Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp

Bài viết khảo cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp; về công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành và về quyền của nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 65-71

Bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp
Lê Thị Bích Huệ*
Khoa Luật, ĐHQGHN, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 15 tháng 7 năm 2016
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 8 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 9 năm 2016

Tóm tắt: Phát hành trái phiếu là phương thức để doanh nghiệp huy động vốn từ các tổ chức và cá
nhân nhằm bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh. Các tổ chức, cá nhân mua trái phiếu
doanh nghiệp trở thành trái chủ của doanh nghiệp hay còn gọi là nhà đầu tư trái phiếu hoặc là
người sở hữu trái phiếu. Nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp luôn có nguy cơ gặp rủi ro của trái
phiếu doanh nghiệp do không đánh giá đúng về doanh nghiệp phát hành cũng như trái phiếu của
doanh nghiệp đó. Vì vậy, để bảo vệ nhà đầu tư, pháp luật đã can thiệp vào hoạt động phát hành trái
phiếu của các doanh nghiệp. Bài viết khảo cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp; về công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành và
về quyền của nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam.
Từ khóa: Bảo vệ, nhà đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp, người sở hữu trái phiếu.

Trên thực tế, nhà đầu tư có nguy cơ gặp
nhiều rủi ro của trái phiếu doanh nghiệp do
1
doanh nghiệp không có xếp hạng tín nhiệm ;
các thông tin về việc sử dụng vốn trong các đợt
phát hành cũng thường rất sơ sài [2]. Điều này
lý giải vì sao nhà đầu tư chưa mặn mà đầu tư
vào trái phiếu doanh nghiệp.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, cần thiết
phải xem xét các quy định pháp luật có liên
quan như quy định về điều kiện phát hành trái
phiếu; về công bố thông tin của doanh nghiệp
phát hành và về quyền của nhà đầu tư trái phiếu.

Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng
khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận
nghĩa vụ trả khoản gốc và lãi của doanh nghiệp
đối với chủ sở hữu trái phiếu [1]. Người mua
trái phiếu trở thành trái chủ của doanh nghiệp
hay còn gọi là bên cho vay hoặc là nhà đầu tư.∗
Nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp có các
quyền sau: (i) Quyền được bảo đảm thanh toán
đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi trái phiếu khi đến
hạn; (ii) Quyền được cung cấp thông tin; (iii)
Quyền được dùng trái phiếu để chuyển nhượng,
cho, tặng, để lại thừa kế, chiết khấu, cầm cố
trong các quan hệ dân sự và quan hệ tín dụng;
(iv) Quyền góp vốn bằng trái phiếu để thành lập
công ty.

_______
1

Xếp hạng tín nhiệm là một hoạt động nghiệp vụ mang
tính chuyên nghiệp được tiến hành bởi một tổ chức chuyên
môn (tổ chức xếp hạng tín nhiệm) nhằm đánh giá khả năng
trả nợ của người phát hành chứng khoán nợ hoặc chứng
khoán nợ. Để bảo vệ nhà đầu tư, pháp luật nhiều nước bắt
buộc doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải được xếp
hạng tín nhiệm trước khi phát hành.

_______


ĐT.: 84-4-37548516
Email: huebichkl@gmail.com

65

66

L.T.B. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 65-71

1. Bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp
bằng quy định về điều kiện phát hành
Pháp luật quy định điều kiện phát hành
nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp
khi huy động vốn thông qua phát hành trái
phiếu và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư mua trái
phiếu của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, theo
pháp luật hiện hành, doanh nghiệp muốn phát
hành trái phiếu riêng lẻ cần đáp ứng các điều
kiện: (i) Thời gian hoạt động tối thiểu là một
năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào
hoạt động; (ii) Kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh năm liền kề trước năm phát hành phải có
lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi
Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm toán
độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt
2
Nam ; (iii) Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn
vốn và các hạn chế khác về bảo đảm an toàn
trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh
doanh có điều kiện quy định tại pháp luật
chuyên ngành; (iv) Có phương án phát hành trái
phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
3
và chấp thuận . Đối với chào bán trái phiếu ra
công chúng, doanh nghiệp phải đáp ứng các
điều kiện: (i) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ
đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười
tỉ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi
trên sổ sách; (ii) Hoạt động kinh doanh năm
liền kề chào bán phải có lãi, đồng thời không có
lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán, không
có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
(iii) Có phương án phát hành, phương án sử

_______
2

Báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp phát
hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến chấp nhận toàn
phần. Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước
ngày 01 tháng 4 hàng năm, chưa có báo cáo tài chính năm
của năm liền kề được kiểm toán thì phải có: Báo cáo tài
chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi (i); Báo cáo tài
chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi được kiểm toán (nếu có) (ii) và Báo cáo tài
chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệ hoạt động
của công ty (iii).
3
Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 90/2011/NĐ – CP ngày
14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh
nghiệp.

dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán
được hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành
viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua; (iv)
Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát
hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp
4
pháp của chủ sở hữu và các điều kiện khác .
Như vậy, điều kiện về các doanh nghiệp
phải có xếp loại của tổ chức định mức tín
5
nhiệm chưa phải là bắt buộc trong hồ sơ phát
hành trái phiếu trong nước. Trong khi đó, ở các
thị trường trái phiếu phát triển, điều kiện bắt
buộc để doanh nghiệp phát hành trái phiếu là
doanh nghiệp phải được xếp hạng tín nhiệm bởi
một tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập trước
khi phát hành. Chẳng hạn, ở Hàn Quốc, doanh
nghiệp khi phát hành trái phiếu phải được xếp
hạng tín nhiệm bởi ít nhất hai CRA [3]. Hay ở
Trung Quốc doanh nghiệp phải có định mức tín
6
nhiệm AAA khi phát hành trái phiếu từ một tỷ
nhân dân tệ trở lên [4].

_______
4

Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán năm 2006 sửa đổi,
bổ sung năm 2010.
5
Thuật ngữ tiếng Anh là Credit Rating Agency (CRA), có
thể được dịch là Tổ chức xếp hạng tín nhiệm hay Tổ chức
đánh giá tín nhiệm. Đây là tổ chức chuyên môn đánh giá
khả năng trả nợ của doanh nghiệp phát hành chứng khoán
nợ hoặc chứng khoán nợ. Trên thế giới hiện nay có một số
tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn như Moody’s Investors
Service Inc; Standard & Poor’s Financial Services LLC
(S&P); Fitch Rating Ltd…
6
AAA là một hệ số xếp hạng tín nhiệm, đánh giá khả năng
hoàn thành nghĩa vụ tài chính đặc biệt tốt. Hệ thống các hệ
số tín nhiệm được thể hiện dưới dạng các ký tự từ AAA
đến C hoặc D. Moody’s sử dụng các ký tự A, B, C và các
thứ hạng được thể hiện lần lượt là Aaa, Aa, A, Baa, Ba, B,
Caa, Ca, C. Nghĩa vụ được xếp hạng Aaa được dự đoán là
có chất lượng cao nhất, với mức độ rủi ro tín dụng tối
thiểu. Nghĩa vụ được xếp hạng “B” được dự đoán là có
mức rủi ro cao. Mức “Ca” là có khả năng hoặc gần như vỡ
nợ. Mức “C” là mức thấp nhất, thường xuyên vỡ nợ, rất ít
khả năng thu hồi được nợ gốc và lãi. S&P sử dụng hệ
thống bốn chữ cái A, B, C, D. Thứ tự xếp hạng lần lượt là
AAA, AA, A, BBB, BBB-, BB+, B, CCC, CC, C, D.
Trong đó, “AAA” là hạng cao nhất. “AA” đánh giá khả
năng hoàn thành nghĩa vụ tài chính rất tốt. “BB” dự đoán
khả năng bị tổn thương trong kỳ sau thấp nhưng đối mặt
với những bất lợi về điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh
tế không rõ ràng. “D” là mức vỡ nợ. Xem thêm Lê Hoàng
Nga, Thị trường chứng khoán (Sách chuyên khảo), NXB
Tài chính, Hà Nội, 2015, tr. 82.

L.T.B. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 65-71

Xếp hạng tín nhiệm có vai trò rất quan
trọng trong thị trường trái phiếu. Đối với nhà
đầu tư, trên cơ sở tham khảo kết quả xếp hạng
tín nhiệm họ đưa ra được những phán đoán về
khả năng thanh toán của doanh nghiệp phát
hành trái phiếu hoặc về rủi ro tín dụng của trái
phiếu mà họ dự định đầu tư. Bởi lẽ nhà đầu tư ít
có khả năng tự đánh giá một cách chính xác
năng lực tài chính của tổ chức phát hành nên
khó có thể đưa ra các quyết định chính xác về
việc có nên đầu tư trái phiếu hay không và đầu
tư như thế nào. Đối với doanh nghiệp phát
hành, nếu có kết quả định mức tín nhiệm tốt,
doanh nghiệp sẽ được đánh giá cao và trái phiếu
của doanh nghiệp sẽ hấp dẫn hơn đối với nhà
đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp bị xếp
hạng tín nhiệm thấp, doanh nghiệp phải huy
động vốn với lãi suất cao hoặc sẽ không bán
được trái phiếu.
Do điều kiện về xếp hạng tín nhiệm chưa
phải là điều kiện bắt buộc khi phát hành trái
phiếu doanh nghiệp nên các doanh nghiệp phát
hành trái phiếu trong nước không được xếp
hạng tín nhiệm. Việc này dẫn đến các nhà đầu
tư phải tự phân tích theo phương pháp riêng, tự
xác định mức độ an toàn của trái phiếu trước
khi đưa ra quyết định đầu tư. Chi phí tìm hiểu
và tham vấn về mức độ an toàn của trái phiếu
cao khiến trái phiếu doanh nghiệp kém hấp dẫn
với các nhà đầu tư.
Nhằm góp phần minh bạch hóa hoạt động
của doanh nghiệp cũng như thúc đẩy sự phát
triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp,
ngày 26/9/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 88/2014/NĐ – CP về dịch vụ xếp hạng
tín nhiệm. Nghị định này là tiền đề pháp lý cho
sự ra đời của tổ chức xếp hạng tín nhiệm ở Việt
Nam. Thực tế cho thấy, vấn đề xây dựng khuôn
khổ pháp lý cho việc thành lập và hoạt động
của tổ chức định mức tín nhiệm đã bắt đầu được
khởi xướng và triển khai tại Việt Nam từ năm
7
2004 [5]. Tuy nhiên, cho đến nay, tổ chức này

_______

67

vẫn chưa được thành lập. Trong khi đó, theo
“Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt
Nam đến năm 2020” được Bộ Tài chính phê
duyệt ngày 01/02/2013, một trong những giải
pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý là Bộ Tài
chính nghiên cứu trình Chính phủ cơ chế, chính
sách về phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo
hướng rà soát lại điều kiện phát hành trái phiếu
trên cơ sở xem xét việc quy định bắt buộc có hệ
số tín nhiệm đối với các đợt phát hành trái
phiếu tại thị trường trong nước sau khi cơ chế
về xếp hạng tín nhiệm được ban hành (năm
2015 – 2016) [6]. Mới đây, ngày 17/4/2016 Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
507/QĐ - TTg phê duyệt quy hoạch phát triển
dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2010 và
tầm nhìn 2030. Theo đó, phấn đấu đến năm
2020, các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp
đều phải được xếp hạng tín nhiệm [7]. Qua đó,
có thể thấy ý tưởng về việc quy định bắt buộc
các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong
nước phải được xếp hạng tín nhiệm cũng như
việc thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã có
nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện. Do đó,
nhà đầu tư hiện nay vẫn đang phải đối mặt với
nhiều rủi ro của trái phiếu doanh nghiệp.
2. Bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp
bằng quy định về công bố thông tin
Thông tin về doanh nghiệp phát hành, về
trái phiếu của doanh nghiệp đó rất quan trọng
đối với nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, đặc
biệt là những nhà đầu tư nhỏ lẻ. Thông tin giúp
nhà đầu tư đánh giá được rủi ro của trái phiếu
và có quyết định đầu tư đúng đắn. Tuy nhiên,
các doanh nghiệp thường có xu hướng giữ bí
mật thông tin hoặc cung cấp thông tin không
đầy đủ nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh. Để
tránh tình trạng bảo mật thông tin quá mức và
bảo vệ nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, luật
pháp đã can thiệp vào việc tiết lộ thông tin của
các doanh nghiệp phát hành. Ở phần lớn các

7

Tiếp sau đề xuất về việc hỗ trợ giúp đỡ dự án thành lập
công ty định mức tín nhiệm, Hiệp hội các nhà đầu tư tài
chính Việt Nam (VAFI) đã tổ chức hội thảo với chủ đề
“Thành lập công ty định mức tín nhiệm ở Việt Nam” vào

trung tuần tháng 5/2004 với sự tham gia của các chuyên
gia Viện nghiên cứu Normura (thuộc Tập đoàn chứng
khoán Nomura – Nhật Bản).

68

L.T.B. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 65-71

nước nghĩa vụ thông tin của doanh nghiệp phát
hành được quy định trong Luật chứng khoán
[8]. Theo đó, thông tin phải được công bố đầy
đủ và công bằng về doanh nghiệp phát hành và
trái phiếu doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật
chứng khoán hiện hành, nghĩa vụ công bố thông
tin là nghĩa vụ bắt buộc đối với doanh nghiệp
phát hành trái phiếu theo cả hai phương thức:
8
phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ .
Các doanh nghiệp phát hành phải tuân thủ
nghiêm ngặt quy định về công bố thông tin để
đảm bảo hoạt động phát hành công khai, minh
bạch, công bằng và bảo vệ quyền cũng như lợi
ích hợp pháp của các nhà đầu tư. Tuy nhiên,
Luật Luật chứng khoán năm 2006 sửa đổi, bổ
sung năm 2010 chỉ điều chỉnh hoạt động phát
hành trái phiếu riêng lẻ của công ty đại chúng.
Phát hành trái phiếu riêng lẻ của tổ chức phát
hành không phải là công ty đại chúng được thực
hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp và
Nghị định số 90/2011/NĐ – CP ngày
14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh
9
nghiệp .
Theo Nghị định số 90/2011/NĐ - CP, đối
với phát hành trái phiếu trong nước, doanh
nghiệp phát hành có trách nhiệm công bố thông
tin cho các nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu.
Nội dung công bố thông tin bao gồm: (i) Tổng
giá trị trái phiếu và kỳ hạn phát hành; (ii) Tình
hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm
phát hành; (iii) Phương án phát hành trái phiếu,
kế hoạch sử dụng tiền thu được từ phát hành
trái phiếu, phương án trả nợ gốc, lãi trái phiếu
đã được cấp có thẩm quyền thông qua; (iv) Kết
quả xếp loại của tổ chức định mức tín nhiệm
(nếu có). Sau mười lăm ngày kể từ khi hoàn tất
đợt phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phát
hành phải thực hiện công bố thông tin về kết
quả đợt phát hành với các nội dung: (i) Khối

_______

lượng trái phiếu phát hành thành công; (ii) Kỳ
10
hạn và lãi suất trái phiếu .
Các thông tin của doanh nghiệp công bố
trước và sau đợt phát hành trái phiếu chính là
cơ sở xem xét thực trạng tài chính của doanh
nghiệp và khả năng bảo đảm an toàn cho nhà
đầu tư trái phiếu. Các thông tin trong Báo cáo
tài chính của doanh nghiệp được kiểm tra và
xác nhận bởi công ty kiểm toán độc lập khẳng
định độ tin cậy đối với trái phiếu của doanh
nghiệp phát hành.
Tuy nhiên, trên thực tế, còn bất cập trong
minh bạch thông tin trước, trong và sau khi phát
hành trái phiếu doanh nghiệp. Nhiều doanh
nghiệp không tuân thủ các quy định công bố
thông tin dẫn đến nhà đầu tư chịu rủi ro không
được thanh toán gốc và lãi trái phiếu [9].
So với chế độ báo cáo của doanh nghiệp
phát hành với Bộ Tài chính theo quy định của
Nghị định số 90/2011/NĐ – CP, doanh nghiệp
phát hành không phải công bố thông tin về tình
hình thanh toán gốc, lãi và sử dụng vốn từ phát
hành trái phiếu. Doanh nghiệp phát hành trái
phiếu phải báo cáo với Bộ Tài chính các nội
dung: (i) Kế hoạch phát hành; (ii) Kết quả phát
hành; (iii) Tình hình thanh toán gốc, lãi và sử
11
dụng vốn từ phát hành trái phiếu . Như vậy, có
thể thấy quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư
trái phiếu chưa được bảo vệ. Điều này dẫn đến
khó khăn trong việc giám sát sử dụng vốn của
nhà đầu tư trái phiếu. Bên cạnh đó, trên thực tế,
thông tin tài chính trong báo cáo thường niên,
báo cáo bán niên, và báo cáo quý mặc dù phản
ánh số liệu tổng hợp trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhưng chưa phải là dữ
liệu phản ánh chi tiết thực trạng sử dụng vốn
thu được từ phát hành trái phiếu [1]. Khi thông
tin về thực trạng sử dụng và khả năng sinh lời
của vốn thu được từ phát hành trái phiếu không
đầy đủ, đối với trường hợp phát hành trái phiếu
không có bảo đảm, nhà đầu tư trái phiếu có thể
gặp rủi ro do khoản nợ không có tài sản bảo
đảm và khi công ty lâm vào tình trạng phá sản,

8

Điều 100, 101 và 102 Luật chứng khoán năm 2006 sửa
đổi, bổ sung năm 2010.
9
Theo Điều 10a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật chứng khoán năm 2010.

_______
10
11

Điều 31 Nghị định số 90/2011/NĐ – CP.
Điều 30 và Điều 32 Nghị định số 90/2011/NĐ – CP.

L.T.B. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 65-71

họ không được quyền ưu tiên so với chủ nợ
khác trong việc nhận lại khoản tiền gốc mua
trái phiếu.
3. Ghi nhận quyền của nhà đầu tư trái phiếu
doanh nghiệp
Các quy định về bảo vệ quyền lợi của nhà
đầu tư chứng khoán ở Việt Nam được quy định
ở Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán. Luật
doanh nghiệp hiện hành không quy định chi tiết
quyền của nhà đầu tư trái phiếu mà gián tiếp
bảo vệ quyền lợi của họ bằng các quy định về
phát hành trái phiếu và trả cổ tức. Cụ thể là:
“Công ty không thanh toán đủ cả gốc và lãi của
trái phiếu đã phát hành, không thanh toán hoặc
thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn
trong ba năm liên tiếp trước đó sẽ không được
12
quyền phát hành trái phiếu” và “Công ty cổ
phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông sau khi
công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các
nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp
13
luật” .
Pháp luật hiện hành chưa có quy định về
quyền yêu cầu của người sở hữu trái phiếu đối
với doanh nghiệp khi các điều kiện liên quan
đến phát hành có thể gây bất lợi cho họ. Mặc dù
Luật chứng khoán hiện hành và Nghị định số
90/2011/NĐ - CP quy định doanh nghiệp có thể
phát hành trái phiếu thông qua tổ chức bảo
14
lãnh nhưng không quy định trách nhiệm của
tổ chức bảo lãnh phát hành sau khi kết thúc đợt
chào bán đối với người mua trái phiếu.
Việt Nam có thể xem xét tham khảo kinh
nghiệm của Nhật Bản về bảo vệ nhà đầu tư trái
phiếu. Theo Luật công ty Nhật Bản, có thể thiết
lập cơ quan bảo vệ người sở hữu trái phiếu.
Điều 702 quy định trong trường hợp công ty
phát hành trái phiếu phải thiết lập cơ quan bảo
vệ người sở hữu trái phiếu, cơ quan này có

_______
12
Trừ trường hợp các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa
chọn theo khoản 2 và 3 Điều 127 Luật doanh nghiệp năm
2014.
13
Khoản 2 Điều 132 Luật doanh nghiệp năm 2014.
14
Điều 17 Nghị định số 90/2011/NĐ – CP.

69

trách nhiệm thanh toán trái phiếu, bảo toàn
khoản nợ và các hoạt động quản lý khác. Tuy
nhiên, quy định này không áp dụng đối với
trường hợp khi giá trị trái phiếu trên 100 triệu
Yên và trường hợp theo quy định của Bộ Tư
pháp không có lý do cho rằng công ty thiếu
biện pháp bảo vệ người sở hữu trái phiếu.
Ngoài ra, người sở hữu trái phiếu có thể yêu
cầu triệu tập hội nghị có sự tham gia của người
sở hữu trái phiếu, công ty phát hành, người
quản lý trái phiếu, và công ty nhận ủy thác để
trao đổi ý kiến. Quyền triệu tập người đại diện
hoặc người được ủy quyền của công ty phát
hành được quy định tại khoản 2 Điều 729 Luật
công ty. Hội nghị có thể thông qua nghị quyết
về gia hạn thanh toán trái phiếu, miễn trách
nhiệm hoặc tiến hành thủ tục tái cơ cấu, chấp
nhận người quản lý trái phiếu hoặc công ty
nhận ủy thác thực hiện các nội dung nghị quyết
trên cho người sở hữu trái phiếu; bầu và bãi
miễn người đại diện chủ sở hữu trái phiếu;
người thực thi nghị quyết; thay đổi biện pháp
bảo đảm đối với trái phiếu có bảo đảm [1].
So sánh với Nhật Bản, có thể thấy ở Việt
Nam, người sở hữu trái phiếu chưa được bảo vệ
đầy đủ bằng các quy định của Luật doanh
nghiệp, điều này dẫn đến khó khăn khi xác định
trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình
sử dụng vốn bằng phát hành trái phiếu.
4. Một số kiến nghị
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng pháp
luật và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của
một số nước trên thế giới, có thể đưa ra một số
kiến nghị sau:
Một là: cần quy định bắt buộc các doanh
nghiệp phải sử dụng dịch vụ xếp hạng tín nhiệm
để phát hành trái phiếu. Cần gấp rút thành lập tổ
chức xếp hạng tín nhiệm. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp có thể e ngại sử dụng dịch vụ xếp hạng
tín nhiệm hoặc có xu hướng cung cấp thông tin
không đúng sự thật nếu tổ chức xếp hạng tín
nhiệm không đảm bảo tính bảo mật thông tin.
Vì vậy, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý chặt
chẽ về hoạt động của tổ chức này, đảm bảo

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Giáo trình Luật kinh tế: Phần 2 - CĐ Đông Phương

Nố tiếp phần 1 cuốn giáo trình Luật kinh tế phần 2 với 3 chương cuối trình bày về pháp luật về hợp tác xã, pháp luật về phá sản, pháp luật về mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, giao kết hợp đồng mua bán, giải thể hợp tác xã,... Hãy tham khảo tài liệu này để giúp ích cho quá trình học tập và giảng dạy.


Giáo trình Hành nghề luật sư (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

Phần 1 giáo trình "Hành nghề luật sư" (Giáo trình đào tạo từ xa) gồm các chương sau: Khái quát chung về nghề luật sư, vai trò của luật sư trong tố tụng. Mời các bạn tham khảo giáo trình để tìm hiểu rõ hơn về nghề luật sư.


Bài giảng Pháp luật đại cương: Bài 4 - ThS. Lê Thị Anh Đào

Bài giảng Pháp luật đại cương bài 4: Quy phạm pháp luật trình bày nội dung về khái niệm quy phạm pháp luật, cơ cấu vi phạm pháp luật, phân tích cấu thành quy phạm pháp luật. Tham khảo tài liệu này để giúp ích cho quá trình học tập và giảng dạy.


PHÁP LỆNH CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ GIỐNG CÂY TRỒNG

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Căn cứ vào Nghị quyết số 21/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004; Pháp lệnh này quy định về giống cây trồng. C H Ư ƠN G I N H ỮN G Q U Y Đ ỊN H C...


Những vấn đề hiện đại về quản trị ngân hàng

Bài viết mang lại cách nhìn tổng quan về các vấn đề quản trị mà ngân hàng phải đối mặt. Trên cơ sở phân tích các đặc tính của ngân hàng, bài viết chỉ ra việc luôn luôn bị đặt trong tình trạng mang nghĩa vụ trả nợ nặng nề, rủi ro hệ thống và sự thiếu minh bạch về tài sản có là tính chất nổi trội của hoạt động ngân hàng.


Luận văn tốt nghiệp: Quy luật đầu tư phần 8

Điều 60. Tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Việt Nam 1. Nhà đầu tư được trực tiếp hoặc thông qua đại lý để tiêu thụ sản phẩm tại Việt Nam mà không bị giới hạn về địa bàn tiêu thụ; được làm đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các tổ chức, cá nhân khác có cùng loại sản phẩm sản xuất tại Việt Nam.


LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp về nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội; Căn cứ vào các Điều từ 127 đến 137 của Hiến pháp về nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của các Toà án nhân dân; Luật này quy định về tổ chức các Toà án nhân dân. CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1 Các Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án nhân dân xét xử những vụ án hình sự, những vụ án dân sự, lao...


Đề thi môn luật thuế lần 1

Những câu nhận định sau đúng hay sai, giải thích ( 2 điểm ) a ) tổ chức cá nhân chỉ trở thành đối tượng nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. b ) Doanh nghiệp ko đc phép chi đối với những khoản chi phí ko đc trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo khoản 2 điều 9 luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008


Vai trò của Pháp luật tư sản 2

Vai trò của Pháp luật tư sản 2 5.2.2. Chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân Phải nói rằng hiến pháp tư sản ra đời đã đem lại rất nhiều những quyền lợi cho dân chúng mà trước đây họ chưa từng được có. Địa vị pháp lí của công dân trong pháp luật tư sản được xác định bằng các quyền tự do dân chủ rộng rãi gấp nhiều lần so với địa vị pháp lí của người nông dân dưới chế độ phong kiến.Trong quá khứ cũng như hiện tại, chế định này bao giờ cũng...


NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của kỹ thuật xây dựng văn bản là những hoạt động liên quan đến việc xây dựng các văn bản Qui phạm pháp luật và các văn bản áp dụng pháp luật. - Những hoạt động này rất đa dạng, được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau như: Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, UBND các cấp... - Chính vì vậy việc nghiên cứu một cách toàn diện hoạt động XDVB góp phần tăng cường chất lượng văn bản, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. ·...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu