Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Các hợp chất phenolic và lợi ích cho sức khỏe con người

Bài viết Các hợp chất phenolic và lợi ích cho sức khỏe con người trình bày các hợp chất phenolic có mặt trong tất cả các bộ phận của thực vật và từ đó là một phần trong thức ăn của con người. Các hợp chất này đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này

  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí KH Nông nghiệp VN 2016, tập 14, số 7: 1107-1118

Vietnam J. Agri. Sci. 2016, Vol. 14, No. 7: 1107-1118

Lai Thi Ngoc Ha
Faculty of Food Science and Technology, Vietnam National University of Agriculture
Email*: lnha1999@yahoo.com
Received date: 20.04.2016

Accepted date: 01.08.2016

Phenolic compounds are present in all plant organs and are therefore an integral part of the human diet. They
have been shown to play important roles in human health. Indeed, high intakes of tea, fruits, vegetables, and whole
grains, which are rich in phenolic compounds, have been linked to lowered risks of many chronic diseases, including
cancer, cardiovascular diseases, chronic inflammation, and many degenerative diseases. These potential beneficial
health effects of phenolic compounds are a resultof their biological properties, including antioxidant, antiinflammatory, anti-cancer, and antimicrobial activities. In this paper, the mechanisms of the biological actions of
phenolic compounds will be presented and discussed.
Keywords: Antioxidant, anticancer, anti-inflammatory, antimicrobial, phenolic compounds.

Các hợp chất phenolic và lợi ích cho sức khỏe con người
Các hợp chất phenolic có mặt trong tất cả các bộ phận của thực vật và từ đó là một phần trong thức ăn của con
người. Các hợp chất này đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe. Trên thực tế, việc sử
dụng một lượng lớn thực phẩm giàu các hợp chất phenolic như trà, quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt gắn với sự giảm
nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính như ung thư, các bệnh tim mạch, viêm mãn tính và nhiều bệnh thoái hóa. Những
lợi ích tốt cho sức khỏe con người của các hợp chất phenolic có được nhờ các tính chất sinh học của chúng bao
gồm hoạt động kháng oxi hóa, kháng viêm, kháng ung thư và kháng vi sinh vật. Trong bài bao này, cơ chế hoạt động
sinh học của các hợp chất phenolic sẽ được giới thiệu và thảo luận.
Từ khóa: Hợp chất phenolic, kháng oxi hóa, kháng ung thư, kháng viêm, kháng vi sinh vật.

Phenolic compounds refer to one of the most
numerous and widely distributed groups of
secondary metabolites in the plant kingdom,
with about 10,000 phenolic structures identified
to date (Kennedy and Wightman, 2011).
Furthermore, they are considered to be the most
abundant antioxidants in the human diet
(Mudgal et al., 2010), and contribute up to 90%
of the total antioxidant capacity in most fruits
and vegetables.
Phenolic compounds are substances with
aromatic ring(s) bearing one or more hydroxyl
moieties, either free or involved in ester or ether

bonds (Manach et al., 2004). They occur
primarily in a conjugated form, with one or
more sugar residues linked to hydroxyl groups
by glycoside bonds. Association with other
compounds, such as carboxylic acids, amines,
and lipids are also common (Bravo, 1998).
Phenolic compounds have been shown to
play important roles in human health. Indeed,
epidemiological studies strongly support a role
for phenolic compounds in the prevention of
many diseasesthat are associated with oxidative
stress and chronic inflammation, such as
cardiovascular diseases, cancers, osteoporosis,


Phenolic compounds and human health benefits

Cicerale et al., 2012). These potential beneficial
health effects of phenolic compounds are the
resultof their biological properties, including
antioxidant, anti-inflammatory, anti-cancer,
and antimicrobial activities (Cicerale et al.,
2012). All these biological actions of phenolic
compounds strongly depend on their chemical
structures (D’Archivio et al., 2010). In this
paper, firstly, classification of phenolic
compounds based on their structure will briefly
be mentioned. The mechanisms of biological
actions will then be presented and finally, the
relationship between the chemical structures
and their biological activities will be discussed.




Phenolic compounds are divided into
different classes (Figure 1) according to the
number of phenolic rings they have and the
structural elements that link these rings. They
include phenolic acids, flavonoids, stilbenes,
tannins, and lignans (Manach et al., 2004).
Among them, flavonoids are the largest class
and can be further subdivided into six major
subclasses based the oxidation state of the
central heterocycle. They include flavones,
flavonols, flavanones, flavanols, anthocyanidins,
and isoflavones (Manach et al., 2004).
Tannins also contribute an abundant
number of phenolic compounds in the human
diet. They give an astringent taste to many
edible plants. They are subdivided into two
major groups: hydrolysable and condensed
tannins (Brano, 1998). Hydrolysable tannins are
derivatives of gallic acid, which is esterified to a
core polyol, mainly glucose (Bravo, 1998), while
condensed tannins are oligomeric and polymeric
flavan-3-ols. Condensed tannins are also called
proanthocyanidins because an acid-catalysed
cleavage of the polymeric chains produces
anthocyanidins (Tsao, 2010). Concerning lignans,
they are plant products of low molecular weights
formed primarily from oxidative coupling of two
p-propylphenol moieties with the most frequent
phenylpropane units called monolignol units,


being p-coumaryl, coniferyl, and sinapyl alcohols
(Cunha et al., 2012).
Phenolic compounds represent a huge
family of compounds presenting a very large
range of structures. The presentation in detail
of all of phenolic group’s structures will be the
frame of other papers. In this publication, the
compounds are the focus.

Antioxidant activity is the most studied
property of phenolic compounds. Antioxidants,
in general, and most phenolic compounds, in
particular, can slow down or inhibit the
oxidative process generated by ROS (reactive
oxygen species) and RNS (reactive nitrogen
species) in excess.
ROS and RNS are well recognised as being
both deleterious and beneficial species. At low
or moderate concentrations, they have
physiological roles in cells, for example, in the
defence against infectious agents (Valco et al.,
2007). Their level is controlled by endogenous
antioxidants including enzymes and antioxidant
vitamins (i.e., vitamins E and C). However,
various agents such as ionising radiation,
ultraviolet light, tobacco smoke, ozone, and
nitrogen oxides in polluted air can cause
“oxidative stress” characterised by an over
production of ROS and RNS on one side, and a
deficiency of enzymatic and non-enzymatic
antioxidants on the other. ROS and RNS in
excess can damage cellular lipids, proteins, or
DNA, and thereby inhibit their normal
functions (Valco et al., 2007).
Phenolic compounds are strong dietary
antioxidants that reinforce, together with other
dietary components (carotenoids, antioxidant
vitamins), our antioxidant system against
oxidative stress (Tsao, 2010). The antioxidant
mechanisms of phenolic compounds are now
well understood (Nijveldt et al., 2001; Amic
et al., 2003), and include: (i) direct free
radical scavenging, (ii) chelation with transition
metal ions, and (iii) inhibition of enzymes,

Lai Thi Ngoc Ha

such as xanthine
radical formation.




Direct free radical scavenging
Phenolic compounds have the ability to act
as antioxidants by a free radical scavenging
mechanism with the formation of less reactive
phenolic radicals. Phenolic compounds (PheOH)
inactivate free radicals via hydrogen atom
transfers (reaction 1) or single electron
transfers (reaction 2) (Leopoldini et al., 2011):
PheOH + R• PheO• + RH (hydrogen atom
transfer - 1)
PheOH + R• PheOH+• + R- (single electron
transfer - 2)
The reactions produce molecules (RH) or
anions (R-) with an even number of electrons
that are less reactive than the free radicals.
PheO•subsequently undergoes a change to a
resonance structure by redistributing the
unpaired electron on the aromatic core. Thus,
phenolic radicals exhibit a much lower
reactivity compared to the radical R•, and are
relatively stable due to resonance delocalisation

and the lack of suitable sites for attack by
molecular oxygen (Leopoldini et al., 2011). In
addition, they could react further to form
unreactive compounds, probably by radicalradical termination (Amic et al., 2003):
PheO• + R•
coupling reaction)



PheO• + PheO• PheO-OPhe (radicalradical coupling reaction)
Chelation with transition metal ions
The generation of various free radicals is
closely linked to the participation of transition
metals (Valko et al., 2007). In fact, these metals
in their low oxidation state may be involved in
Fenton reactions with hydrogen peroxide, from
which the very dangerous reactive oxygen
species OH• is formed (Leopoldini et al., 2011):
Mn+ + H2O2 → M(n+1)+ + •OH + OH−
Phenolic compounds can entrap transition
metals by chelation and thereby prevent them
from taking part in the reactions generating

OH free radicals (Figure 2).

Phenolic compounds

Phenolic acids

(C -C -C )

(C -C )





(C -C -C )



(C -C )


(C -C -C )



6 2








Figure 1. Classification and structure of the major phenolic compounds
(Adapted from Han et al., 2007)


Phenolic compounds and human health benefits

Figure 2. Complex between phenolic compounds and metals (Men+)
(Leopoldini et al., 2011)

Figure 3. Similar structure between xanthine and cycle A of flavonoids
Inhibition of xanthine oxidase
The xanthine oxidase pathway is an
important route in oxidative injury to tissues,
especially after ischemia-reperfusion. Both
xanthine dehydrogenase and xanthine oxidase
are involved in the metabolism of xanthine to
uric acid. Xanthine dehydrogenase is the form
of the enzyme present under physiological
conditions, but its configuration is changed to
xanthine oxidase under ischemic conditions.
Xanthine oxidase, in the reperfusion phase (i.e.,
reoxygenation), catalyses the reaction between
xanthine and molecular oxygen, releasing
superoxide free radicals and uric acid (Nijveldt
et al., 2001).
Xanthine + 2O2 + H2O  Uric acid + 2O2•- + 2H+
Flavonoids having a cycle A structure
similar to the purine cycle of xanthine are
considered to becompetitive inhibitors of
xanthine oxidase. They may thereby inhibit the
activity of xanthine oxidase as well as the
formation of superoxide free radicals (Figure 3).


Relation between phenolic structure
and antioxidant capacity of phenolic
Phenolic structure-activity relationship
studies have confirmed that the number and
position of hydroxyl groups, and the related
glycosylation and other substitutions largely
determine the radical scavenging activity of
phenolic compounds (Cai et al., 2006; Leopoldini
et al., 2011). Phenolic compounds without any
hydroxyl groups were shown to have no radical
scavenging capacity. In addition, glycosylation
of flavonoids diminished their activity when
compared to the corresponding aglycones (Cai et
al., 2006). The structural requirement
considered to be essential for effective radical
scavenging by flavonoids is the presence of a
3’,4’-dihydroxy, i.e. an o-dihydroxy group
(catechol structure) in the B ring, possessing
electron donating properties and serving as a
radical target. Also, the 3-OH group in the C
ring of flavonols is beneficial for antioxidant
activity (Amic et al., 2003; Lai and Vu, 2009).

Lai Thi Ngoc Ha

This 3-OH group activity is stimulated by other
donating electron groups, such as the OH
groups at the 5 and 7 positions and also by the
oxygen atoms at positions 1 and 4. The C2-C3
double bond conjugated with a 4-keto group,
which is responsible for electron delocalisation
from the B ring, further enhances the radicalscavenging capacity. The presence of both 3-OH
and 5-OH groups in combination with a 4carbonyl function and C2-C3 double bond
increases the radical scavenging activity of
flavonoids by being responsible for a chelating
ability with transition metal ions (Amic et al.,
2003; Leopoldini et al., 2011).

cardioprotective activities, including inhibition of
LDL oxidation, mediation of cardiac cell function,
suppression of platelet aggregation, and
attenuation of myocardial tissue damage during
ischemic events (Roupe et al., 2006). Moderate
consumption of red wine rich in these stilbenes
has been linked to the “French Paradox”
observation described by Renaud and De Lorgeril
in 1992, i.e. an anomaly in which southern
French citizens, who smoke regularly and enjoy a
high-fat diet, have a very low coronary heart
mortality rate (Roupe et al., 2006).


Inflammation is a dynamic process that is
elicited in response to mechanical injuries,
burns, microbial infection, and other noxious
stimuli (Shah et al., 2011). It is characterised by
redness, heat, swelling, loss of function, and
pain. Redness and heat result from an increase
in blood flow, swelling is associated with
increased vascular permeability, and pain is the
consequence of activation and sensitisation of
primary afferent nerve fibers. A huge number of
inflammatory mediators, including kinins,
leukotrienes, amines, purines, cytokines,
chemokines, and adhesion molecules, have been
found to act on specific targets, leading to the
local release of other mediators from leucocytes
and the further attraction of leucocytes, such as
neutrophils, to the site of inflammation. Under
normal conditions, these changes in inflamed
tissues serve to isolate the effects of the insult
and thereby limit the threat to the organism.
However, low-grade chronic inflammation is
considered a critical factor in many diseases
including cancers, obesity, type II diabetes,
cardiovascular diseases, neurodegenerative
diseases, and premature aging (Santangelo
et al., 2007).

Cardiovascular diseases are the leading
cause of death in the United States, Europe, and
Japan, and are about to become one of the most
significant health problems worldwide. In vivo
and ex vivo studies have provided evidence
supporting the role of “oxidative stress” in
leading to severe cardiovascular dysfunctions.
Increased production of ROS may affect four
fundamental mechanisms contributing to
atherosclerosis, namely: (i) oxidation of low
density lipoproteins (LDL) to oxidised-LDL, (ii)
endothelial cell dysfunction, (iii) vascular smooth
muscle cell migration and proliferation as well as
matrix metalloproteinase release, and (iv)
monocyte adhesion and migration as well as
foam cell development due to the uptake of
oxidised-LDL (Bahorun et al., 2006). Phenolic
compounds in fruits (Burton-Freeman et al.,
2010), cocoa powder, dark chocolate (Wan et al.,
2001), and coffee (Natella et al., 2007) were
reported to inhibit the oxidation of LDL, hence
reducing cardiovascular risk. Green tea
consumption reduced total and LDL cholesterol,
and inhibited the susceptibility of LDL to
oxidation, and was therefore associated with
decreased risks of stroke and myocardial
infarction (Alexopoulos et al., 2010). Resveratrol
and piceatannol, two stilbenes detected in red
wine, were shown to elicit a number of


Phenolic compounds have been reported to
display marked in vitro and in vivo antiinflammatory
mechanisms of action including: (i) inhibition of


Tài liệu cùng danh mục Y học thường thức

10 lợi ích của mít đối với sức khỏe

Hầu hết chúng ta đều biết đến hương vị ngọt ngào, thơm ngon của mít mà ít biết đến lợi ích thiết thực của nó đối với sức khỏe. Bạn nên ăn mít thường xuyên để bổ sung cho cơ thể nguồn dinh dưỡng dồi dào và thu lại những lợi ích sau: 1. Tăng cường hệ thống miễn dịch Vitamin C là nguồn dinh dưỡng bổ sung được sử dụng rộng rãi nhất vì nó nổi tiếng là chất dinh dưỡng có thể giúp cơ thể ngăn ngừa bệnh cảm lạnh và các bệnh lây nhiễm. Một chén múi...

Giải phẫu cơ và mạc vùng cổ (Kỳ 1)

Vùng cổ được chia làm 2 vùng: vùng cổ sau hay vùng gáy và vùng cổ trước bên. 1. CƠ VÙNG GÁY Gồm các cơ ở sau cột sống và các mỏm ngang, đặc điểm các cơ vùng này là cơ nào càng ở sâu sát với xương thì ngắn và hẹp, trái lại các cơ càng ở nông thì càng dài và rộng. Cơ vùng gáy xếp làm 4 lớp từ sâu ra nông. 1.1. Lớp thứ nhất Lớp nông nhất chỉ có 1 cơ là cơ thang (m. trapezius), là cơ to nhất vùng sau, từ đường cong chăm trên,...


Hầu hết các tài liệu về nồng độ huyết thanh AED đã được tạo ra trong các nước công nghiệp. Do đó, sự phù hợp của ngoại suy "đầy đủ" hoặc "không đủ" nồng độ huyết thanh cho bệnh nhân di truyền khác nhau hoặc dân số ở các nước đang phát triển có thể được thử thách.

4 thói quen nguy hại cho cơ thể vào mùa nóng

Mùa nóng, bạn thường tìm mọi cách để cảm thấy mát mẻ hơn. Nhưng thực sự, có nhiều cách rất nguy hại tới cơ thể. Có 4 điều bạn nên tránh làm trong mùa nóng: .1. Cởi trần nằm trên chiếu Cởi trần nằm trên chiếu sẽ khiến bạn cảm thấy "đã", tuy nhiên, mồ hôi trên người sẽ trực tiếp rỏ lên trên chiếu, các chất muối và chất hữu cơ chứa trong mồ hôi sẽ tích tụ trong khe chiếu, vi khuẩn sinh sôi. Vì thế, bạn rất dễ phải đối mặt với hiện tượng mọc mụn sau lưng...

Bài thuốc chữa bệnh từ tắc kè

Tắc kè (Gekko gekko L.), tên thuốc là cáp giới, một vị thuốc được YHCT sử dụng từ lâu để trị một số chứng bệnh thuộc hai tạng phế và thận.

New Concepts in Diabetes and Its Treatment - part 1

Đái tháo đường và các biến chứng của nó là điều kiện phát triển quan trọng cả từ lâm sàng cũng như quan điểm dịch tễ học lâm sàng. Sự liên quan của bệnh tiểu đường ở mức độ lâm sàng

Clinical manifestations of pulmonary tuberculosis

Radiographic abnormalities — The most common abnormality on chest radiography was hilar adenopathy, occurring in 65 percent [2]. Hilar changes could be seen as early as one week after skin test conversion and within two months in all cases. These radiographic findings resolved slowly, often over a period of more than one year. Approximately one-third of the 517 converters developed pleural effusions, typically within the first three to four months after infection, but occasionally as late as one year. Pulmonary infiltrates were documented in 27 percent of patients. Perihilar and right sided infiltrates were the most common, and ipsilateral hilar enlargement was the rule. While contralateral hilar changes...


GIẢM ĐƯỜNG HUYẾT Nguyên nhân: Do đói, suy tế bào gan, dùng thuốc hạ đường huyết quá liều Triệu chứng: Chủ yếu là các biểu hiện của rối loạn hệ thống thần kinh thực vật Cơ chế bệnh sinh: Do rối loạn chức năng của các tế bào não hấp thu đường qua cơ chế thẩm thấu


Tài liệu sưu tầm đầy đủ về Đông trùng hạ thảo-một dược liệu quý hiếm bật nhất của đông y sánh ngang với nhân sâm. Tài liệu được biên soạn khoa học dễ xem và có các hình ảnh minh họa, nguồn thông tin.

Uống sữa có thực sự giúp bổ xung canxi?

75% số người trên thế giới không hấp thụ được các chất dinh dưỡng từ sữa. Sữa, loại thực phẩm dinh dưỡng số 1 được ưa chuộng và tin dùng nhiều nhất trên toàn thế giới tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới đây lại chỉ ra rằng có tới 75% số người trên thế giới không hấp thụ được các chất dinh dưỡng từ sữa. Chỉ có người Châu Âu, Trung Á là có thể hấp thụ được lượng canxi dồi dào trong sữa vì bò ở đây được nuôi theo chế độ đặc biệt, mặt khác họ...

Tài liệu mới download

Machine Learning cơ bản
  • 18/04/2017
  • 33.668
  • 421
Vi điều khiển PIC18F4550
  • 12/11/2011
  • 59.290
  • 403

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

  • 18/07/2011
  • 70.808
  • 127
HIỆP KHÍ ĐẠO - Chương 18
  • 28/12/2010
  • 62.344
  • 178

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu