và bảo tồn.
Tại Malaysia, lấy trường hợp Kuala Lumpur làm ví dụ thì quy trình lập, xét duyệt
và xây dựng các quy định kiểm soát phát triển đô thị không khác nhiều so với những
nước khác. Sự khác nhau chủ yếu là ở hệ thống xét duyệt đầu tư xây dựng. Nếu như
Singapore có đặc điểm tập trung cao độ thì ở Kuala Lumpur là hệ thống các Ban hoặc Uỷ
ban trên cơ sở phân cấp, phân quyền quản lý. Hệ thống các Ban này làm việc trên nguyên
tắc phối hợp tập thể trước khi ra quyết định đầu tư phát triển đô thị.
Mô hình quản lý Kuala Lumpur thể hiện tính dân chủ trong các quyết định. Mô
hình này chỉ thực sự hoạt động có hiệu quả khi các thành viên trong hội đồng làm việc
công tâm và trên những nguyên tắc, quy định chặt chẽ. Trong lĩnh vực phát triển đô thị,
thành công cần được nhấn mạnh trong trường hợp Kuala Lumpur là vấn đề bảo tồn và
phát triển làng trong đô thị với cấu trúc đô thị hiện đại.
3.2. Quản lý đất đai xây dựng đô thị:
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số đô thị trên thế giới, để nâng cao hiệu quả
quản lý đất xây dựng cần giải quyết tốt ba vấn đề: i) Nội dung và phương pháp lập và xét
duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; ii) Chính sách quản lý đất đai xây dựng đô thị; iii)
Quản lý khai thác đất xây dựng đô thị.
Tại Pháp, Chính phủ đã áp dụng ba chính sách chủ yếu cho công tác quản lý đất
đô thị trên cơ sở quy hoạch đô thị được duyệt:
- Chính phủ cho phép mua trước đất nhằm tránh những khó khăn phát sinh từ
tình trạng khan hiếm đất dùng cho xây dựng nhà ở. Luật Quy hoạch quy định dành các
khu vực dự trữ ưu tiên cho việc mua đất phục vụ xây dựng nhà ở nhằm tránh các cơn sốt
của thị trường, ngăn chặn nguy cơ đầu cơ, đồng thời giải quyết việc tồn tại quá độ trong
vòng 15 năm của các bất động sản nằm trong vùng dự trữ.
- Chính quyền đô thị được mua trước những bất động sản của người có nhu cầu
bán, làm quỹ dự trữ để chủ động cho việc thực hiện quy hoạch đô thị.
- Chính phủ Pháp có sự phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương về
đầu tư và phát triển đất xây dựng đô thị và thị trường bất động sản. Chính phủ có Ban thư
ký về đô thị, là đầu mối giữa chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và các cơ
quan hợp tác phát triển công cộng. Khi dự án được xác định, cơ quan hợp tác phát triển
công cộng là tổ chức chịu trách nhiệm chuẩn bị đất đai và thực hiện xây dựng hạ tầng cho
đô thị mới. Hội đồng liên tỉnh về phát triển đô thị là cơ quan quản lý xây dựng đô thị,
xem xét các dự án cấp giấy phép và xây dựng các công trình trong đô thị mới... Việc xây
dựng đô thị mới dựa vào hệ thống hành chính hiện có và các nguồn tài chính trong nước
là chủ yếu, được hỗ trợ bởi một khung giá đất ổn định đảm bảo cho việc đầu tư lâu dài.
Tại Trung Quốc, mô hình quản lý đất đô thị được xây dựng bằng việc thành lập
một cơ quan hành chính đặc biệt, do một tổ chức thay mặt Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước toàn diện. Tổ chức này có thể do Chính phủ thành lập, cũng có thể

là một cơ quan liên chính phủ hay là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo một cơ
chế đặc biệt, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Việc đầu tư xây dựng nhà ở có thể do doanh nghiệp trong nước hoặc phối hợp với
các doanh nghiệp nước ngoài. Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, đền bù giải
phóng mặt bằng được điều tiết bằng Luật.
Tại Hàn Quốc, việc xây dựng đô thị mới được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa
Chính phủ và khu vực tư nhân, quản lý bởi Văn phòng phát triển đô thị mới trực thuộc
Bộ Xây dựng. Cơ quan xây dựng hạ tầng đô thị là Tập đoàn phát triển đất Hàn Quốc, có
trách nhiệm mua đất để xây dựng nhà ở bằng các khoản ứng trước của các nhà đầu tư và
các khoản tín dụng. Tập đoàn thanh toán lại cho các nhà đầu tư bằng đất đã có hạ tầng tín
dụng, được hỗ trợ bằng chính sách trưng mua đất đai trong các đô thị dựa chủ yếu vào
nguồn lực trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên về nhà ở của các đô thị,
thúc đẩy đô thị phát triển một cách có hiệu quả.
Tại Philippines, hoạt động quản lý đô thị dựa vào các điều khoản của Hiến pháp
và Pháp luật, đề cập tới sự phân loại, chuyển nhượng, chuyển dịch và phát triển tài
nguyên đất đai. Đất đai được xem như một bất động sản đặt dưới sự kiểm soát của Nhà
nước, không được phép chuyển dịch hay chuyển nhượng từ đời này sang đời khác. Sự
chia nhỏ quyền sở hữu đất dựa trên Sắc lệnh về bảo đảm bất động sản và Sắc lệnh bảo vệ
người mua. Chính quyền địa phương bảo đảm sở hữu đất được cấp cho Chính phủ hay
các cá nhân.
Việc chuyển đổi đất đai từ đất nông nghiệp sang các chức năng khác phải thực
hiện theo Sắc lệnh, giới hạn trong phạm vi từ 5% - 15% của vùng đất nông nghiệp.
Những nơi đất đai không còn giá trị kinh tế cho mục đích nông nghiệp và những nơi đất
đai có thể có giá trị kinh tế lớn cho mục đích ở, kinh doanh hay công nghiệp được quyết
định bởi Hội đồng luật pháp địa phương.
Đất chuyển dịch là những vùng đất xấu, đất thu góp hay đất hợp tác xã, quỹ đất
quyên góp cho Chính phủ. Mức độ giá trị của đất được xác định bằng việc phân loại đất,
giá thị trường và thuế. Giải pháp hành chính của việc công nhận quyền sở hữu thông qua
việc quyết định cấp giấy đăng ký tự do.
Tại Malaysia, hầu hết vấn đề đất đai nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền
Trung ương, trong khi việc trao quyền sử dụng đất và khai thác sử dụng đất chi tiết lại
nằm trong phạm vi kiểm soát của chính quyền địa phương. Một trong những công cụ
quan trọng nhất để quản lý đất đai ở Malaysia là kiểm soát sự phát triển. Chính quyền địa
phương chuẩn bị hồ sơ quy hoạch của các khu vực trong phạm vi có khả năng phát triển,
trên đó chỉ ra rất chi tiết khả năng có thể hoặc không thể xây dựng.
Malaysia ban hành Luật Bảo hộ quyền sử dụng đất, kiểm soát toàn bộ việc chuyển
đổi mục đích sử dụng đất, phân chia đất và những điều kiện đánh thuế trên mục đích sử
dụng đất. Một trong những công cụ hiệu quả cho sự phát triển là thu lại đất của tư nhân
dành cho mục đích công cộng. Những bổ sung gần đây cho phép chính quyền thu hồi đất
cho bất kỳ mục đích sử dụng nào phù hợp với chính sách phát triển của Nhà nước.
Thuế đất ở Malaysia bao gồm thuế đánh vào bất động sản được thu bởi chính
quyền địa phương, lãi của bất động sản và những thuế thu được từ chính quyền bang,

Tài liệu cùng danh mục Quy hoạch - Đô thị

Đề cương Quy hoạch môi trường

Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu Đề cương Quy hoạch môi trường. Tài liệu gồm có 11 câu hỏi ôn tập cùng với hướng dẫn trả lời. Hi vọng tài liệu sẽ là nguồn tư liệu bổ ích cho các bạn trong quá trình học tập và ôn thi.


The Benefits of Parks: Why America Needs More City Parks and Open Space

Cities are engines of growth and they will be critical to our economic recovery. The Coalition Government is taking tough and decisive action to equip Britain for long-term success by restoring health to the public inances and conidence in the economy through a balanced approach led by private sector growth. But this growth will not occur in the abstract. It will be created in individual places where people and businesses work, trade and innovate. The most economically important of these places are cities and their wider economic areas, which account for 74% of our population and 78% of our jobs....


xây dựng nông thôn mới thời kỳ CNH -HĐH giai đoạn 2010 – 2020

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN..XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI THỜI KỲ CNH –HĐH, GIAI ĐOẠN 2010 – 2020..Hà Nội, năm 2009...Tóm tắt bài trình bày.1. Sự cần thiết của Chương trình 2. Căn cứ xây


Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến 2025

Nội dung điều chỉnh quy hoạch chung TP. HCM đến năm 2025 vừa được ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Bộ Xây dựng. Theo đó, Thành phố sẽ được phát triển hài hòa, đồng bộ giữa xây dựng mới và cải tạo chỉnh trang đô thị; giữa phát triển không gian đô thị và hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường. Phát triển thành phố hiện đại, có bản sắc dân tộc phát huy thế mạnh, đặc thù sông nước, đồng thời tạo sức hấp dẫn đô thị; nâng cao chất...


Quan hệ đô thị và khu dân cư

Đề cương quy hoạch đô thị và khu dân cư nông thôn


Về đô thị hóa bền vững ở Việt Nam

Bài viết Về đô thị hóa bền vững ở Việt Nam sau đây bao gồm những nội dung về đô thị hóa đang góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống song còn đặt ra một số thách thức. Bênh cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một số giải pháp phát triển bền vững đô thị tại Việt Nam hiện nay.


Cấp nước đô thị

Quản lý nhà nước về cấp nước đô thị 3/28/2011 MỤC LỤC Trang 1 1.1 LÝ LUẬN CHUNG Khái niệm 2 2 2 2 3 4 4 4 5 6 6 7 8 8 13 15 17 18 1.1.1. Nước sạch. 1.1.2. Quản lý nhà nước về cấp nước đô thị.


Bài giảng Quy hoạch đô thị bền vững: Chương VI

Bài giảng Quy hoạch đô thị bền vững - Chương VI: Thiết kế đô thị giới thiệu định nghĩa, nguồn gốc và lí luận, nhân tố và nguyên tắc, quá trình và kết quả của thiết kế đô thị. Đây là tài liệu tham khảo dành cho sinh viên ngành Quy hoạch đô thị, Kiến trúc - xây dựng.


Giải pháp giao thông các đô thị Việt Nam hiện nay

Hạn chế các phương tiện tham gia không hữu ích: Biện pháp này nhằm cắt giảm ¼ lượng phương tiện tham gia giao thông hiện có. Hiện nay ở nhiều đô thị, các phương tiện cá nhân phát triển nhanh. Sự tiện lợi của phương tiện cá nhân như xe máy, ôtô con tạo nên sự lãng phí về chi phí lưu hành và chiếm quá nhiều cơ sở vật chất và làm tắc nghẽn giao thông. Chính vì vậy cần có nhiều biện pháp giảm lượng lớn phương tiện thừa này như sau:...


Di dân để tìm kiếm cơ hội: Vượt qua rào cản dịch chuyển lao động ở Đông Nam Á

Nội dung của tài liệu trình bày về sự dịch chuyển hiện nay của lao động ở Đông Nam Á, dịch chuyển lao động là một phần quan trọng trong hội nhập kinh tế của ASEAN, giảm rào cản dịch chuyển lao động sẽ có lợi cho lao động của khu vực, người lao động vẫn đối mặt với những chi phí di trú đáng kể, yếu kém trong bộ máy quản lý di trú làm tăng chi phí di dân và cải thiện chính sách sẽ hạ được rào cản dịch chuyển lao động.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Quy hoạch phổ tần số
  • 01/10/2011
  • 82.941
  • 224

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu