Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Các yếu tố ảnh hưởng đến hội nhập tài chính khu vực Đông Nam Á (ASEAN)

Bài viết này phân tích và kiểm nghiệm các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập thị trường tài chính ở khu vực ASEAN như quy mô quốc gia, kiểm soát vốn, trình độ phát triển, sự phát triển của thị trường tài chính, môi trường chính trị và đầu tư và độ mở thương mại.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016

Các yếu tố ảnh hưởng đến hội nhập tài
chính khu vực Đông Nam Á (ASEAN)


Nguyễn Hoàng Anh

Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: anhnh@uel.edu.vn
(Bài nhận ngày 17 tháng 01 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 20 tháng 02 năm 2016)

TÓM TẮT
Hội nhập tài chính ASEAN từ năm 2015 sẽ
tạo điều kiện tự do hóa dịch vụ tài chính, tự do
hóa tài khoản vốn, phát triển thị trường vốn và
xây dựng hệ thống thanh toán chung. Hợp tác
tài chính xuyên quốc gia chịu tác động từ nhiều
yếu tố và đòi hỏi sự nỗ lực chuẩn bị của các
quốc gia thành viên. Bài viết này phân tích và
kiểm nghiệm các yếu tố có khả năng ảnh hưởng
đến tiến trình hội nhập thị trường tài chính ở

khu vực ASEAN như quy mô quốc gia, kiểm soát
vốn, trình độ phát triển, sự phát triển của thị
trường tài chính, môi trường chính trị và đầu tư
và độ mở thương mại. Kết quả phân tích thành
phần chính (PCA) cho thấy yếu tố quyết định
chính của hội nhập tài chính khu vực bao gồm
thu nhập quốc gia, môi trường chính trị và đầu
tư, mức độ kiểm soát vốn và sự phát triển của
thị trường tài chính.

Từ khóa: Hội nhập tài chính, khu vực ASEAN, thị trường tài chính, phân tích thành phần chính.

1. GIỚI THIỆU
Hội nhập tài chính là việc gỡ bỏ các “hàng
rào” giữa các quốc gia đối với các tổ chức ngoại,
hướng tới dễ dàng tiếp cận vốn, chi phí huy
động vốn thấp, gia tăng đầu tư, ổn định vĩ mô và
tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn. Hội nhập các
thị trường tài chính cũng giúp phân bổ vốn hiệu
quả hơn. Hội nhập tài chính mở ra cơ hội cho
các định chế tài chính mở rộng quy mô hoạt
động và tạo điều kiện tài trợ vốn cho các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng cấp quốc gia và góp
phần giảm nghèo đói (De Nicolo & Ivaschenko,
2008). Hơn nữa, việc hội nhập cũng giúp nâng
cấp hạ tầng tài chính, tăng cường hiệu quả hoạt
động và thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngân hàng
và các trung gian tài chính phi ngân hàng.
Hội nhập tài chính diễn ra ở nhiều khu vực
trên toàn cầu, điển hình là khu vực EU, Latin
America, khu vực Caribbe, khu vực Nordic-

Trang 16

Baltic, khu vực Nam Á và khu vực Trung Đông.
Với riêng khu vực Đông Nam Á, Cộng đồng
Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập cuối
2015 sẽ đánh dấu một cột mốc quan trọng trong
quá trình hội nhập ASEAN. Công cuộc hội nhập
tài chính ở khu vực Đông Nam Á không đơn
giản bởi nơi đây quy tụ nhiều quốc gia với quy
mô khác nhau, thể chế chính trị khác nhau và
tốc độ phát triển kinh tế hoàn toàn khác biệt.
Tuy vậy, những quốc gia trong khu vực cũng có
nhiều điểm tương đồng về văn hóa và sự gần gũi
về mặt lịch sử.
Thương mại giữa các nước thành viên
ASEAN hiện đã gia tăng đáng kể, từ 156 tỷ
USD năm 2005 lên 480 tỷ USD năm 2011, đóng
góp khoảng 24% vào tổng kim ngạch thương
mại của ASEAN năm 2011. Thương mại giữa
ASEAN với châu Á cũng tăng mạnh. Hiện
Trung Quốc đã vượt qua Liên minh châu Âu

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
(EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất
của ASEAN. Các nhà đầu tư nước ngoài, đặc
biệt là các nhà đầu tư đến từ khu vực châu Á,
cũng đang hướng đến các quốc gia như
Indonesia, Việt Nam. Để hoạt động thương mại
nội vùng phát triển và ổn định, một trong những
điều kiện tiên quyết chính là môi trường tài
chính mang tính hợp tác thông qua hợp tác tiền
tệ và trao đổi tri thức nhằm hướng tới hội nhập
kinh tế ở mức độ cao hơn. Sự cần thiết của việc
hợp tác tài chính nội vùng đã được nhiều nghiên
cứu nhắc đến (Chandra & Kumar, 2008). Bài
viết trả lời câu hỏi: Những yếu tố nào ảnh hưởng
đến hội nhập tài chính ở khu vực ASEAN?
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số các
yếu tố liên quan đến kinh tế, chính trị, hoạt động
thương mại thì môi trường chính trị và đầu tư,
kiểm soát vốn, mức độ phát triển kinh tế nói
chung và tài chính nói riêng là các yếu tố quan
trọng có ảnh hưởng đến hợp tác tài chính
ASEAN. Kết quả phân tích củng cố quan điểm
cho rằng các quốc gia hòa bình, “cởi mở”, tạo
điều kiện thuận lợi kinh doanh và đầu tư sẽ hội
nhập tài chính nhiều hơn. Kết quả này tương tự
với phân tích của các nghiên cứu trước đó: ổn
định chính trị và sự phát triển kinh tế là các yếu
tố quyết định hội nhập tài chính (Võ & Daly,
2007; Wakemann-Linn & Wagh, 2008). Vì các
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng hội nhập
tài chính ở khu vực ASEAN hầu như còn bỏ ngỏ,
do đó bài viết có những đóng góp nhất định về
lý thuyết về hội nhập tài chính khu vực.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn đã chỉ
ra rằng hội nhập tài chính chịu tác động bởi
nhiều yếu tố. Wakeman-Linn & Wagh (2008)
cho rằng thương mại nội vùng hạn chế, sự kém
phát triển về hạ tầng cơ sở (kinh tế và tài chính),
sự yếu kém trong quản lý và hệ thống luật lệ sẽ
cản trở hoạt động hội nhập khu vực. Theo
Garcia và Woolridge (2007), ba yếu tố có khả

năng thúc đẩy hội nhập tài chính bao gồm sự
phát triển trong hoạt động truyền thông và công
nghệ, sự tự do hoá khu vực tài chính và sự tiêu
chuẩn hoá và hài hoà của các tiến trình, thủ tục
phù hợp với luật lệ và hành xử quốc tế.
Bài viết này, tôi áp dụng kết quả nghiên cứu
của Võ & Daly (2007) và kiểm nghiệm các yếu
tố cho là có ảnh hưởng đến hội nhập tài chính
khu vực: chính sách kiểm soát vốn, trình độ phát
triển kinh tế, mức độ phát triển thị trường tài
chính, tăng trưởng kinh tế, môi trường chính trị
và đầu tư và độ mở hoạt động thương mại.
2.1. Kiểm soát vốn
Kiểm soát vốn là một phương sách của chính
sách tiền tệ mà chính phủ quốc gia sử dụng để
điều chỉnh định hướng dòng vốn vào và dòng
vốn ra ở quốc gia mình cũng như để kiểm soát
dòng tiền tệ (IMF 2010). Việc gỡ bỏ hoặc nới
lỏng các biện pháp kiểm soát vốn được kỳ vọng
sẽ dẫn tới tăng cường hoạt động hợp tác tài
chính và ngược lại. Tuy nhiên, hiện nay chúng
ta chưa có các thước đo tốt về mức độ kiểm soát
vốn của các quốc gia. Khá nhiều nghiên cứu sử
dụng chỉ tiêu 'Thoả thuận trao đổi và hạn chế
giao dịch' (Exchange Arrangements and
Exchange Restrictions (AREAER)) trong báo
cáo thường niên của IMF để đo lường mức độ
kiểm soát vốn các nước. Một chỉ tiêu khác đo
lường kiểm soát vốn chính là 'độ tự do kinh tế'
(economic freedom) trong đó có tính đến mức
độ tự do đầu tư (investment freedom). Chỉ tiêu
này do tổ chức Heritage Foundation xây dựng
nhằm đo lường mức độ tự do kinh tế mà một cá
nhân được phép làm việc, sản xuất, tiêu dùng và
đầu tư không bị giới hạn bởi chính phủ nước đó1.

1

Chỉ số này dao động từ 0-100 trong đó 100 thể hiện mức độ
tự do cao nhất và 0 là thấp nhất. Chỉ số này được xây dựng
dựa trên 10 yếu tố liên quan đến 'tự do', chẳng hạn tự do
kinh doanh, tự do thương mại, tự do tiền tệ, chi tiêu của
chính phủ, tự do công khố, tự do đầu tư, tự do tài chính,
quyền sở hữu tài sản, tự do không bị tham nhũng và tự do
lao động.

Trang 17

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
Năm 2013, chỉ số tự do đầu tư thấp nhất
thuộc về các nước: Cuba, Iran, Bắc Triều Tiên,
Syria, Uzbekistan, Zimbabwe và cao nhất thuộc
về Luxembourg, theo sau là Đức, Anh, Austria,
Đan Mạch, Hồng Kông, Thụy Điển. Nghiên cứu
của chúng tôi sử dụng chỉ số này để ước lượng
mức độ tự do đầu tư và kiểm soát vốn ở khu vực
Đông Nam Á. Trong những năm gần đây, các

nước thuộc khu vực ASEAN đã nỗ lực thực hiện
tự do hoá cơ chế và chính sách đối với đầu tư
nước ngoài (Foreign direct investment - FDI).
Điều này góp phần vào sự gia tăng FDI trong
khu vực đáng kể. Dòng vốn FDI/GDP ở khu vực
ASEAN và các nước phát triển trong khu vực
Châu Á TBD được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (dòng vốn vào ròng)/ GDP
%

2009

2010

2011

2012

2013

Brunei

3.03

5.06

7.24

5.07

5.56

Cambodia

4.91

6.54

6.20

10.25

8.83

Indonesia

0.90

2.03

2.30

2.31

2.56

Laos

5.46

3.88

3.63

3.15

3.81

Malaysia

0.06

4.40

5.23

3.19

3.70

1.79

3.84

Myanmar
Philippines

1.23

0.54

0.90

1.28

1.37

Singapore

12.38

23.30

17.43

19.54

21.44

Thailand

1.84

2.85

0.71

3.52

3.69

Vietnam

7.17

6.90

5.48

5.37

5.20

Nguồn: World Bank database
2.2. Trình độ phát triển
Theo một vài nghiên cứu trình độ phát triển
tương tự nhau giữa các quốc gia trong khu vực
là điều kiện quan trọng để thúc đẩy tiến trình hội
nhập tài chính (Saxena & Baig, 2004). Trong bài
này, chỉ số GNI bình quân đầu người và trình độ
giáo dục là các tiêu chí thể hiện trình độ phát
triển của một quốc gia. Edison, Levine và các
cộng sự (2002) đã sử dụng tỷ lệ tốt nghiệp
THCS như là một trong các chỉ tiêu có ảnh
hưởng đến hội nhập tài chính. Cũng tương tự
như vậy, Schularick & Steger (2006) đã dùng
chỉ số „bình quân số năm đến trường‟ trong mô
hình hồi quy, bên cạnh các chỉ số như thu nhập,
lạm phát trung bình, thâm hụt ngân sách.
2.3. Quy mô của quốc gia
Quy mô của một quốc gia có thể vừa ảnh
hưởng tích cực vừa tác động tiêu cực đến tiến
Trang 18

trình hội nhập tài chính. Theo quan điểm ảnh
hưởng tích cực, Vamvakidis (1998) đã chứng
minh được rằng các quốc gia lớn lân cận với
GDP bình quân đầu người cao và nền kinh tế
mở sẽ dẫn đến tác động lan tỏa tích cực tới các
nước kém phát triển khác trong khu vực. Các
quốc gia lớn có thể giúp gia tăng quy mô thị
trường và đem lại lợi ích cho các quốc gia nhỏ
trong khu vực vì họ có khả năng đa dạng và mở
rộng hoạt động xuất khẩu và sản xuất nói chung.
Bên cạnh đó việc ở gần các quốc gia lớn có thể
đem lại các lợi thế như là sự lan tỏa về kiến thức
và công nghệ, sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Tuy nhiên, một quốc gia với quy mô lớn
có khả năng dẫn tới những nghi ngờ về tăng
quyền bá chủ và tăng can thiệp trong khu vực và
có thể tiếp tục làm trầm trọng thêm sự mất lòng
tin lẫn nhau và thù địch và thậm chí trì hoãn quá
trình hội nhập.

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q1 - 2016
Trong bài, chúng tôi sử dụng chỉ tiêu „tổng
số dân‟ để đo lường quy mô của một quốc gia.
2.4. Sự phát triển của thị trường tài chính
Trình độ phát triển của hệ thống tài chính nội
địa thường được xem là thước đo tốt của sự phát
triển tài chính nói chung. Một số thước đo dùng
để đo lường sự phát triển tài chính có thể kể đến
là tỷ lệ quy mô tín dụng ngân hàng/GDP, quy
mô của thị trường chứng khoán, tính hiệu quả và
tính thanh khoản của thị trường chứng khoán,
v.v... Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tỷ lệ quy
mô tín dụng ngân hàng/GDP được sử dụng như
là chỉ tiêu đo lường mức độ phát triển của hệ
thống ngân hàng. Lý do đơn giản bởi vì trong
bối cảnh hiện tại của các nước ASEAN, hệ
thống ngân hàng là trung gian tài chính chiếm
lĩnh và chi phối thị trường tài chính, thị trường
chứng khoán hiện vẫn còn non yếu.
2.5. Tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa hội nhập tài chính toàn cầu
và sự tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh
cãi. Trong khi Võ & Daly (2007) khẳng định
rằng chính tăng trưởng kinh tế dẫn tới hội nhập

tài chính và ngược lại, nhiều nghiên cứu khác
cho thấy hợp tác tài chính quốc tế không nhất
thiết dẫn tới tăng trưởng kinh tế (Agenor, 2003;
Schularick & Steger, 2006). Ở mức độ khu vực,
Vamvakidis (1998) đã lập luận rằng nếu các
quốc gia “lân cận” giao thương lẫn nhau, hội
nhập tài chính khu vực có ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế. Quan niệm của tác giả này về
quốc gia “lân cận” không nhất thiết bao gồm các
quốc gia kề cận nhau về mặt vị trí địa lý.
Tương tự Võ & Daly (2007), nghiên cứu này
sử dụng tỷ lệ tăng trưởng GDP như là một trong
các yếu tố quyết định hội nhập tài chính khu vực.
2.6. Môi trường chính trị và đầu tư
Hội nhập tài chính quốc tế hoặc khu vực đòi
hỏi sự tin tưởng lẫn nhau giữa các quốc gia. Sự
thiếu tin tưởng và thái độ thù nghịch với các
nước láng giềng thể hiện một phần qua tỷ lệ chi
phí quân sự/ GDP cao. May mắn là tỷ lệ này của
các nước ASEAN ở mức tương đối thấp. Nói
cách khác, sự tương đối hòa bình và ổn định là
điều kiện thuận lợi để các nước ASEAN hợp tác
tài chính thành công.

%
20
18.3
16
13

12
9.3
8
4

4.1

3.1
1.6

0

8.3

8

0.8

% của GDP

5.4
1.5

6.6

6
4.3

3.3
1.1

1.5

2.2

% của Chi tiêu chính phủ

Hình 1. Tỷ lệ chi tiêu cho quốc phòng so với GDP và tổng chi tiêu của chính phủ các nước ASEAN,
2014
Nguồn: SIPRI dataset

Trang 19

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q1 - 2016
Ngoài các yếu tố liên quan đến kinh tế, chính
trị có ảnh hưởng đến hội nhập khu vực thì các
yếu tố như độ mở thương mại, môi trường thể
chế, mức độ thi hành luật và quyền sở hữu tài
sản của mỗi quốc gia trong khu vực cũng có tác
động đến hội nhập tài chính. Trong bài phân tích
này, để lượng hóa tác động của môi trường
chính trị và đầu tư đến hội nhập, chúng tôi sử
dụng các biến sau: sự ổn định chính trị (political
stability), pháp quyền (rule of law), chỉ số hiệu
quả chính quyền (government effectiveness), chỉ
số thuận lợi kinh doanh (ease of doing business).
2.7. Độ mở thương mại
Thương mại nội vùng được coi là một yếu tố
quan trọng giúp giải thích xu thế của hội nhập
tài chính. Mối quan hệ giữa độ mở thương mại
và hội nhập là mối quan hệ hai chiều. Nói cách
khác, độ mở thương mại có thể ảnh hưởng đến
hội nhập và ngược lại, hợp tác tài chính giúp
thúc đẩy hoạt động thương mại nội vùng. Shin
& Yang (2006) lập luận rằng các nước càng có
mối quan hệ thương mại song phương chặt chẽ
thì các khoản vay xuyên biên giới cũng nhiều
hơn. Trong một nghiên cứu đa quốc gia về mối
quan hệ giữa thương mại và tài chính, Forbes &
Chinn (2004) đã phát hiện ra rằng thương mại
có tương quan chặt chẽ với thị trường chứng
khoán. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng
FDI đóng vai trò quan trọng giúp thúc đẩy
thương mại phát triển (Fukao et al., 2003).
Trong bài phân tích này, chúng tôi sử dụng tỷ lệ
độ mở thương mại và chỉ số tự do thương mại
của các nước trong khu vực ASEAN do tổ chức
Heritage Foundation phát triển và công bố2.

Chỉ số tự do thương mại là thước đo tổng hợp hàng rào
thuế quan và phi thuế quan và cả các giới hạn liên quan đến
số lượng, giá cả, luật lệ, đầu tư, hải quan và sự can thiệp
trực tiếp của chính phủ
2

Trang 20

3. NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
Để kiểm nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến
hội nhập tài chính khu vực ASEAN, bài phân
tích này sử dụng một phương pháp phân tích đa
biến đơn giản – Phương pháp phân tích thành
phần chính (Principal component analysis –
PCA) để giảm tính đa chiều của các yếu tố được
cho là có tác động đến hội nhập. Đây là một
trong những kỹ thuật thống kê cổ điển, biến đổi
một tập hợp dữ liệu từ một không gian nhiều
chiều sang một không gian mới ít chiều hơn (2
hoặc 3 chiều) nhằm tối ưu hóa việc thể hiện sự
biến thiên của dữ liệu.
Bài phân tích này tập trung vào các yếu tố
tác động đến hội nhập tài chính ở khu vực
ASEAN, do đó dữ liệu dùng để phân tích bao
gồm 10 quốc gia: Brunei, Campuchia, Indonesia,
Lào,
Malaysia,
Myanmar,
Philippines,
Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Để lượng hóa
các giới hạn vốn, bài phân tích sử dụng chỉ số tự
do đầu tư công bố bởi Heritage Foundation. Đối
với mức độ phát triển, tương tự như nghiên cứu
của Võ & Daly (2007), bài phân tích sử dụng
GNI bình quân đầu người và tỷ lệ số dân học hết
cấp trung học cơ sở. Các biến khác được đưa
vào phân tích bao gồm: tỷ lệ tăng trưởng GDP,
quy mô dân số, tỷ lệ tín dụng ngân hàng/GDP,
sự ổn định chính trị, chỉ số thuận lợi kinh doanh,
độ mở thương mại, tự do thương mại, pháp
quyền và chỉ số hiệu quả chính quyền. Các biến
dùng trong phân tích này được trình bày ở bảng
sau:

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Bài 15: Công cụ tài chính phát sinh - Hợp đồng tương lai và quyền chọn

Chứng khoán phát sinh là một loại tài sản tài chính có dòng tiền trong tương lai phụ thuộc vào giá trị của một hay một số tài sản tài chính khác ( gọi là tài sản cơ sở). Tài sản cơ sở có thể là hàng hóa, ngoại tệ, chứng khoán và ngay cả chỉ số chứng khoán.


Bài tập ngân hàng

Do nhu cầu thay đổi công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, Công ty TNHH A muốn mua một dây chuyền sấy kho tôm thuộc một công ty tại Nhật bản. Tuy nhiên, ...


Ngân Hàng - Nghiệp Vụ Công Việc part 20

Tham khảo tài liệu 'ngân hàng - nghiệp vụ công việc part 20', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Florian Kajuth und Sebastian Watzka: Inflation expectations from index-linked bonds: Correcting for liquidity and inflation risk premia

We provide a critical assessment of the method used by the Cleveland Fed to correct expected inflation derived from index-linked bonds for liquidity and inflation risk premia and show how their method can be adapted to account for time-varying inflation risk premia. Furthermore, we show how sensitive the Cleveland Fed approach is to different measures of the liquidity premium. In addition we propose an alternative approach to decompose the bias in inflation expectations derived from index-linked bonds using a state-space estimation. Our results show that once one accounts for time-varying liquidity and inflation risk premia current 10-year U.S. inflation expectations are lower than estimated by the Cleveland...


Bài giảng Lý thuyết tài chính tiền tệ: Chương 1 - ThS. Nguyễn Văn Minh

Bài giảng Lý thuyết tài chính tiền tệ - Chương 1 trình bày tổng quan về tài chính tiền tệ. Những nội dung cụ thể được trình bày trong chương này gồm có: Sự ra đời, phát triển và định nghĩa về tiền tệ; chức năng của tiền tệ; các khối tiền tệ; cung và cầu tiền tệ; các chế độ lưu thông tiền tệ; bản chất của tài chính. Mời tham khảo.


Kinh tế nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn vì nợ xấu

"Thực tế cho thấy, tốc độ quay vòng của tiền tệ đã bị chậm lại đáng kể, phản ánh sự trì trệ của nền kinh tế và sự sụt giảm lòng tin của thị trường", Ủy ban Kinh tế nhận định. Do đó, theo báo cáo này, việc xử lý nợ xấu cần được xem xét trong mối liên hệ hai chiều với tăng trưởng kinh tế, tương tự như lạm phát. Theo phân tích của Ủy ban Kinh tế, tăng trưởng suy giảm có tác động làm gia tăng nợ xấu và đến lượt mình, nợ xấu gia tăng...


Ảnh hưởng của việc niêm yết cổ phiếu đến hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường ảnh hưởng của việc niêm yết cổ phiếu đến hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó thấy được sự thay đổi thuận lợi trước thuế trên vốn chủ sở hữu và các tỷ số nợ của các công ty có mối quan hệ với vấn đề đại diện, tố độ tăng trưởng của doanh thu và tỷ số nợ. Mời các bạn tham khảo.


Điều kiện mở L/C

Ðể được mở L/C, Doanh nghiệp phải nộp tại ngân hàng - Giấy đăng ký kinh doanh - Tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng ( muốn mở tài khoản phải đóng ít nhất 500 USD vào tài khoản chuẩn bị mở cùng với các giấy tờ sau: + Quyết định thành lập Công ty


Bài giảng Nghiệp vụ ngân hàng thương mại 1: Chương 4 - ThS. Nguyễn Văn Minh

Chương 4 trang bị cho người học những kiến thức về nghiệp vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp. Chương này gồm có một số nội dung chính như: Các vấn đề chung về cho vay doanh nghiệp, cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp, cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp. Mời các bạn tham khảo.


Bài giảng Tài chính tiền tệ - Chương 1: Tổng quan về tài chính

Chương 1 của bài giảng Tài chính tiền tệ giới thiệu những kiến thức đại cương về tài chính. Chương này trình bày những nội dung như: Khái quát sự ra đời và phát triển của tài chính, bản chất của tài chính, chức năng của tài chính, hệ thống tài chính. Mời các bạn cùng tham khảo.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Campaign money and public finance_5
  • 08/02/2012
  • 61.971
  • 366
Tiền gửi vốn chuyên dùng
  • 10/08/2011
  • 91.363
  • 245

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu