Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm và thực tiễn ở Việt Nam

Bài viết phân tích vị trí, vai trò của Nhà nước và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm, sự cần thiết của cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm, đồng thời liên hệ với thực tiễn Việt Nam, từ đó có những kiến nghị hoàn thiện cơ chế này.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 2 (2014) 27‐41

Cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội
trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm
và thực tiễn ở Việt Nam
Trịnh Tiến Việt*
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 20 tháng 4 năm 2014
Chỉnh sửa ngày 23 tháng 5 năm 2014; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 5 năm 2014
Tóm tắt: Bài viết phân tích vị trí, vai trò của Nhà nước và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm
soát xã hội đối với tội phạm, sự cần thiết của cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước và các
thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm, đồng thời liên hệ với thực tiễn
Việt Nam, từ đó có những kiến nghị hoàn thiện cơ chế này.
Từ khóa: Kiểm soát xã hội đối với tội phạm; Nhà nước; các thiết chế xã hội.

1. Vị trí, vai trò của Nhà nước và các thiết
chế xã hội trong hệ thống kiểm soát xã hội
đối với tội phạm∗

cùng mục đích chung là ngăn ngừa và hạn chế
tội phạm trong xã hội.
- Vị trí, vai trò của Nhà nước trong hệ
thống kiểm soát xã hội đối với tội phạm. Theo
định nghĩa của Từ điển, Nhà nước được hiểu là:
“bộ máy tổ chức chính trị của một xã hội, đứng
đầu là Chính phủ, do giai cấp nắm chính quyền
thành lập để điều hành, quản lý đất nước duy trì
quyền lợi, địa vị của mình” [1] hoặc dưới góc
độ Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật,
Nhà nước là: “một tổ chức quyền lực chính trị
công cộng đặc biệt với bộ máy thực hiện cưỡng
chế và quản lý xã hội” [2]; v.v…

Phân tích hệ thống kiểm soát xã hội đối với
tội phạm cho thấy, Nhà nước và các thiết chế xã
hội đều có vai trò là chủ thể tiến hành hoạt động
kiểm soát tội phạm. Một bên là chính thức, một
bên là không chính thức. Một bên là trách
nhiệm đương nhiên. Một bên là trách nhiệm xã
hội. Một phía là có bộ máy làm việc được chi
trả để làm việc. Một bên không có chi phí. Kết
quả, hiệu quả kiểm soát tội phạm thể hiện chính
thức, còn bên kia thì không thể hiện chính thức.
Chính vì vậy, vị trí, vai trò của các chủ thể này
trong hệ thống kiểm soát không giống nhau. Do
đó, rất cần được nghiên cứu cơ chế phối hợp
nhằm tìm ra ưu điểm, hạn chế nhược điểm vì

Như vậy, trong xã hội, Nhà nước chiếm vị
trí trung tâm của hệ thống kiểm soát xã hội đối
với tội phạm. Với chức năng quản lý, duy trì
trật tự xã hội, Nhà nước là chủ thể tiến hành
hoạt động kiểm soát tội phạm chính thức trong
xã hội. Nhà nước có hệ thống các cơ quan

_______


ĐT: 84-945586999.
Email: viet180411@gmail.com

27

28

T.T. Việt / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 2 (2014) 27‐41 

quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp với lực
lượng cán bộ, công chức có nghiệp vụ chuyên
môn và các công cụ chính sách, pháp luật,
phương tiện vật chất, kỹ thuật để tiến hành
kiểm soát tội phạm. Thông qua ban hành các
quy định pháp luật (đạo luật), Nhà nước xác
định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào
bị coi là tội phạm, quy định chế tài pháp luật
(thể hiện phản ứng của Nhà nước) đối với tội
phạm ấy.
Ngoài ra, Nhà nước tổ chức thi hành pháp
luật nhằm bảo đảm tất cả các quy định pháp luật
của Nhà nước được tuân thủ và chấp hành
nghiêm chỉnh, phòng ngừa vi phạm pháp luật
và tội phạm. Đặc biệt, thông qua các hoạt động
tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án),
Nhà nước (mà đại diện là các cơ quan tư pháp
được giao các chức năng kiểm soát tội phạm)
phát hiện, ngăn chặn tội phạm, trừng phạt người
phạm tội và phòng ngừa họ tái phạm, cũng như
có các biện pháp giáo dục, cải tạo, phục thiện
để giúp người phạm tội tái hòa nhập với xã hội;
v.v...
Hoạt động kiểm soát tội phạm chính thức và
chuyên nghiệp cùng với vị thế đặc biệt của Nhà
nước trong xã hội dẫn đến Nhà nước giữ vai trò
lãnh đạo, điều hành toàn bộ hệ thống kiểm soát
xã hội. Một cách tự nhiên Nhà nước định hướng
cho hoạt động kiểm soát tội phạm, xác định đối
tượng kiểm soát bởi lẽ loại hành vi nào bị coi là
tội phạm, loại (nhóm) tội phạm nào cần lên án
mạnh mẽ, đấu tranh quyết liệt và triệt để đều
phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước trong
việc tội phạm hóa và xác định mức độ trách
nhiệm hình sự trong chính sách hình sự.
Như vậy, ngoài việc hoạch định chính sách
hình sự trong việc phòng, chống tội phạm (kiểm
soát tội phạm), Nhà nước cũng chính là chủ thể
quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kiểm soát
tội phạm. Khi thực thi chức năng quản lý mọi

mặt của đời sống xã hội, phạm vi quản lý của
Nhà nước bao gồm hoạt động của mọi lực
lượng, tổ chức trong xã hội. Việc tham gia kiểm
soát tội phạm của các lực lượng xã hội được
khuyến khích, thúc đẩy hay bị hạn chế, kìm
hãm phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước.
Mức độ tham gia, biện pháp kiểm soát của các
tổ chức xã hội nói chung đều phải được Nhà
nước công nhận, quản lý và cho phép.
- Vị trí, vai trò của các thiết chế xã hội
trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội
phạm. Bên cạnh đó, cùng là chủ thể của hoạt
động kiểm soát xã hội đối với tội phạm nhưng
các thiết chế xã hội có vị trí, vai trò khác với
Nhà nước trong hệ thống kiểm soát này. Hiện
nay, quan niệm về thiết chế xã hội về cơ bản
cũng tương đối thống nhất. Thiết chế xã hội là:
“một tập hợp bền vững của các giá trị, chuẩn
mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung
quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội” [3] hoặc
cũng có thể hiểu thiết chế xã hội như là: “một tổ
chức nhất định của hoạt động xã hội và các
quan hệ xã hội được thực hiện bằng những hệ
thống ăn khớp của các hành vi con người với
các chuẩn mực, quy phạm xã hội” [3]; v.v...
Nói chung, trong một xã hội thường có các
thiết chế cơ bản như: gia đình, giáo dục, kinh tế,
chính trị, pháp luật... Do đó, để duy trì tính chất
ràng buộc đối với thành viên, bảo đảm sự tồn
tại bền vững của mình, thiết chế có hai chức
năng chủ yếu:
- Khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành
vi của con người phù hợp với quy phạm và
chuẩn mực xã hội và tuân thủ thiết chế;
- Ngăn chặn, kiểm soát, giám sát những
hành vi lệch lạc do thiết chế quy định... [3].
Như vậy, bằng việc điều chỉnh hành vi của
con người cho phù hợp với các quy phạm và
chuẩn mực xã hội - trong đó có quy phạm pháp
luật - thiết chế đã góp phần giữ gìn trật tự xã

T.T. Việt / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 2 (2014) 27‐41 

hội, ngăn ngừa vi phạm pháp luật nói chung và
tội phạm nói riêng. Do đó, trong cuộc đấu tranh
chống lại các hành vi lệch chuẩn, vi phạm pháp
luật và tội phạm, vi phạm lợi ích chung của
cộng đồng đòi hỏi phải có sự tham gia trước hết
của tất cả các công dân trong xã hội, sự đồng
lòng của tất cả các cơ quan chuyên trách kiểm
soát tội phạm của Nhà nước và các thiết chế xã
hội, cũng như cộng đồng xã hội.
Các thiết chế xã hội thường không có lực
lượng chuyên biệt kiểm soát tội phạm. Việc
thực hiện chức năng kiểm soát tội phạm được
lồng ghép trong các chức năng, hoạt động thông
thường của thiết chế. Mỗi thiết chế đóng một
vai trò và có một chức năng quan trọng khác
nhau.
Ví dụ: Gia đình có chức năng giáo dục đối
với các thành viên, trong đó chính ông bà, cha
mẹ giáo dục cho con cháu bằng cách nêu gương
tốt, giảng giải các quy tắc đạo đức, chuẩn mực
xã hội... Nhờ vậy, hành vi của các thành viên
trong gia đình được định hướng, khuôn mẫu
vào các chuẩn mực xã hội, tránh lệch lạc, lệch
chuẩn, phạm tội.
Hoặc cộng đồng dân cư với sự quan tâm,
gắn bó, dư luận, tinh thần cảnh giác... cũng là
những cách thức hữu hiệu để phòng ngừa, phát
giác, chủ động phòng ngừa và lên án tội phạm...
Các tổ chức giáo dục là nơi truyền đạt cho con
người kiến thức về tự nhiên và xã hội, bao gồm
trong đó các chuẩn mực pháp luật.
Các nghiên cứu của Xã hội học và Tội
phạm học đều cho thấy hưởng thụ nền giáo dục
tốt là một nhân tố hạn chế hành vi phạm tội của
cá nhân. Hay các tổ chức tôn giáo với hệ thống
giáo lý, giáo luật cũng là những cơ chế kiểm
soát, điều chỉnh hành vi con người. Hầu hết các
tôn giáo đều có xu hướng khuyến thiện, làm
điều phúc, động viên tín đồ không làm những
điều ác, xâm hại đồng loại; v.v...

29

Hoạt động kiểm soát tội phạm không phải là
chức năng chính của các thiết chế xã hội, không
phải là nhiệm vụ đặt ra trước các thiết chế này
như đối với Nhà nước mà nó được các thiết chế
thực hiện tự nhiên bởi chính sự tồn tại, phát
triển của thiết chế. Tuy vậy, nhưng khả năng
kiểm soát tội phạm của các thiết chế xã hội lại
vươn tới phạm vi mọi ngõ ngách, góc cạnh của
đời sống xã hội mà Nhà nước không thể hoạt
động phủ khắp được, cũng như về mặt thực tiễn
rõ ràng và đương nhiên không thể làm được
một cách trọn vẹn và đầy đủ được.
Như vậy, các thiết chế xã hội chủ yếu kiểm
soát tội phạm ở nội tại bên trong, tức là kiểm
soát tư tưởng phạm tội của con người, để họ tự
răn đe, cảnh tỉnh, uốn nắn mình. Những giá trị,
chuẩn mực, sự ràng buộc trong thiết chế xã hội
khiến con người biết căm ghét tội phạm, biết lo
sợ bị trừng phạt, bị mất vị thế xã hội, sợ ảnh
hưởng đến gia đình, họ hàng, cơ quan, tổ chức,
đồng nghiệp... khi thực hiện tội phạm, dẫn đến
họ không phạm tội. Chiều sâu hiệu quả của sự
kiểm soát đó chính là sự bổ sung cần thiết cho
hoạt động kiểm soát bên ngoài của Nhà nước.
Chiều rộng là sự kết hợp giữa các thiết chế xã
hội với pháp luật để răn đe, cảnh tỉnh những
người có “nguy cơ, mong muốn” phạm tội. Vì
vậy, mỗi cá nhân công dân, tự bản thân mỗi
người cần phải rèn luyện, nâng cao ý thức, trách
nhiệm đạo đức, ý thức xã hội vì đó là cơ sở, nền
tảng để nâng cao ý thức, trách nhiệm pháp lý
của họ với xã hội, với cộng đồng và với Nhà
nước.
Ngoài ra, Nhà nước và xã hội cũng cần
khuyến khích, tuyên dương những công dân khi
họ tuân thủ luật pháp, dám đấu tranh chống tiêu
cực, tố cáo những sai trái, vi phạm lợi ích cộng
đồng, nhưng cũng phải bảo vệ tính mạng, danh
dự, nhân phẩm và tài sản của họ, cũng như can
thiệp, hỗ trợ, theo dõi các cơ quan, tổ chức liên
quan khi giải quyết vụ việc đó. Đây là mối quan

30

T.T. Việt / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 2 (2014) 27‐41 

hệ giữa trách nhiệm Nhà nước, trách nhiệm
công dân và trách nhiệm xã hội.
Tóm lại, không có vị trí trung tâm, không
chuyên nghiệp trong kiểm soát tội phạm như
Nhà nước nhưng các thiết chế xã hội là lực
lượng hỗ trợ và đồng hành không thể thiếu
được cùng Nhà nước trong hệ thống kiểm soát
tội phạm.

2. Sự cần thiết của cơ chế phối hợp hoạt
động giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội
trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội
phạm
Cùng tham gia hoạt động kiểm soát tội
phạm nên giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội
cần phải có một cơ chế phối hợp chặt chẽ.
“Cơ chế”, theo Đại Từ điển tiếng Việt định
nghĩa là: “cách thức sắp xếp tổ chức để làm
đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện” [1]
hoặc dưới góc độ khoa học pháp lý, “cơ chế” lại
được hiểu là: “tổng thể các bảo đảm về vật chất,
chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức, nghiệp vụ
cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một
việc nào đó” [4]; v.v...
Do đó, xét riêng về cơ chế phối hợp hoạt
động giữa Nhà nước và các thiết chế xã hội
trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội
phạm cho thấy, sự cần thiết phải có cơ chế phối
hợp là xuất phát từ các yếu tố tác động khác
nhau như: vị trí, vai trò, đặc thù và những ưu
thế có tính bổ sung cho nhau của hai chủ thể
này trong hệ thống kiểm soát xã hội đối với tội
phạm.
- Cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước
và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát
xã hội đối với tội phạm xuất phát từ chức năng,
vị trí và vai trò của mỗi chủ thể. Như đã đề cập
ở trên, theo Lý thuyết kiểm soát xã hội, Nhà
nước và các thiết chế xã hội đều có tư cách là

chủ thể tiến hành kiểm soát tội phạm. Cùng
tham gia một loại hoạt động nên nếu không có
cơ chế phối hợp hiệu quả thì hoạt động giữa các
chủ thể có thể trùng lắp hoặc mâu thuẫn với
nhau. Phổ biến nhất là khả năng vi phạm
nguyên tắc hoặc lấn át, vi phạm thẩm quyền lẫn
nhau. Chẳng hạn, chính các thiết chế xã hội lại
có thể vi phạm quy định của Nhà nước, vượt
quyền trong quá trình kiểm soát tội phạm.
Ví dụ: Câu chuyện cộng đồng dân cư ở Nhĩ
Trung, Gio Thành, Gio Linh, Quảng Trị đánh
chết hai mạng người vì phát hiện hành vi trộm
một con chó của họ [5] hay tương tự như vậy,
một thanh niên 26 tuổi ở bị tập thể cư dân
xóm Xuân Phúc, Nghi Xuân, Nghi Lộc, Nghệ
An đánh chết khi câu trộm chó... [6].
Như vậy, việc phát hiện và đấu tranh với tội
phạm là một trong những mặt hoạt động kiểm
soát tích cực của cộng đồng dân cư, tuy nhiên
chỉ Nhà nước (mà đại diện là các cơ quan có
thẩm quyền) mới có quyền phán xử, áp dụng
biện pháp xử lý, trừng phạt người phạm tội.
Trong trường hợp này, do cộng đồng dân cư
không phối hợp hoạt động với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền (thông tin, tố giác với Cơ
quan Điều tra) dẫn đến tình trạng hoạt động
kiểm soát tội phạm lại làm phát sinh vi phạm
(tội phạm) mới.
Cùng có vai trò chủ thể kiểm soát nhưng vị
trí của Nhà nước và các thiết chế xã hội khác
nhau. Nhà nước là trung tâm của hệ thống, tiến
hành hoạt động kiểm soát chính thức và định
hướng hoạt động cho cả hệ thống kiểm soát xã
hội đối với tội phạm. Trong khi đó, các thiết
chế xã hội tuy hoạt động kiểm soát không chính
thức, chịu sự quản lý, điều hành của Nhà nước
nhưng lại bổ sung, hỗ trợ về mặt phạm vi hoạt
động, phương thức tác động cho kiểm soát
chính thức của Nhà nước. Chẳng hạn, các cơ
quan, tổ chức có nhiệm vụ… kịp thời có biện
pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra

T.T. Việt / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 2 (2014) 27‐41 

tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình
(khoản 2 Điều 4 Bộ luật hình sự Việt Nam).
- Cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước
và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát
xã hội đối với tội phạm xuất phát từ đặc thù về
phương thức kiểm soát tội phạm. Hoạt động
kiểm soát của Nhà nước là kiểm soát bên ngoài,
tập trung vào kiểm soát hành vi phạm tội bằng
việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm. Có
thể nói rằng, đối tượng kiểm soát của Nhà nước
là hiện tượng tội phạm với mục tiêu làm giảm
bớt (hạn chế) tội phạm trong xã hội. Trong khi
đó, hoạt động kiểm soát của các thiết chế xã hội
là kiểm soát bên trong, chủ yếu sử dụng các
biện pháp giáo dục, thuyết phục, chỉ trích, ràng
buộc, giám sát... để hạn chế nguy cơ phạm tội.
Nói một cách khác, đối tượng kiểm soát của các
thiết chế xã hội là nguyên nhân tội phạm - với
mục đích khống chế, thủ tiêu các nguyên nhân
gây ra tội phạm.
Đặc thù về phương thức tác động của hai
loại chủ thể kiểm soát có thể thấy rõ trong bảng
so sánh với ba tiêu chí cơ bản sau đây:
Tiêu
chí
Hướng
tác
động
Biện
pháp
kiểm
soát
Mục
đích
kiểm
soát

Nhà nước

Các thiết chế xã hội

Chủ yếu tác động
vào hành vi thể
hiện ra ngoài thế
giới khách quan
của con người.
Phát hiện, điều
tra và xử lý.

Chủ yếu tác động
tới nội tâm, suy
nghĩ, tư tưởng bên
trong con người.

Làm giảm hiện
tượng tội phạm
(tình hình tội
pham).

Làm giảm nguyên
nhân phát sinh tội
phạm.

Giáo dục, thuyết
phục, chỉ trích, ràng
buộc, giám sát...

Cho nên, rõ ràng, để kiểm soát tội phạm có
hiệu quả nhất định cần đến đồng thời cả kiểm
soát tư tưởng lẫn kiểm soát hành vi phạm tội,
khống chế cả hiện tượng tội phạm lẫn thủ tiêu
nguyên nhân phạm tội. Nói một cách khác,

31

không chỉ khống chế, hạn chế tình hình tội
phạm, mà còn khắc phục nguyên nhân và điều
kiện phạm tội. Vì vậy, một cơ chế phối hợp
đồng bộ và chặt chẽ giữa Nhà nước và các tổ
chức xã hội trong hệ thống kiểm soát tội phạm
là hết sức cần thiết. Chẳng hạn, các tổ chức,
công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố
giác hành vi phạm tội; v.v...; cũng như phải có
trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện
để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng thực hiện nhiệm vụ.
- Cơ chế phối hợp hoạt động giữa Nhà nước
và các thiết chế xã hội trong hệ thống kiểm soát
xã hội đối với tội phạm xuất phát từ ưu thế khác
biệt trong kiểm soát tội phạm giữa các chủ thể
này. Phục vụ cho chức năng kiểm soát tội
phạm, Nhà nước và các thiết chế xã hội đều có
những ưu thế riêng biệt đòi hỏi sự phối hợp để
bổ sung và bù đắp lẫn nhau. Cụ thể, về nhân lực
phục vụ hoạt động kiểm soát tội phạm, Nhà
nước có ưu thế với đội ngũ cán bộ, công chức
với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và công cụ
pháp luật, hệ thống các phương tiện vật chất kỹ
thuật cần thiết. Đội ngũ này tinh nhuệ và hoạt
động kiểm soát tội phạm chuyên nghiệp, trấn áp
kịp thời tội phạm. Tuy nhiên, lực lượng này còn
bị hạn chế về số lượng, vì ngoài nhiệm vụ đấu
tranh, trấn áp tội phạm còn có nhiệm vụ khác
như duy trì trật tự xã hội, công tác quản lý hành
chính... Trong khi đó, lực lượng của các thiết
chế xã hội tuy không tinh nhuệ, chuyên nghiệp,
đào tạo cơ bản để kiểm soát tội phạm nhưng lại
đông đảo, rộng khắp, dàn trải, tầng nấc khác
nhau và có khả năng vươn tới kiểm soát mọi
ngóc ngách, hang hẻm của xã hội. So sánh về
thế mạnh này, tại lễ thành lập Công an nhân dân
vũ trang (tháng 3-1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: “Một vạn Công an chỉ có hai vạn tai, hai
vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân có
hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay
chân” [7]. Trên cơ sở đó, Người căn dặn lực

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Chủ thể trong luật dân sự 9

Tham khảo tài liệu 'chủ thể trong luật dân sự 9', khoa học xã hội, hành chính - pháp luật phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Tìm hiểu về LUẬT CÔNG CHỨNG

căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về công chứng. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về phạm vi công chứng, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà nước về công chứng. Điều 2. Công chứng Công chứng là việc công...


Ebook Luật chuyển giao công nghệ: Phần 2

Nối tiếp nội dung của phần 1 cuốn sách "Luật chuyển giao công nghệ", phần 2 giới thiệu tới người đọc các quy định về hợp đồng chuyển giao công nghệ, dịch vụ chuyển giao công nghệ, các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Câu hỏi ôn tập học phần Dân sự 1

Để củng cố thêm thông tin và kiến thức trong môn Luật dân sự mời các bạn cùng tìm hiểu và tham khảo "Câu hỏi ôn tập học phần Dân sự 1". Tài liệu gồm có 37 câu hỏi có kèm đáp án và lời giải chi tiết về Dân sự. Cùng tìm hiểu để nắm bắt nội dung thông tin tài liệu.


Bài thảo luận Đạo đức công vụ "Đạo đức nghề nghiệp ảnh hưởng gì đến đạo đức công vụ"

Đạo đức là phạm trù đề cập đến mối quan hệ con người và các quy tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người trong hoạt động cuộc sống. Đạo đức là toàn bộ quan niệm tri thức và cáĐạo đức là toàn bộ quan niệm tri thức và các trạng thái cảm xúc tâm lý chung của cộng đồng về giá trị thiện ác , đúng sai, tốt xấu… được cộng đồng thừa nhận như là những quy tắc đánh giá điều hành điều chỉnh hành vi ứng xử cá nhân....


Giáo trình - Luật bảo vệ thực vật-bài 2&3

Bài 2: QUI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. QUI PHẠM PHÁP LUẬT 1.1. Khái niệm Qui phạm pháp luật là hình thức thể hiện của pháp luật thành một qui tắc xử sự nhất định mà chủ thể phải tuân theo trong các trường hợp cụ thể do Nhà nước qui định và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Qui phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật. Nó là qui tắc xử sự chung, là chuẩn mực để mọi người phải tuân theo, là tiêu...


Personal Relationship of Dependence and Interdependence in Law

At their simplest level, human relationships are about ties between people. These ties, however, are anything but simple; rather, they are complex interdependencies whose dynamic reciprocity of obligations and interests is not always represented in our legal thinking. This collection explores the intersection of interdependency and the law, and contemplates some of the key issues at stake in the way the law interprets and addresses human relationships.


Giáo trình Luật hành chính Việt Nam: Phần 1 - Phan Trung Hiền

Giáo trình Luật hành chính Việt Nam: Phần 1 - Những vấn đề chung của của luật hành chính gồm 2 chương và được bố cục thành 7 bài, nội dung trình bày khái quát chung về luật hành chính, chủ thể của luật hành chính Việt Nam như: Cơ quan có thẩm quyền nhà nước, quy chế pháp lý hành chính của cán bộ; công chức, quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội, quy chế pháp lý hành chính của công dân Việt Nam, người nước ngoài,...


Bình luận bộ luật hình sự phần các tội phạm: Chương 14 - Đinh Văn Quế

Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28-12-1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997.


Bài giảng Luật ngân sách nhà nước: Chương 1 - ThS. Phan Phương Nam

Bài giảng "Luật ngân sách nhà nước - Chương 1: Lý luận chung về Ngân sách nhà nước và pháp luật ngân sách nhà nước" cung cấp cho người học các kiến thức: Khái quát về ngân sách nhà nước, khái quát về pháp luật ngân sách nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Tài liệu mới download

VSTEP speaking part 2 sample answers
  • 28/03/2017
  • 89.372
  • 829

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu