Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu

Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với nhửng tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ riêng từ quý 1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần thay đổi rất lớn về chính sách và mục tiêu phát triển kinh tế: + Đứng trước áp lực lạm phát, mà dấu hiệu rõ nét từ Quý 4/2007, cùng với tác động tiêu cực,do gia...



Đánh giá tài liệu

4.7 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu tài chính, ngân hàng, tín, dụng, kế toán, Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu
4.7 5 2775
  • 5 - Rất hữu ích 1.945

  • 4 - Tốt 830

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với nhửng tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ riêng từ quý 1/2008 đến quý 4/2008 đã có 2 lần thay đổi rất lớn về chính sách và mục tiêu phát triển kinh tế: + Đứng trước áp lực lạm phát, mà dấu hiệu rõ nét từ Quý 4/2007, cùng với tác động tiêu cực,do gia tăng đột biến giá cả một số hàng hóa trên thị trường thế giới, tháng 3.2008 chính phủ đã chuyển mục tiêu và chính sách từ sự theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao sang chính sách ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với 8 nhóm giải pháp. Kết quả từ tháng 6.2008 chỉ số CPI của nền kinh tế đã có xu hướng giảm dần và kinh tế vĩ mô có dấu hiệu ổn định hơn. + Nhưng sau 15.9.2008, thời điểm thực sự nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cùng với sự suy thoái khá sâu về kinh tế, đã tác động rất tiêu cực đến nhiều lãnh vực trong hoạt động kinh tế của nước ta và từ đầu quý 4/2008 nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát do sức cầu giảm.Một lần nữa mục tiêu và chính sách kinh tế phải thay đổi: chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng với 5 nhóm giải pháp đang thực hiện đến nay. Có thể nói trong vòng chưa đầy một năm nền kinh tế đã có 2 bước ngoặt về sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô để thích nghi với tình hình cụ thể, trong đó có thể nói vai trò quyết định là sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ.
  2. Điểm qua vai trò của chính sách tiền tệ đã thực thi trong 2 bước ngoặt trên để qua đó làm rõ vai trò của nó trong giai đoạn sau thời kỳ suy giảm. 1. Lý luận và thực tiễn sử dụng chính sách tiền tệ như một trong những công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế vĩ mô: Về lý thuyết, thông thường khi nói đến mục tiêu kinh tế vĩ mô, người ta thường tập trung vào 4 mục tiêu chính: (1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP hay GNP cùng với chỉ tiêu GDP/người vào những mốc thời gian nhất định. Đây là mục tiêu bao trùm nhất của kinh tế vĩ mô phản ảnh chung nhất về thành tựu phát triển của một nền kinh tế. Tuy chỉ báo này chưa phản ảnh đầy đủ chất lượng của một nền kinh tế, nhưng luôn luôn là chỉ báo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của một nền kinh tế. (2) Kiểm soát giá cả thông qua chỉ báo CPI hay thường nói là kiểm soát lạm phát là chỉ báo quan trọng nhất phản ảnh tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Chỉ báo này còn được sử dụng như một công cụ giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội. (3) Tạo việc làm mới cho xã hội, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp là chỉ báo vừa phản ảnh tình trạng của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính ổn định về mặt an sinh xã hội. Thông thường ở các nước đây là chỉ báo rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị phản ánh năng lực quản lý điều hành của một chính phủ. Số việc làm mới tạo ra một năm còn phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế tài chính với chính sách nhân dụng. (4) Tăng xuất khẩu ròng (lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu); nhất là đối với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
  3. Bốn mục tiêu nêu trên được sử dụng khá phổ biến ở các nước như là những mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Những mục tiêu này cũng chính là những sản phẩm đầu ra của quan hệ tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Vai trò của nhà nước thông qua các chính sách và giải pháp kinh tế để tác động đến tổng cung và tổng cầu nhằm tạo được “đầu ra” theo ý muốn, với nguyên tắc: nhà nước không tác động trực tiếp vào chủ thể tạo cung hay tạo cầu, mà tác động vào thị trường (sự vận động của tổng cung và tổng cầu được xem như “hộp đen”) và chính thị trường sẽ tác động đến các chủ thể của nền kinh tế (người sản xuất, người tiêu dùng). Để thực hiện 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, nhà nước thường sử dụng 4 nhóm chính sách hay còn gọi là các nhóm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô: (i) Chính sách tài khóa bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. Đây là những chính sách quan trọng nhất vì nó không chỉ tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế mà còn có ý nghĩa dẫn dắt, định hướng thị trường. Chính sách tài khóa thường rất linh hoạt để điều chỉnh kịp thời các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Ví dụ chính sách tăng công chi để kích thích sức cầu của nền kinh tế chẳng hạn hay tăng thuế để hạn chế tiêu dùng. (ii) Nhóm các chính sách tiền tệ được ngân hàng trung ương sử dụng để điều tiết thị trường tài chính, mà trọng tâm là thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát ổn định giá cả. Thông thường chính sách tiền tệ có ảnh hưởng mạnh nhất đến điều chỉnh tổng cầu của nền kinh tế thông qua các công cụ như: lãi suất, hối đoái,dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, điều chỉnh cung tiền, các nghiệp vụ của thị trường mở… (iii) Chính sách chi tiêu nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng và điều tiết khối cầu của nền kinh tế. Chính sách này được sử dụng thường xuyên trong trường hợp nền kinh tế ở trong tình trạng lạm phát hoặc giảm phát.
  4. (iv) Chính sách ngoại thương nhằm điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu, bảo đảm mục tiêu tăng xuất khẩu ròng; đồng thời cũng điều tiết tổng cung và tổng cầu nội địa của nền kinh tế. Bốn nhóm công cụ chính sách nêu trên tùy theo tính chất của một nền kinh tế và trong mỗi giai đoạn nhất định được điều chỉnh nhằm bảo đảm phục vụ có hiệu quả cho các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Mục tiêu và công cụ chính sách kinh tế vĩ mô được khái quát theo sơ đồ dưới đây:
  5. 2. Thực tiễn sử dụng công cụ chính sách tiền tệ ở nước ta: Từ sự phân tích lý thuyết như trên đối chiếu với thực tiễn ở nước ta cho thấy, trong 2 năm qua Chính phủ đã sử dụng khá linh hoạt các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô để điều chỉnh các mục tiêu kinh tế-xã hội, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, cụ thể như sau: + Trong năm 2008, để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội, trong 8 nhóm giải pháp thực hiện từ tháng 3 năm 2008, thì nổi bật và có tác dụng nhanh nhất là chính sách tiền tệ. Với tình hình lạm phát cao (trên 2%/tháng) Chính phủ thực hiện chính sách siết chặt tiền tệ, thông qua các công cụ của Ngân hàng TW như tăng lãi xuất cơ bản, tăng dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại, thực hiện tín phiếu bắt buộc đối với một số tổ chức tín dụng chủ yếu, hạn chế việc chiết khấu các loại giấy tờ có giá... nhằm kéo giảm tốc độ tăng dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại, giảm tổng cung tiền trong lưu thông... dẫn đến giảm tổng cầu của nền kinh tế, tạo sự thăng bằng mới trong quan hệ giữa Tổng cung - Tổng cầu. Khi một nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát, thì có nhiều nguyên nhân, bao gồm trực tiếp và gián tiếp, nhưng luôn luôn được thể hiện qua tiền tệ, nên “toa thuốc tiền tệ” có tác dụng nhanh nhất. + Từ đầu năm nay, nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng suy giảm khá mạnh (GDP quý 1/2008 tăng 7,4% nhưng quý 1/2009 chỉ còn 3,1%), mục tiêu kinh tế vĩ mô là ngăn chặn suy giảm, nên phải áp dụng các giải pháp để tăng tổng cầu của nền kinh tế. Một lần nữa chính sách tiền tệ được sử dụng như công cụ chủ yếu để phục vụ mục tiêu kinh tế. Trong 5 nhóm giải pháp chính phủ thực thi từ tháng 12/2008 đến nay, thì nổi bật vẫn là việc sử dụng công cụ của chính sách tiền tệ như: nới lỏng chính sách tín dụng, hạ lãi xuất cơ bản, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại, trả nợ tín phiếu bắt buộc, tái chiết khấu và tái cấp vốn qua nghiệp vụ thị trường mở, mở rộng biên độ tỷ giá VND... để kích thích sự gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, qua đó làm tăng cả tổng cung. Để thực hiện gói kích
  6. thích kinh tế với quy mô 8 tỷ USD, mà chính phủ công bố, thì cho đến nay việc thực hiện bù lãi xuất 4% cho các doanh nghiệp thuộc đối tượng vay vốn lưu động vẫn là chính sách có nhiều tác dụng nhất. 3. Chính sách tiền tệ trong giai đoạn “hậu khủng hoảng”. 3.1. Kinh tế toàn cầu bước vào thời kỳ “hậu khủng hoảng”. Theo dõi diễn biến tình hình kinh tế thế giới từ đầu năm đến nay cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chắc chắn không dẫn đến một cuộc đại khủng hoảng kinh tế như thời kỳ 1929-1933, mà đã có nhiều người lo lắng.Tác động của khủng hoảng tài chính đã dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng đến nay có thể tin rằng, sự suy giảm đã chạm đáy. Thật vậy, đối với thị trường tài chính,thì đáy của khủng hoảng đã không lập lại sau ngày 10/3/2009, ngày có các chỉ số của các thị trường chứng khoán Mỹ đạt mức thấp nhất. Đối với suy giảm kinh tế thì hầu hết các nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn nhất đều tin rằng đã đến đáy: Ba nền kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật bản đã có dấu hiệu tăng trưởng dương; tỷ lệ thất nghiệp giảm; các nền kinh tế khác như Hàn quốc, Singapore... đang có sự phục hồi ngoạn mục. Trung quốc, ấn độ, Indonesia đang tập trung tăng tốc trở lại với đầy tham vọng của thời kỳ hậu khủng hoảng. Có thể nói: Thế giới đang thực sự bước vào thời kỳ hậu khủng hoảng. Các quốc gia đang nỗ lực thực hiện các chiến lược riêng của mình; một cuộc chạy đua mới đang diễn ra, mặc dù tốc độ phục hồi chung của nền kinh tế toàn cầu rất chậm và phần nào đó trì trệ cho đến giữa năm tới, khi niềm tin của nhà đầu tư và tính ổn định của nền tài chính được củng cố. 3.2. Kinh tế Việt Nam đang phục hồi:
  7. Với đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở cao, cùng với đặc điểm của một nền kinh tế mang nặng tính chất gia công, tỷ trọng giá trị gia tăng thấp trong cơ cấu giá trị sản phẩm, nên chịu tác động rất lớn của thị trường thế giới. Tuy nền kinh tế nước ta không chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính toàn cầu; hệ thống tài chính-tín dụng giữ được ổn định, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi mức độ phục hồi của thị trường thế giới. Tuy nhiên, nếu xét về hệ thống tài chính-tín dụng, thì thời điểm khó khăn nhất đã rơi vào quý 2/2008, còn tăng trưởng kinh tế khó khăn nhất cũng đã rơi vào quý 1/2009. Phần thời gian còn lại của năm nay và năm 2010 có thể xem là thời kỳ phục hồi, nên các chính sách kinh tế thực hiện vào thời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ cho giai đoạn này, mà tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn “tăng tốc” tiếp theo. 3.3. Vai trò của chính sách tiền tệ thời kỳ sau suy giảm: Như đã nói ở trên, nền kinh tế toàn cầu đang bước vào giai đoạn hậu suy giảm và mỗi quốc gia đều đang nỗ lực trong một cuộc chạy đua mới trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn. Đối với nền kinh tế nước ta, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bài học được rút ra quan trọng là: Sự bất cập của Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều ngang, chủ yếu dựa vào sự tăng vốn đầu tư, sử dụng lao động rẻ, khai thác tài nguyên thô và gia công hàng xuất khẩu..., thể hiện qua các chỉ báo như: hệ số ICOR, VA/GO, cơ cấu hàng xuất khẩu, năng suất lao động, tổng yếu tố của tăng trưởng. Do đó, vấn đề trọng tâm của giai đoạn “sau suy giảm” là: Tổ chức lại nền kinh tế nhằm chuyển nền kinh tế từ tính chất gia công sang sản xuất; tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển nền kinh tế từ lệ thuộc sang tương thuộc trong quá trình hội nhập nhằm xác lập vị thế của nền kinh tế Viêt nam trong thời kỳ “hậu khủng hoảng” với sự dự báo sẽ diễn ra cuộc chạy đua nhằm thay đổi trật tự kinh tế quốc tế trong quan hệ toàn cầu và khu vực.
  8. Dĩ nhiên, để thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh nêu trên, nhà nước cần sử dụng cả hệ thống công cụ quản lý nhà nước về kinh tế như: hệ thống pháp luật điều chỉnh mọi hoạt động của đời sống kinh tế; công cụ quy hoạch và kế hoạch; 4 công cụ điều tiết vĩ mô; lực lượng kinh tế nhà nước, những công cụ chính sách tiền tệ có tầm quan trọng đặc biệt đối với đặc điểm của nền kinh tế nước ta, được nhìn ở các giác độ tác động đến mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Thật vậy, hiện nay và có lẽ trong nhiều năm tới, nguồn vốn cho nền kinh tế chủ yếu vẫn được huy động và phân bố qua hệ thống ngân hàng và các định chế tín dụng trung gian phi ngân hàng, mà các định chế này đều vận hành theo sự điều tiết của chính sách tiền tệ. Do đó, chính sách tiền tệ có ý nghĩa quyết định đối với sự vận động của dòng vốn đầu tư và ngay cả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, chính sách tiền tệ đóng vai trò chủ yếu, không chỉ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp về nguồn vốn lưu động, mà đang tạo điều kiện cho doanh nghiệp nào có chiến lược kinh doanh tốt có thể tận dụng để thực hiện chiến lược phát triển dài hạn, thông qua đầu tư phát triển sản phẩm mới. Chính sách tiền tệ vẫn là công cụ chủ yếu để ổn định giá cả, thực thiện chính sách ngoại thương thông qua sự điều hành chính sách tỷ giá và bảo đảm tính thanh khoản trong thanh toán quốc tế. Tóm lại, với vai trò là công cụ chủ yếu tác động đến sự vận động của tổng cung và tồng cầu của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ của nước ta trong thời gian gần đây đã được chính phủ sử dụng một cách linh hoạt trong việc kiềm chế lạm phát và đang góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế hiện nay.Trong thời kỳ sau suy giảm, chính sách tiền tệ chính là công cụ để hỗ trợ các doanh nghiệp tái cấu trúc nhằm nâng cao sức cạnh tranh, thông qua việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ tiền tệ.
  9. Trích Tham luận của TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TPHCM, Ủy viên HĐTVCSTCTTQG, nhan đề: "Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu để phục vụ mục tiêu kinh tế vi mô ở nước ta"

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

THE TRADITION OF A BALANCED, RIGHTEOUS LIFE

From the viewpoint of business policy, the reform law of 1999 eliminated the last hurdle which had hitherto prevented the savings banks from con- ducting business with companies listed on the stock exchange. Regional savings banks can now carry on all banking business stipulated in the law on currency and finance8, with anyone, without exception. However, their business continues to focus on accepting customer deposits into savings accounts (via a booklet known as livret A) and to forward them to a public financial institute, the Caisse des Dépôts et Consignations (CDC)9,to finance the building of subsidised housing. Unlike the savings accounts run by the other financial institutions, the livrets A reserved to the savings banks...


Tình hình chuyển đổi sang EMV ở một số khu vực và xu hướng phát triển các dịch vụ mới ứng dụng trên thẻ chip EMV

Mục đích của việc ứng dụng thẻ chip EMV vào trong các hoạt động thanh toán là nhằm đảm bảo cho các giao dịch thanh toán an toàn, nhanh chóng, hiệu quả và gia tăng được nhiều tiện ích trên thẻ. Cho đến nay, nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Malaysia… đã hoàn thành chuyển đổi sang EMV trên diện rộng, tình trạng gian lận thẻ giả mạo, thẻ bị mất, thẻ bị đánh cắp đã giảm xuống đáng kể. Kinh nghiệm chuyển đổi thành công sang công nghệ thẻ chip EMV của các quốc gia này cho thấy, việc...


Những điều cần biết khi giao dịch thanh toán thẻ

Bạn có ý định chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng khi giao dịch kinh doanh nhưng chưa biết phải thực hiện những công đoạn nào. Trong bản tin này chúng tôi sẽ giúp bạn đọc hiểu được các quá trình thanh toán thẻ. Với tư cách là người mua hàng, bạn muốn dùng MasterCard để thanh toán cho người bán. Lúc này nhiệm vụ của người thu ngân tại nơi bán hàng là đưa thẻ vào máy đọc thẻ, thẻ được kiểm tra, số thẻ được nhập và biên lai được in ra. Bạn ký vào biên lai và người thu ngân...


Tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng No&PTNT Ninh Giang - 5

+ Giám đốc NHNo nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay. - Nếu cho vay thì NHNo nơi cho vay cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay (trường hợp cho vay có đảm bảo bằng tài sản); - Khoản vay vượt quyền phán quyết thì thực hiện theo quy định hiện hành của NHNo Việt Nam; - Nếu không cho vay thì thông báo cho khách hàng biết. + Hồ sơ khoản vay...


Doanh nghiệp lắc đầu, người dân từ chối

Lãi suất huy động VND đã vượt 14%/năm Mặc dù niêm yết lãi suất huy động VND tối đa là 14%/năm theo quy định, nhưng hầu hết các NH đều "xé rào" bằng cách đưa ra những mức lãi suất thỏa thuận cao hơn, lên đến 16-17%/năm. Phó tổng giám đốc một NH cổ phần ở Hà Nội cho biết, lạm phát đang ở mức cao, nếu huy động lãi suất 14%/năm sẽ khó hấp dẫn người gửi tiền. Trong khi cơ quan chức năng chưa cho phép huy động lãi suất cao hơn, NH đành phải "lách" bằng cách đưa...


Real Interest Rate Persistence: Evidence and Implications

The potential impact of debt on inflation depends on the response of monetary policy. High government debt could well constrain the ability of the central banks to set the policy rate to control inflation. This is the “fiscal dominance” view. Heavily debted governments force the central bank to accept inflation in order to reduce the real value of their debt. Historically, inflation has helped governments to reduce their public debt burdens. In the case of the United Kingdom, the unexpectedly sharp rise in inflation in the late 1960s and early 1970s reduced debt/GDP ratios significantly. Most of the crises...


Phương thức thanh toán nhờ thu

Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng.


GREEN PAPER on the feasibility of introducing Stability Bonds

Under this approach, euro-area government financing would be fully covered by the issuance of Stability Bonds with national issuance discontinued. While Member States could issue Stability Bonds on a decentralised basis via a coordinated procedure, a more efficient arrangement would imply the creation of a single euro-area debt agency16 . This centralised agency would issue Stability Bonds in the market and distribute the proceeds to Member States based on their respective financing needs. On the same basis, the agency would service Stability Bonds by gathering interest and principal payments from the Member States. The Stability Bonds would...


Vault Career Guide to Investment Banking - 2005

What is investment banking? Is it investing? Is it banking? Really, it is neither. Investment banking, or I-banking, as it is often called, is the term used to describe the business of raising capital for companies and advising them on financing and merger alternatives. Capital essentially means money. Companies need cash in order to grow and expand their businesses; investment banks sell securities to public investors in order to raise this cash. These securities can come in the form of stocks or bonds, which we will discuss in depth later....


Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

Cùng với các nỗ lực kiềm chế lạm phát như cắt giảm chi tiêu và đầu tư, đẩy mạnh phong trào tiết kiệm... các động thái điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước với thị trường tiền tệ thông qua công cụ lãi suất rất đáng chú ý. Nhìn lại quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam mang lại hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức sử dụng và tác động của công cụ này. I. Ý nghĩa của lãi suất và tự do hóa lãi suất Lãi suất là một phạm trù kinh tế khách...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu