Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Chất lượng thông tin báo cáo tài chính - Tác động của các nhân tố bên ngoài: Phân tích nghiên cứu tình huống tại Việt Nam

Mục tiêu của nghiên cứu chủ yếu là xác định các nhân tố tác động đến Chất lượng thông tin báo cáo tài chính, đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam. Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính được phân làm hai nhân tố chính: bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, nghiên cứu này được giới hạn trong phạm vi các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016

Chất lượng thông tin báo cáo tài chính Tác động của các nhân tố bên ngoài: Phân
tích nghiên cứu tình huống tại Việt Nam


Phạm Quốc Thuần, La Xuân Đào

Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: thuanpq@uel.edu.vn
(Bài nhận ngày 16 tháng 11 năm 2015, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 23 tháng 12 năm 2015)

TÓM TẮT
c ti u c a n hi n c u ch
u à c
nh c c nh n t t c n
n h t
n th n
tin o c o tài ch nh, ề u t m hình n hi n
c u c c nh n t t c n
n ch t
n th n
tin o c o tài ch nh i với c c doanh n hiệp ở
Việt Nam. c nh n t t c n
n ch t
n
th n tin o c o tài ch nh
c ph n àm hai
nhóm nh n t ch nh: n tron và n n oài
doanh n hiệp, n hi n c u nà
c iới hạn
Từ khóa: Th n tin, h t

n th n tin, ch t

1. GIỚI THIỆU
Trong thời đại được chi phối bởi thông tin
(TT), chất lượng thông tin (CLTT) là mối bận
tâm hàng đầu của phần lớn các tổ chức. Hơn bao
giờ hết, nhiều tổ chức đặt trọng tâm của họ vào
việc có được những thông tin có giá trị. Redman
(1992) cho rằng sự không chính xác và toàn vẹn
của TT có thể gây bất lợi đến lợi thế cạnh tranh
của DN. Theo Hongjiang Xu (2009), TT cho dù
mang đặc điểm là tài chính hay phi tài chính, là
một nhân tố then chốt quyết định sự thành công
của các tổ chức trong thời buổi toàn cầu hóa nền
kinh tế hiện nay. TT được xem là một nguồn tài
nguyên chiến lược của tổ chức (Gafarov, 2009).
TT kế toán được xem là thành phần chính
yếu của TT quản lý, đảm nhận vai trò quản lý

tron phạm vi c c nh n t
n n oài doanh
n hiệp. Ph ơn ph p sử d n ch
u à nghiên
c u tình hu n .
t qu ph n t ch cho th
nh n t p c t thu có t c n ớn nh t, c c
nh n t k ti p ao ồm: Ni m t ch n kho n;
Phần mềm
to n; iểm to n c ập. ó 2
nh n t t c n th p nh t à nh n t
u t
ch nh tr ;
i tr ờn ph p ý.

n th n tin

o c o tài ch nh.

nguồn lực TT tài chính cho các DN (Gelinas&
ctg, 1999; James A. Hall, 2011); thu thập và ghi
nhận các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh
tại các DN; cung cấp các TT kinh tế, tài chính
phục vụ cho nhu cầu của người sử dụng. Hiệu
quả của TT kế toán là một nền tảng quan trọng
giúp các nhà quản trị ra quyết định; TT CL là
một trong những lợi thế cạnh tranh của một tổ
chức. Tuy nhiên, người sử dụng TT luôn phải
đối mặt với việc tiếp nhận những TT trên BCTC
kém tin cậy từ những nguyên nhân khác nhau
như sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn TT;
sự đối mặt với các động cơ gian lận TT từ phía
đối tượng cung cấp TT; từ những nguyên nhân
phát sinh trực tiếp từ bản chất của nghiệp vụ và
quá trình kinh doanh. CLTT kế toán vẫn còn khá
nhiều hạn chế thể hiện ở việc tổ chức TT kế toán

Trang 61

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
chưa được thực hiện có tính hệ thống; nội dung
lạc hậu, trùng lắp; các phương pháp kỹ thuật vận
dụng rất đơn giản, chưa chú ý đến khai thác các
phương tiện, kỹ thuật xử lý TT hiện đại; chưa
tạo được sự kết nối, tính ổn định; báo cáo kế
toán phục vụ quản lý chưa đầy đủ, nội dung còn
đơn giản, mang tính rời rạc; chưa có sự thống
nhất, phân tích sâu sắc về tình hình kinh doanh
cho các công ty, vì vậy, TT do các báo cáo kế
toán mang lại cho nhà quản lý còn hạn chế,…
Bên cạnh đó, các vi phạm nghiêm trọng về tài
chính xảy ra trong thời gian qua đã đặt một câu
hỏi rất lớn về CLTT kế toán, cụ thể là CLTT
trên báo cáo tài chính (BCTC) trong các tổ chức
hiện nay. Xuất phát từ thực trạng trên, việc
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT
trên BCTC là một trong những vấn đề được XH
và các DN quan tâm hiện nay.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám
phá các nhân tố tác động đến CLTT BCTC
trong các DN tại Việt Nam. Các thành phần đo
lường CLTT BCTC và các nhân tố tác động đến
nó rất đa dạng, trong khuôn khổ hạn hẹp của bài
viết này, chúng tôi chỉ xem xét các nhân tố tác
động từ phía bên ngoài DN. Kết quả nghiên cứu
sẽ khẳng định rõ các nhân tố bên ngoài doanh
nghiệp tác động đến CLTT BCTC từ đó tạo cơ
sở cho việc gợi ý một số chính sách, giải pháp
nhằm gia tăng CLTT BCTC của các DN tại Việt
Nam.
2. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Hongjiang Xu & ctg (2003) đã tiến hành
nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố tác động đến
CLTT BCTC trong các DN tại Australia.
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua nhiều
bước. Đầu tiên nhóm tác giả đã tham khảo cơ sở
lý thuyết và các nghiên cứu trước đó thuộc lĩnh
vực thông tin quản lý để rút ra các nhóm nhân tố
tác động đến CLTT. Sau đó các nhóm nhân tố
này được kiểm định lại bằng nghiên cứu định
tính thông qua nghiên cứu tình huống đối với

Trang 62

các nhóm đối tượng bao gồm các đối tượng sản
xuất thông tin kế toán; đối tượng quản lý hệ
thống; đối tượng sử dụng thông tin. Kết quả
phân tích từ nghiên cứu tình huống cho thấy các
nhóm nhân tố về Con người (Đào tạo và huấn
luyện; Vai trò của con người trong kiểm soát),
Hệ thống (Tương tác giữa con người với hệ
thống; Vai trò của hệ thống kiểm soát), Tổ chức
(Cấp trúc, Văn hóa tổ chức) và Nhân tố bên
ngoài (sự thay đổi công nghệ, chính sách,…)
thực sự tác động đến CLTT BCTC. Céline
Michailesco (2010) đã tiến hành tìm hiểu các
nhân tố tác động đến CLTT BCTC của các DN
Pháp trong khoản thời gian từ 1991 - 1995.
Nghiên cứu của Céline Michailesco (2010) được
tiến hành bằng khảo sát trên 100 DN tại Pháp có
thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán
liên tục trong 5 năm. Sau đó tác giả đã tiến hành
phân tích dữ liệu qua hai giai đoạn: phân tích
mô tả định lượng để kiểm tra các mối liên hệ
của các nhân tố được đưa ra từ giả thuyết nghiên
cứu và phân tích khẳng định các mối quan hệ
giữa các nhân tố thông qua mô hình hồi quy
trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình có
R2 giao động từ 10,82% đến 22,13% tùy theo
các năm. Xét trên tổng thể thời gian nghiên cứu
(1991 - 1995) chỉ có hai yếu tố tác động đến
CLTT BCTC là yếu tố niêm yết trên thị trường
chứng khoán trong nước và yếu tố niêm yết trên
nhiều thị trường chứng khoán. Sự phân bố
quyền sở hữu vốn tác động đến CLTT vào các
năm 1993 - 1995; mức độ nợ chỉ tác động đến
CLTT vào năm 1995.
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trước,
chúng tôi nhận thấy rằng các nhân tố tác động
đến CLTT BCTC đa dạng và được phân làm hai
nhóm nhân tố chính: bên trong DN (Đào tạo và
bồi dưỡng; Vai trò của nhà quản trị cấp cao,…)
và bên ngoài DN (Niêm Yết; vai trò của Kiểm
toán độc lập,…). Tuy nhiên những nghiên cứu
về chủ đề này còn khá rời rạc, chưa hình thành
nên khung lý thuyết có tính thuyết phục. Đối với

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam, các tác
giả trước đó chủ yếu mới thực hiện việc kiểm
định các mô hình nghiên cứu đã có trước đó,
chưa tiến hành thực hiện nghiên cứu khám phá
nhằm tăng tính thuyết phục cho các nhân tố
được đề cập trong mô hình. Vì vậy, chúng tôi
xác định mục tiêu của nghiên cứu nhằm khám
phá các nhân tố tác động đến CLTT BCTC
mang tính đặc thù của các DN tại Việt Nam là
cần thiết và sẽ góp phần hoàn thiện lý thuyết về
CLTT BCTC cũng như tạo căn cứ quan trọng
cho việc gia tăng CLTT BCTC trong các DN tại
Việt Nam. Nguyễn Văn Thắng (2013) cho rằng
đối với các nghiên cứu thuộc chủ đề mới hoặc
khung cảnh mới khó có thể áp dụng các luận
điểm và kết quả nghiên cứu trước thì việc vận
dụng nghiên cứu định tính là phù hợp. Xuất phát
từ cơ sở trên, chúng tôi xác định việc lựa chọn
phương pháp nghiên cứu định tính là phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành thu thập dữ liệu và xác định các
nhân tố tác động đến CLTT BCTC, chúng tôi
tiến hành thực hiện quy trình và phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Chọn mẫu thu thập dữ liệu phù hợp với nghiên
cứu.
- Tiến hành thu thập dữ liệu: thông qua nhiều
giai đoạn với những công việc cụ thể:
 Thảo luận nháp: được tiến hành với các với
đối tượng là các Giảng viên chuyên ngành
Kế toán trường ĐH Kinh Tế - Luật với
mong muốn nhận được ý kiến đóng góp về
cách thức thiết kế Dàn bài thảo luận,
phương pháp thảo luận,…
 Thảo luận chính thức: chúng tôi tiến hành
thu thập dữ liệu định tính thông qua thảo
luận chính thức với các đối tượng là đại

diện của Vụ Chế Độ KT Việt Nam; các
chuyên gia là các nhà đầu tư kiêm đảm
trách công việc quản lý KT, trưởng KSNB,
quản lý IT, Giám đốc tại các DN.
 Mã hóa và xác nhận dữ liệu: ý kiến của các
chuyên gia được ghi chép và mã hóa thành
các nhân tố cụ thể.
- Phân tích dữ liệu: dựa trên dữ liệu đã được các
chuyên gia xác nhận, chúng tôi tiến hành phân
tích sâu các dữ liệu của từng tình huống và so
sánh dữ liệu của các tình huống với nhau để xác
định sự tương đồng và khác biệt.
- Xây dựng lý thuyết và so sánh với lý thuyết đã
có: dựa trên kết quả phân tích từ nghiên cứu tình
huống, chúng tôi tiến hành xác định các nhân tố
được khám phá và so sánh lý thuyết của nghiên
cứu với các lý thuyết đã có trước đó, từ đó xác
định khám phá mới của lý thuyết.
 Quy trình chọn mẫu
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn đối
tượng tham gia thảo luận dựa trên tiêu chí về
kiến thức chuyên sâu, kinh nghiệm công việc
KT, kiểm toán được kỳ vọng giúp chúng tôi
khám phá các nhân tố tác động đến CLTT
BCTC trong các DN tại Việt Nam, cụ thể là các
đối tượng hiện phụ trách công tác kế toán, giám
đốc tài chính, phụ trách kiểm soát - kiểm toán
nội bộ trong các doanh nghiệp.
Số lượng mẫu được chúng tôi xác định theo
quan điểm của Gummesson (2000, theo Nguyễn
2011), cụ thể số lượng mẫu được xác định ở
mức thông tin thu thập được hầu như không có
gì khác biệt so với các mẫu trước đó, sau đó tiếp
tục chọn thêm một mẫu nhằm khẳng định điểm
bảo hòa. Nếu không phát hiện thêm thông tin gì
mới thì sẽ ngừng lại. Quy trình chọn mẫu được
minh họa theo hình 1.

Trang 63

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016

Hình 1. Quy trình chọn mẫu lý thuyết cho nghiên cứu tình huống
Đầu tiên chúng tôi chọn đối tượng nghiên
cứu thứ nhất S1- giám đốc DN. Thông qua thảo
luận, chúng tôi xác định được 8 nhân tố tác động
đến CLTT BCTC. Sau đó, chúng tôi tiến hành
thảo luận nhóm với 4 phần tử S2 - Phó phòng kế
toán; S3, S4 - Trưởng KSNB; S5 - Trưởng
phòng kiểm toán DN thuộc Big 4. Qua đó,
chúng tôi bổ sung thêm 2 nhân tố (thứ 9,10).
Tiếp theo, việc thảo luận tay đôi với phần tử S6
- Giám Đốc DN giúp bổ sung thêm 3 nhân tố
mới (thứ 11, 12, 13). Chúng tôi lại thảo luận
nhóm với 4 phần tử S7 - Trưởng IT; S8, S9 - kế
toán trưởng; S10 - Phó phòng kiểm toán DN
ngoài Big 4. Qua đó, chúng tôi bổ sung thêm 1
nhân tố (thứ 14). Tiếp tục thảo luận tay đôi với
phần tử S11 - kế toán trưởngtrường ĐH tại
TPHCM và chúng tôi không phát hiện thêm
được nhân tố mới. Vì vậy, S11 được xác định là
điểm bảo hòa. Để khẳng định điểm bảo hòa,
chúng tôi tiếp tục thảo luận tay đôi với các phần
tử S12 - GV kiêm Giám đốc DN; S13 - GV
kiêm kế toán trưởng; S14 - trưởng phòng DN,
Vụ Chế độ kế toán. Kết quả cho thấy không phát
hiện thêm được nhân tố mới.

Trang 64

Thông qua thảo luận từ phần tử S1 đến S14,
chúng tôi nhận thấy rằng các dữ liệu thu thập
được đã đủ để chúng tôi xác định các nhân tố tác
động đến CLTT BCTC. Tổng kết, thông qua
thảo luận, chúng tôi thu được các kết quả sau:
 Kích thức mẫu cho nghiên cứu tình huống là
n=14. Điểm bảo hòa là S11. Số lượng mẫu
thu thập thỏa mãn điều kiện về số lượng mẫu
đề nghị từ các nhà nghiên cứu trước đó.
 Qua nghiên cứu tình huống, chúng tôi xác
định 14 nh n t tác động đến CLTT BCTC.
Trong số 14 nhân tố này, có những nhân tố
bên ngoài và có những nhân tố bên trong
doanh nghiệp.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Mô tả thông tin nghiên cứu
CLTT trên BCTC đã chọn các phần tử của
mẫu theo các tiêu chí sau: sự đa dạng về quy mô
(vừa và nhỏ) và đa dạng về lĩnh vực kinh doanh.
Phân loại tình huống theo quy mô DN được
minh họa tại hình 2 và theo lĩnh vực hoạt động
được trình bày theo hình 3.

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016

Hình 2. Phân loại tình huống theo quy mô doanh DN
N uồn: Tổn h p t dữ iệu n hi n c u

Hình 3. Phân loại tình huống theo khu vực kinh doanh
nghiên cứu là không đồng nhất, chúng tôi tiến
hành sắp xếp các nhân tố theo tỷ lệ tán thành
của các chuyên gia. Bảng 1 Trình bày chi tiết
các tình huống đã khẳng định các nhân tố tác
động đến CLTT BCTC.

4.2. Xác định các nhân tố ảnh hưởng
Kết quả phân tích cho thấy trong 14 nhân tố
khám phá từ nghiên cứu tình huống, có 6 nhân
tố thuộc nhóm nhân tố bên ngoài được xem là
tác động đến CLTT BCTC. Với lý do là mức độ
phát hiện của các nhân tố từ các tình huống

Bảng 1. Các tình huống đã khẳng định các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp tác động đến CLTT BCTC
TT

Nhân tố khám phá

S1

S2

S3

S4

S5

S6

S7

S8

S9

S
10

S
11

S
12

S
13

S
14

TC

1

14

1

Áp lực từ thuế

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

Niêm yết chứng khoán

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

13

3

Phần mềm Kế toán

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

13

4

Kiểm toán độc lập

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

13

5

Yếu tố chính trị

1

1

1

1

6

Môi trường pháp lý

TC nhân tố (từng phần tử)

4
1

4

5

5

5

5

5

1
4

4

4

4

4

5

2
4

1

N uồn: T c i tổn h p t dữ iệu n hi n c u

Trang 65

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Portfolio Theory & Financial Analyses

Once a company issues shares (common stock) and receives the proceeds, it has no direct involvement with their subsequent transactions on the capital market, or the price at which they are traded. These are matters for negotiation between existing shareholders and prospective investors, based on their own financial agenda.


Tổng quan về ODA ở việt nam trong 15 năm

Tham khảo tài liệu 'tổng quan về oda ở việt nam trong 15 năm', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


One-Parent Family Tax Credit

Basel II will need to be reworked thoroughly, not just tweaked at the margin. Two of the key features of Basel II are that banks can use their own internal models to calculate capital requirements under Pillar 1, and that credit ratings also serve as risk weights in regulatory capital calculations. These internal models typically generate lower capital requirement for (large) US banks. Suffice it to say that all these elements have had their credibility severely damaged by the events of the past eight months. Were UBS and Citigroup using these internal models to guide their asset allocation decisions, including...


Chất lượng dịch vụ tín dụng đối với các hộ sản xuất của Agribank chi nhánh huyện Đồng Hỷ: Thực trạng và giải pháp

Bài viết tập trung phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng đối với các hộ sản xuất (HSX) qua 5 tiêu chí của mô hình SERVQUAL về chất lượng dịch vụ của Parasuraman: Độ tin cậy, sự cảm thông, khả năng đáp ứng, độ bảo đảm và phương tiện hữu hình. Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với hộ sản xuất. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với hộ sản xuất của Agribank chi nhánh huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới.


Bài giảng Hàng hóa - tiền tệ - ThS Lê Minh Tuấn

Bài giảng Hàng hóa - tiền tệ nhằm giúp sinh viên nắm vững khái niệm, điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa để từ đó thấy rõ tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và lượng giá trị của hàng hóa, hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ.


Forex Revolution insider s guide to trading the world stock markets_4

Tham khảo tài liệu 'forex revolution insider s guide to trading the world stock markets_4', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Déjà Vu All Over Again: The Causes of U.S. Commercial Bank Failures This Time Around*

Statistical models were used to control for—i.e., remove—the impact of socioeconomic factors that might account for the correlation between race/ethnicity and credit scores. The inclusion of such controls slightly weakened, but by no means eliminated (or accounted for) the association between minority status and credit scores. Among all such control variables, race/ethnicity proved to be the most robust single predictor of credit scores; in most instances it had a significantly greater impact than education, marital status, income and housing values. It was also the only variable for which a consistent correlation was found across all companies....


Tỉ giá hối đoái và lạm phát

1. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là gì? Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau hoặc cũng có thể coi là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác.


Measuring the long-term perception of monetary policy and the term structure

Preliminary analysis of the data reveals some noteworthy similarities and differences between Chile and the other countries considered. Over this sample period, Chilean interest rates are on average higher, more volatile, and less persistent than the interest rates for the other countries. However, in Chile, the degree of co-movement between retail bank interest rates and the money market rate is essentially the same as in other countries. These “stylized facts” are highlighted in Tables 2 through 5, which report summary statistics for the interest series of all countries considered. Chilean data display the highest sample mean, even in UF terms, while the Netherlands show the lowest average level...


CHƯƠNG 1 - ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ

Mục tiêu: chương 1 được giới thiệu với mong muốn đem lại cho người học một cái nhìn tổng quan về tiền tệ: khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển cũng như chức năng và vai trò của tiền tệ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Từ những kiến thức đạt được,...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu