Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng thương mại: Trường hợp mua chịu vật tư nông nghiệp của hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Bài viết Các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng thương mại: Trường hợp mua chịu vật tư nông nghiệp của hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trình bày Tín dụng thương mại là loại hình tín dụng phổ biến đối với hộ nuôi tôm trong thời gian qua. Tuy nhiên, việc tiếp cận tín dụng thương mại của nông hộ còn bị giới hạn,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 193-202

DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.023

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI:
TRƯỜNG HỢP MUA CHỊU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ NUÔI TÔM TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Trần Thị Huỳnh Lê1*, Nguyễn Thị Mỹ Linh1 và Võ Thành Danh2
1

Khoa Kinh tế - Du lịch, Trường Đại học Kiên Giang
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Trần Thị Huỳnh Lê (tthle@vnkgu.edu.vn)
2

Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 25/04/2017
Ngày nhận bài sửa: 14/10/2017

Ngày duyệt đăng: 28/02/2018

Title:
An analysis of determinants
of access to trade credit: A
case of delayed payments in
purchases of agricultural
materials of shrimp
households in Kien Giang
Province
Từ khóa:
Kiên Giang, nông hộ, tín
dụng thương mại
Keywords:
Kien Giang, households,
trade credit

ABSTRACT
Trade credit in purchasing of agricultural materials by shrimp households was
a type of informal credit that was common in recent years. However, the access
of shrimp households to delayed payments has been still constrained. This study
is aimed at analyzing the determinants of the access to delayed payments and
the amount of delayed payments in purchasing the agricultural materials by
shrimp households in Kien Giang province. The research data were collected
directly from a survey of 313 shrimp households in Kien Giang province in
December 2015. The result of Probit model showed that the determinants of the
delayed payments are the value of agricultural land; the relationship between
the household and the agent; the distance from the household to the agent; the
number of agents in the local areas; average income and amount of loan of
formal credit. In addition, the results of Tobit model showed that the amount of
delayed payments by shrimp farming households in Kien Giang province
depends on determinants such as value of agricultural land; the distance from
the household to the agent; the number of agents in the local; the relationship
between the households and the agent; the amount of loan of formal credit and
the householders’ experience in shrimp farming.

TÓM TẮT
Tín dụng thương mại là loại hình tín dụng phổ biến đối với hộ nuôi tôm trong
thời gian qua. Tuy nhiên, việc tiếp cận tín dụng thương mại của nông hộ còn bị
giới hạn. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích các yếu tố quyết định khả
năng tiếp cận và lượng tiền mua chịu vật tư nông nghiệp của các hộ nuôi tôm
ở tỉnh Kiên Giang. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trực tiếp từ
313 hộ nuôi tôm tỉnh Kiên Giang vào tháng 12 năm 2015. Kết quả mô hình
Probit cho thấy việc tiếp cận tín dụng dưới hình thức mua chịu vật tư nông
nghiệp của hộ chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: giá trị đất nông nghiệp;
khoảng cách từ nông hộ nuôi tôm đến đại lý vật tư; thời gian quen biết với đại
lý vật tư; số lượng đại lý vật tư nông nghiệp ở địa phương; thu nhập bình quân
và lượng tiền vay chính thức của hộ nuôi tôm. Bên cạnh đó, kết quả mô hình
Tobit cho thấy lượng tiền mua trả chậm chịu tác động của các yếu tố: giá trị
đất nông nghiệp; khoảng cách từ nông hộ đến đại lý vật tư; số lượng đại lý vật
tư nông nghiệp trong địa bàn; thời gian quen biết với đại lý vật tư nông nghiệp
ở địa phương; lượng tiền vay chính thức và số năm kinh nghiệm trong nghề
nuôi tôm của chủ hộ.

Trích dẫn: Trần Thị Huỳnh Lê, Nguyễn Thị Mỹ Linh và Võ Thành Danh, 2018. Các yếu tố tác động đến khả
năng tiếp cận tín dụng thương mại: Trường hợp mua chịu vật tư nông nghiệp của hộ nuôi tôm trên
địa bàn tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(1D): 193-202.
193

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 193-202

trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” là cần thiết nhằm: (1)
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp
cận tín dụng thương mại dưới hình thức mua chịu
VTNN của các hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang; (2) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lượng
tiền mua chịu VTNN của nông hộ nuôi tôm trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang; (3) Đưa ra một số hàm ý chính
sách nhằm góp phần nâng cao khả năng được chấp
nhận cho mua chịu và các giải pháp làm tăng lượng
tiền mua chịu VTNN đối với những hộ có nhu cầu.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính
sách hỗ trợ vốn nhằm giúp đỡ hộ nông dân tỉnh Kiên
Giang nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời
sống. Tuy nhiên, một thực trạng chung là hầu như
các hộ thuộc diện được hỗ trợ luôn gặp khó khăn
trong vấn đề tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức
tín dụng chính thức trên địa bàn. Trong điều kiện đó,
mua chịu vật tư nông nghiệp (VTNN) đã mở ra một
cơ hội quý báu cho các nông hộ, giúp họ nhanh
chóng có ngay vật tư để phục vụ cho hoạt động sản
xuất mà không cần phải vay ở bất kỳ một tổ chức tín
dụng nào khác. Hình thức mua chịu ra đời như một
nhu cầu tất yếu, đây là hình thức thanh toán trả chậm
dựa trên lòng tin giữa người mua và người bán. Hoạt
động mua bán chịu giúp cho người mua có thể mua
nhiều hàng hóa hơn số vốn sẵn có cũng như giúp
người bán sẽ bán được hàng hóa với số lượng nhiều
hơn bình thường, tránh tình trạng tồn kho, mặt khác
có thể bán được giá cao hơn do lãi suất thỏa thuận
giữa hai bên trong thanh toán. Mua chịu VTNN
ngoài việc giúp nông hộ không phải trả lãi cao khi
vay tín dụng đen, nó còn khuyến khích họ chăm lo
vào hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng nông
sản, tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Mua
bán chịu trong các giao dịch thương mại được xem
là một trong những hình thức tín dụng phi chính
thức, nhưng nếu xét về hiệu quả mang lại thì ta thấy
hoạt động mua chịu góp phần bổ sung cho thị trường
tín dụng chính thức. Qua kết quả khảo sát thực tế
của tác giả trong năm 2015 cho thấy không phải ai
có nhu cầu mua chịu cũng được chấp thuận, mặc dù
người mua chịu phải trả giá cao hơn so với mua bằng
tiền mặt. Nếu như nông hộ không tiếp cận được các
tổ chức tín dụng chính thức và cũng không được
chấp nhận cho mua chịu vật tư thì nông hộ sẽ rơi vào
tình trạng không có vốn để sản xuất do đó không thể
khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai cũng như các
nguồn lực khác để làm tăng thu nhập, dẫn đến tình
trạng một số nông hộ phải chuyển nghề hoặc bỏ đất
hoang từ đó sinh ra lãng phí và đói nghèo. Ở Việt
Nam, hình thức mua chịu vật tư nông nghiệp là hình
thức tín dụng thương mại khá phổ biến ở các vùng
nông thôn và đã được tìm thấy qua thực nghiệm
nghiên cứu của Phan Đình Khôi (2013), Trần Ái Kết
(2014) ở các địa phương ĐBSCL. Từ những nghiên
cứu trên cho thấy hình thức mua bán chịu hiện đang
rất phổ biến tại các vùng nông thôn, tuy nhiên hiện
nay chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến hình
thức tiếp cận tín dụng này trên đối tượng hộ nuôi
tôm ở địa bàn tỉnh Kiên Giang. Từ thực tiễn trên cho
thấy việc thực hiện nghiên cứu “Phân tích các yếu
tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng thương
mại trường hợp mua chịu VTNN của hộ nuôi tôm

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
Selima (2007) chỉ ra rằng khả năng tiếp cận tín
dụng thương mại có thể được giải thích thông qua lý
thuyết tài chính và lý thuyết thông tin bất đối xứng.
Getachew et al. (2013) cho rằng việc tiếp cận tín
dụng thương mại được giải thích thông qua lý thuyết
tài chính, lý thuyết marketing, lý thuyết chi phí giao
dịch và lý thuyết thanh khoản. Đối với lý thuyết
thanh khoản bản chất là phần mở rộng của lý thuyết
tài chính. Lý thuyết về tính thanh khoản giải thích
tại sao các doanh nghiệp hay các khách hàng bị hạn
chế tín dụng và những khách hàng có dòng thu nhập
trong hoạt động sản xuất kinh doanh âm sử dụng tín
dụng thương mại nhưng không giải thích được như
lý thuyết tài chính lý do tại sao ngay cả các khách
hàng lớn, không bị bất kỳ ràng buộc nào về tài chính
cũng sử dụng tín dụng thương mại.
Thông qua thực tiễn nghiên cứu ở địa phương và
trên cơ sở kế thừa lý luận từ những nghiên cứu trong
nước trước đây, nghiên cứu này sẽ trình bày cụ thể
4 lý thuyết sau: Lý thuyết tài chính; Lý thuyết thông
tin bất đối xứng; Lý thuyết Marketing; Lý thuyết chi
phí giao dịch.
2.1.1 Lý thuyết tài chính
Lý thuyết tài chính cho rằng các khách hàng
không thể tiếp cận đến các khoản vay ngân hàng sẽ
có nhu cầu cao hơn đối với tín dụng thương mại, vì
nó có thể là một nguồn tài chính ngắn hạn quan trọng
(Petersen and Rajan, 1997; Huyghebaert, 2006).
Các khoản vay ngân hàng và tín dụng thương mại
được coi là nguồn tài chính thay thế lẫn nhau. Quan
điểm đối lập khác xem tín dụng thương mại và vay
ngân hàng là hai nguồn tài chính bổ sung cho nhau
(Chant and Walker, 1988; McMillan and Woodruff,
1999). Khách hàng có thể sử dụng tín dụng thương
mại nhiều hơn ngay cả khi họ có khả năng tiếp cận
với tín dụng ngân hàng khi đó tín dụng ngân hàng sẽ
được sử dụng cho việc mở rộng nguồn vốn kinh
doanh như mua tài sản và tín dụng thương mại để sử
dụng cho việc mua hàng hoá.

194

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 193-202

yếu tố quan trọng để người mua sử dụng số VTNN
đúng mục đích, qua đó giúp đảm bảo khả năng trả
nợ của nông hộ. Bên cạnh giá trị đất nông nghiệp có
thể được coi là tài sản đảm bảo giúp người bán bù
đắp tổn thất bằng cách cưỡng đoạt trong trường hợp
người mua không trả nợ (Burkart and Ellingsen,
2004; Fatoki and Odeyemi, 2010; Lê Khương Ninh
và Cao Văn Hơn, 2013).

2.1.2 Lý thuyết marketing
Lý thuyết marketing cho rằng trong một môi
trường có nhiều nhà cung cấp, khách hàng có thể
chuyển đổi dễ dàng nếu như nhà cung ứng không có
biện pháp khuyến khích để duy trì những khách
hàng của họ (Fisman and Raturi, 2004). Việc cung
cấp tín dụng thương mại có thể xem là một công cụ
dùng để giữ chân khách hàng. Ủng hộ quan điểm
này Pike and Cheng (2003) trong nghiên cứu liên
quan đến Lý thuyết marketing đã định rõ tầm quan
trọng của áp lực cạnh tranh trên thị trường như một
lý do để nhà cung ứng sẵn sàng cung cấp tín dụng
thương mại cho các khách hàng.
2.1.3 Lý thuyết thông tin bất đối xứng

Thu nhập bình quân: Các hộ có thu nhập cao dễ
dàng được chấp nhận cho mua chịu hơn (khi có nhu
cầu) bởi thường được xem là có khả năng trả nợ tốt
hơn và có nhiều uy tín hơn (Burkart and Ellingsen,
2004; Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013).
Những người có thu nhập cao thường có điều kiện
tạo lập mối quan hệ xã hội rộng rãi do vậy khả năng
thu thập thông tin về họ cũng sẽ dễ dàng hơn. Bên
cạnh, thu nhập cũng là một trong những tiêu chí
đánh giá chất lượng cũng như uy tín người mua,
những hộ có thu nhập cao thường khả năng không
trả nợ thấp.

Lý thuyết thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng
người bán không hiểu rõ khách hàng như chính bản
thân họ nên khó có thể phân biệt khách hàng này với
khách hàng khác, nhất là về phương diện rủi ro. Tín
dụng thương mại được xem là một giải pháp cho các
vấn đề của thông tin bất đối xứng trong các giao dịch
tín dụng chính thức. Theo Stiglitz and Weiss (1981),
hạn chế tín dụng là do sự bất đối xứng về thông tin:
rủi ro đạo đức và lựa chọn sai lầm. Biais and Gollier
(1997) sử dụng sự lựa chọn sai lầm để phát triển một
mô hình sử dụng lợi thế thông tin của tín dụng
thương mại. Trong bối cảnh nghiên cứu, các tác giả
cho rằng các nhà cung ứng có thể tiếp cận thông tin
về các khách hàng với mức chi phí thấp hơn ngân
hàng làm bởi vì nhà cung ứng thường nắm bắt thị
trường và sản phẩm tốt hơn các ngân hàng, lợi thế
này cho phép họ chọn những khách hàng có uy tín
tín dụng trong việc cấp tín dụng thương mại
(Petersen and Rajan, 1997).
2.1.4 Lý thuyết chi phí giao dịch

Độ dài thời gian quen biết: Thể hiện được phẩm
chất của người mua. Thông qua độ dài thời gian
quen biết các đại lý sẽ đánh giá được phẩm chất tốt
xấu của người mua. Trong các nghiên cứu của
Fatoki and Odeyemi (2010); Hermes et al. (2012);
Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn (2013);
Getachew et al. (2013); Trần Ái Kết và Nguyễn
Thành Tích (2014) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực
giữa khả năng chấp nhận mua chịu với độ dài thời
gian quen biết giữa người mua và người bán. Nếu
thời gian quen biết càng dài thì hai bên càng hiểu rõ
về nhau, vì vậy hiện tượng thông tin bất đối xứng
được giảm thiểu và người mua sẽ dễ được chấp
thuận cho mua chịu hơn.
Khoảng cách địa lý giữa người bán và người
mua: Thể hiện mức độ gần gũi về khoảng cách địa
lý giữa người bán và người mua. Thông thường, nếu
sống càng gần người bán thì người mua sẽ ít có động
cơ không trả nợ vì ở nông thôn những hộ sống gần
nhau thường sẽ gần gũi và gắn bó với nhau hơn do
tình nghĩa xóm làng, bè bạn hay huyết thống. Do đó,
khoảng cách địa lý giữa người bán và người mua là
yếu tố giúp người bán củng cố thêm thông tin về
khách hàng của họ (Fatoki and Odeyemi, 2010; Lê
Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013).

Schwart (1974) chỉ ra rằng tín dụng thương mại
là phương pháp giảm thiểu chi phí giao dịch, vì
khách hàng không phải thanh toán nhiều lần theo số
lần mua hàng hóa dịch vụ mà họ sẽ tích hợp các
khoản chi trả theo định kỳ, do đó giảm được chi phí
giao dịch. Cung cấp tín dụng thương mại là công cụ
tốt nhất của nhà cung ứng trong việc kích thích
người mua hàng thường xuyên hơn như vậy sẽ làm
giảm thiểu hàng tồn kho cũng như chi phí bảo quản
(Burkart and Ellingsen,2004).
2.2 Lý luận các yếu tố tác động đến tín
dụng thương mại

Lượng vay chính thức: Các nghiên cứu trong Lý
thuyết tài chính của Burkart and Ellingsen (2004);
Fabbri and Menichini (2010) cho thấy có mối quan
hệ nhất định giữa vay tín dụng chính thức với hoạt
động mua chịu. Theo đó, các đối tượng tham gia vay
tín dụng chính thức sẽ dễ dàng được chấp nhận cho
mua chịu khi có nhu cầu bởi thường được xem là có
uy tín tín dụng. Hơn nữa, lượng vay tín dụng chính
thức và hàng hóa mua chịu sẽ bổ sung cho nhau để

Giá trị đất nông nghiệp: Giá trị đất nông nghiệp
là yếu tố cơ bản quyết định khả năng mua chịu của
nông hộ. Để đánh giá năng lực trả nợ của người mua,
người bán thường căn cứ vào giá trị đất sản xuất
nông nghiệp, giá trị đất nông nghiệp càng cao nghĩa
là diện tích đất càng lớn. Khi đó, họ sẽ dễ dàng mở
rộng quy mô sản xuất, nâng cao thu nhập. Đất đai là
195

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 193-202

cầu mua chịu thì sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn so
với các hộ mới tham gia.

làm tăng tính hiệu quả của sản xuất Lê Khương Ninh
và Cao Văn Hơn (2013). Nghiên cứu của Trần Ái
Kết và Nguyễn Thành Tích (2014) cho thấy trang
trại bị giới hạn tín dụng ngân hàng có khả năng sử
dụng tín dụng thương mại cao hơn.

Giới tính của chủ hộ: Getachew et al. (2013)
cho rằng có sự khác biệt về khả năng mua chịu giữa
chủ hộ là nam và chủ hộ là nữ, đối với chủ hộ là nam
thì khả năng tiếp cận hình thức mua chịu dễ dàng
hơn so với chủ hộ là nữ. Do chủ hộ là nam có khả
năng giao tiếp cũng như thương lượng với người bán
tốt hơn nữ, vì vậy khả năng chấp nhận cho mua chịu
của người bán sẽ cao. Do vậy, giới tính cũng sẽ ảnh
hưởng đến hoạt động mua chịu của nông hộ.

Thời gian sống tại địa phương: Những người
có thời gian sống lâu năm ở địa phương cũng dễ
được chấp nhận cho mua chịu vì người bán có nhiều
thông tin hơn về họ để thẩm định năng lực và ý định
trả nợ cũng như có nhiều thời gian hơn để xây dựng
mối quan hệ thân tình mang tính chất ràng buộc, các
hộ sống càng lâu ở địa phương thì khả năng di cư
cũng thấp hơn, điều này góp phần bảo đảm hơn cho
quyết định bán chịu. Thời gian sinh sống ở địa
phương là một thông tin quan trọng giúp người bán
đánh giá và chọn lọc đúng về người mua để có thể
giảm thiểu rủi ro cho mình (Lê Khương Ninh và Cao
Văn Hơn, 2013).

Trình độ học vấn của chủ hộ: Fatoki and
Odeyemi (2010) cho rằng trình độ học vấn có ảnh
hưởng tích cực đến khả năng mua chịu của khách
hàng, người mua có trình độ học vấn cao khi đó khả
năng thương lượng cũng như giao tiếp với người bán
cũng sẽ cao; hơn nữa những hộ có trình độ học vấn
cao có khả năng quản lý tài chính cũng như quản lý
hoạt động sản xuất tốt hơn; bên cạnh những chủ hộ
có học vấn cao thường tiếp cận với nhiều nguồn
thông tin phục vụ cho quá trình canh tác tốt hơn, vì
thế hiệu quả sản xuất cũng được cải thiện hơn và họ
sẽ dễ dàng mua chịu hơn.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu

Số nhân khẩu trong gia đình: Hermes et al.
(2012) cho rằng số thành viên trong gia đình càng
đông thì chủ hộ có nhiều khả năng mua chịu hơn
những hộ có ít thành viên hơn. Tính chất về nhân
khẩu của hộ gia đình ở nông thôn thường đông về số
lượng, vì vậy gia đình càng đông nhân khẩu thì chi
tiêu cũng tăng theo. Đặc biệt, đối với các gia đình có
tỷ lệ phụ thuộc cao, chi tiêu tăng dẫn đến vốn đầu tư
giảm, khi đó nhu cầu nhận tài trợ vốn cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp tăng lên, điều này làm tăng
khả năng mua chịu của hộ.

Trong nghiên cứu này, phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên đơn giản được sử dụng, cỡ mẫu được xác
định dựa theo nghiên cứu của Tabachnick and Fidell
(2007) với n và m lần lượt là cỡ mẫu và số biến độc
lập khi đó ta có công thức xác định như sau:

Mức độ cạnh tranh của thị trường: Lý thuyết
marketing cho rằng khi thị trường không cạnh tranh
thì người bán hầu như không muốn bán chịu cho
khách hàng của mình vì họ không cần phải làm điều
đó, nhưng trường hợp thị trường quá nhiều nhà cung
cấp thì người mua sẽ có nhiều sự lựa chọn, họ sẽ dễ
dàng tìm thấy nguồn tài trợ từ người bán khi đó bán
chịu như một hình thức quảng cáo thương hiệu của
người bán trên thị trường nhằm mở rộng thị phần và
uy tín với khách hàng và mục tiêu nhà cung cấp tín
dụng thương mại hướng đến là tạo mối quan hệ lâu
dài với khách hàng của mình (Fisman and Raturi,
2004).

n ≥ 50 + 8m
Như vậy, với 11 biến độc lập cỡ mẫu cần thu
thập ít nhất là 138 quan sát.
2.3.2 Đối tượng khảo sát và phương pháp
chọn vùng nghiên cứu
 Đối tượng khảo sát và phương pháp chọn
vùng nghiên cứu: Là các hộ nuôi tôm có tham gia
mua chịu vật tư nông nghiệp vùng ven biển tỉnh
Kiên Giang thời gian tháng 12/2015.
 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu: Dựa
vào Niên giám Thống kê 2015 và lựa chọn những
địa bàn có mật độ cũng như diện tích nuôi tôm cao
nhất trong các huyện ven biển làm địa bàn nghiên
cứu cho đề tài. Cụ thể, tổng diện tích nuôi tôm ở 3
huyện An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận là 80.304
ha, chiếm 81,32% tổng diện tích nuôi tôm toàn tỉnh
Kiên Giang năm 2015; từ kết quả thống kê trên chọn
3 huyện An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận làm địa
bàn nghiên cứu.

Kinh nghiệm sản xuất: Là số năm hoạt động
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, yếu tố này được
tìm thấy trong nghiên cứu của Fatoki and Odeyemi
(2010). Đối với ngành nông nghiệp kinh nghiệm sản
xuất là số năm nông hộ tham gia hoạt động sản xuất
nông nghiệp, số năm kinh nghiệm càng dài thì năng
suất sản xuất có thể tăng làm tăng hiệu quả hoạt
động. Hơn nữa, các hộ kinh nghiệm nhiều thường có
thu nhập ổn định nên họ tích lũy được nhiều tài sản
vì vậy rủi ro mất vốn sẽ giảm, do đó khi họ có nhu

196

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 193-202

Bảng 1: Cơ cấu mẫu nghiên cứu và số quan sát cho từng khu vực
Huyện
An Minh
Trong đó:

Thị trấn/Xã
Đông Hòa
Thuận Hòa
Vân Khánh

An Biên
Trong đó:
Đông Thái
Đông Yên
Nam Yên
Vĩnh Thuận
Trong đó:
Tân Thuận
Vĩnh Bình Nam
Vĩnh Phong
Tổng số

Số hộ

Số hộ được phỏng vấn

Tỷ trọng

7.400

151

0,48

3.612
2.273
1.515

72
47
32

0,23
0,15
0,10

2.029

41

0,13

1.021
476
532

23
9
9

0,07
0,03
0,03

5.980

120

0,39

2.984
1.134
1.862
15.409

60
23
38
313

0,19
0,07
0,12
1,00

Nguồn: Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện An Minh, An Biên, Vĩnh thuận, 2015

2.3.3 Phương pháp phân tích

Mô hình Probit
Mô hình Probit được trình bày như sau:
Yi = β + β X + u
Trong đó: biến phụ thuộc Yi nhận giá trị bằng 1
nếu hộ có mua chịu, và nhận giá trị 0 nếu hộ không
mua chịu. Xi là biến độc lập có ảnh hưởng đến khả
năng nhận được nguồn tín dụng thương mại của hộ
nuôi tôm, β là tung độ góc, u là sai số mô hình.

Để xác định các yếu tố tác động đến xác suất
nông hộ được chấp nhận cho mua chịu VTNN của
hộ nuôi tôm, nghiên cứu sử dụng mô hình Probit và
tiếp theo sử dụng mô hình hồi quy Tobit để phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền được các cửa
hàng VTNN chấp nhận bán chịu cho hộ nuôi tôm
trong địa bàn.

Bảng 2: Ý nghĩa của các biến độc lập và kỳ vọng về dấu
Tên biến
GIOITINH
SODAILY
GIATRIDATNN
THUNHAP
TGSONGDP
TGQUENBIET
KHOANGCACH
LUONGCT
KINHNGHIEM
HOCVAN
SONHANKHAU

trong mô hình Probit

Ý nghĩa của biến số
Giới tính chủ hộ (= 1 là nam, = 0 là nữ)
Số lượng đại lý vật tư nông nghiệp trong địa bàn (số đại lý)
Giá trị đất nông nghiệp của hộ (triệu đồng)
Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/người/năm)
Thời gian sống ở địa phương của hộ nuôi tôm (năm)
Thời gian hộ nuôi tôm quen biết với đại lý vật tư nông nghiệp
Khoảng cách từ hộ nuôi tôm đến đại lý vật tư nông nghiệp (km)
Lượng tiền vay tín dụng chính thức của hộ (triệu đồng)
Số năm nông hộ tham gia nuôi tôm (năm)
Học vấn của chủ hộ (lớp)
Số thành viên trong gia đình (người)

Kỳ vọng
+
+
+
+
+
+
+
+
+

Ghi chú: Dấu (-) thể hiện quan hệ ngược chiều, dấu (+) thể hiện quan hệ cùng chiều giữa biến độc lập so với biến phụ
thuộc

Mô hình Tobit

Trong đó: Y là biến độc lập thể hiện lượng tiền
mua chịu trong năm 2015 của hộ nuôi tôm, biến X là
biến độc lập có ảnh hưởng đến lượng tiền mua chịu
của hộ nuôi tôm, u là sai số mô hình hồi quy.

Mô hình Tobit được trình bày như sau:
y

y ∗ βx u nếu y ∗
0 nếu y ∗

0
                với
0

ui in(0, 2 )  

197

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Báo cáo tốt nghiệp “Quản lý nợ xấu tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”

Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều trọng yếu. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn khả...


Lecture Money, banking, and financial markets (3/e): Chapter 13 - Stephen G. Cecchetti, Kermit L. Schoenholtz

Chapter 13 - Financial industry structure. In this chapter, students will be able to understand: The United States has a comparatively large but declining number of banks, nondepository institutions are playing an increasingly important role in the financial system. Five types of financial intermediary may be classified as nondepository institutions.


Bài giảng Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại: Chương 1 (31tr)

Bài giảng Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại: Chương 1 trình bày tổng quan về Ngân hàng thương mại như Ngân hàng thương mại là gì, chức năng ngân hàng thương mại, phân loại ngân hàng thương mại, nghiệp vụ ngân hàng thương mại và các nội dung khác.


Tài liệu Kế toán ngân hàng

Tài liệu "Kế toán ngân hàng" gồm 8 chương nhằm giúp bạn nắm bắt các kiến thức tổng quan về kế toán ngân hàng, báo cáo tài chính trong các ngân hàng thương mại, kế toán nghiệp vụ ngân quỹ,...


Bài giảng Tổng quan tài chính-tiền tệ - PGS.TS. Sử Đình Thành

Cùng nắm kiến thức trong bài giảng "Tổng quan tài chính-tiền tệ" thông qua việc tìm hiểu các nội dung sau: giới thiệu tổng quan, hệ thống hóa các lý thuyết tài chính-tiền tệ, thực tiễn phát triển lĩnh vực tài chính-tiền tệ, thực tiễn phát triển lĩnh vực tài chính-tiền tệ ở Việt Nam, hội nhập và toàn cầu tài chính.


Những thành công trong tổ chức tín dụng nông nghiệp - nông thôn và một số khuyến nghị

Bài viết thành công trong tổ chức tín dụng nông nghiệp - nông thôn và một số khuyến nghị nêu lên những đổi mới chủ yếu về cơ chế tín dụng đối với NN NT và hộ sản xuất; đổi mới cơ chế chính sách cho vay hiện nay và một số nội dung khác.


Bài giảng Tài chính tiền tệ: Chương 4 - ĐH Hoa Sen

Chương 4 Tín dụng thuộc bài giảng tài chính tiền tệ nhằm trình bày về các nội dung chính: sự ra đời và phát triển của tín dụng, khái niệm và bản chất tín dụng, vai trò và chức năng của tín dụng, các hình thức của tín dụng, sự vay mượn giữa hai chủ thể kinh tế.


CHƯƠNG 3. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Tổ chức tín dụng (TCTD) là một doanh nghiệp được thành lập theo Luật Các Tổ chức tín dụng và các qui định khác của pháp luật để thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.


Khi tín dụng tăng trưởng thấp là... lựa chọn

Hoảng hốt vì lệch pha? Tuần qua, một số thông tin bình luận bày tỏ lo ngại khi có lệch pha quá lớn giữa huy động và cho vay tiếp tục thể hiện sau 9 tháng. Tốc độ huy động tăng trưởng gấp cả chục lần tốc độ tăng tín dụng, các ngân hàng như “thùng không đáy”, vốn huy động tăng mạnh mà chảy đi đâu, chảy vào “sân sau”… Theo quan điểm của người viết, đó là góc nhìn sai lầm về cân đối vốn huy động và cho vay hiện nay. Thậm chí, diễn biến được cho là “lệch...


Nội dung một bức thư tín dụng - L/ C

là một văn bản do một NH phát hành theo yêu cầu của KH (người nhập khẩu) cam kết trả một số tiền nhất định trong một thời hạn nhất định cho người thụ hưởng (người xuất khẩu) khi người này xuất trình được một bộ chứng từ hợp lệ với các yêu cầu của thư tín dụng


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Xác định nhu cầu xin vay
  • 11/11/2009
  • 24.916
  • 256
Are Government Bonds Net Wealth?
  • 12/01/2013
  • 59.521
  • 465
Nợ xấu khó xử lý, vì sao?
  • 15/12/2012
  • 43.989
  • 638

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu