Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Báo cáo tổng quan về kiểm kê khoa học tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ - Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

Báo cáo nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng của tín ngưỡng thờ Hùng Vương tại các địa vực cư trú của cộng đồng người Việt trong phạm vi tỉnh Phú Thọ, nơi lưu truyền hình thức thờ phụng Hùng Vương. Bước đầu, tập hợp một cách có hệ thống những dữ liệu cụ thể do cộng đồng cung cấp, để đánh giá thực trạng hiện tồn của cơ sở vật chất cũng như sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng - lễ hội liên quan trực tiếp đến Hùng Vương; từ đó, có kế hoạch tiếp tục triển khai hoạt động sưu tầm, bảo tồn, khai thác giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng thờ Hùng Vương.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ KIỂM KÊ KHOA HỌC
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG Ở PHÚ THỌ
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

I. Thời gian thực hiện công tác kiểm kê khoa học
+ Giai đoạn 1 - từ 25 tháng 8 đến 30 tháng 9 năm 2010
+ Giai đoạn 2 và 3 - từ 5 tháng 10 năm 2010 đến 30 tháng 2 năm 2011
II. Mục đích của đợt kiểm kê khoa học
- Khảo sát và đánh giá thực trạng của tín ngưỡng thờ Hùng Vương tại các địa
vực cư trú của cộng đồng người Việt trong phạm vi tỉnh Phú Thọ, nơi lưu truyền hình
thức thờ phụng Hùng Vương .
- Bước đầu, tập hợp một cách có hệ thống những dữ liệu cụ thể do cộng đồng
cung cấp, để đánh giá thực trạng hiện tồn của cơ sở vật chất cũng như sinh hoạt văn
hóa tín ngưỡng - lễ hội liên quan trực tiếp đến Hùng Vương; từ đó, có kế hoạch tiếp
tục triển khai hoạt động sưu tầm, bảo tồn, khai thác giá trị di sản văn hóa tín ngưỡng
thờ Hùng Vương (như đã tiến hành ở những cấp độ và mức độ khác nhau từ nhiều
năm trước đây).
- Thu thập cứ liệu khoa học theo tiêu chí UNESCO đặt ra để phục vụ công tác
xây dựng hồ sơ, trình UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương”
là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
III. Về địa bàn kiểm kê khoa học
1. Đặc trưng của địa bàn cư trú và hệ thống sinh hoạt tín ngưỡng - lễ hội
gắn với nghi lễ thờ phụng Hùng Vương:
- Hệ thống các làng/thôn có liên quan đến việc phụng thờ và tham dự lễ hội
gắn với tín ngưỡng thờ các nhân vật thời đại Hùng Vương trong quá khứ là rất
lớn, trải dài - rộng trên một phạm vi không gian bao trùm gần khắp địa bàn phía
đông - bắc và tây - nam của tỉnh Phú Thọ (12/13 huyện, thị, thành phố - 74/275
xã/phường/thị trấn với 109 làng/thôn/khu dân cư); đặc biệt tập trung ở 2 vùng

1

trung tâm là các xã/phường/thị trấn thuộc thành phố Việt Trì và huyện Lâm
Thao.
- Trong không gian văn hóa tín ngưỡng tại hầu hết các làng thuộc 12
huyện, thị, thành phố của tỉnh Phú Thọ, nhân vật được phụng thờ tại từng di
tích, được phối thờ với các nhân vật khác. Chúng tôi xác định đối tượng kiểm kê
bước đầu chủ yếu dừng lại, đi sâu vào việc thờ phụng Hùng Vương; các nhân
vật khác sẽ được xem xét như cứ liệu tham khảo để nhận diện quy mô trong
cùng một không gian tín ngưỡng.
2. Việc lựa chọn các làng để tiến hành kiểm kê, tập trung chủ yếu vào
một số vấn đề sau
Căn cứ vào các bản Ngọc phả, Thần tích, Sắc phong, một số bản chúc văn
hiện đang lưu giữ tại khu vực đền Hùng, các điện thờ tại các xã/ thuộc huyện
Lâm Thao, thành phố Việt Trì,… cùng tài liệu Hán Nôm lưu trữ tại Viện nghiên
cứu Hán Nôm (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) trong đó có ghi các tước hiệu,
mỹ tự của Hùng Vương được các triều đình phong kiến phong tặng (chủ yếu
hiện còn từ thế kỷ XV trở về sau), việc xác định các làng/thôn/khu có sinh hoạt
tín ngưỡng thờ Hùng Vương được đặt ra theo một số tiêu chí:
- Một là, đây trước hết phải là nơi đã và đang hiện tồn di tích thờ phụng
đối tượng được nêu đích danh là Hùng Vương hoặc tên các đời Hùng Vương;
- Hai là, tại những nơi thờ phụng HùngVương, nhưng lại được dân gian
truyền gọi (theo thói quen ngắn gọn hoặc vì lý do kiêng kỵ,…) bằng các mỹ tự
hoặc hiệu danh như: Ất Sơn Thánh Vương, Viễn Sơn Thánh Vương, Đột Ngột
Cao Sơn và Cao Sơn Thánh Vương;
- Ba là, những nơi thờ phụng đảm bảo một trong hai tiêu chí trên, nhưng
chỉ tồn tại trong quá khứ (năm 1945 trở về trước), hiện không còn di tích hoặc
đã/đang thành phế tích, vẫn được nêu ra để xem xét, phục vụ việc xác định
không gian văn hóa tín ngưỡng thờ Hùng Vương từ trước đến nay.
- Những địa phương có di tích tín ngưỡng gắn với các danh xưng khác
(Đức Thánh Sa Lộc, Đại Vương Thượng đẳng thần, Hiển Lang Đại Vương,

2

Hiển Công Đại Vương, Đông Hải Đại Vương,...), xét về bản chất, có biểu hiện
của việc thờ cúng Hùng Vương, được xếp vào diện tồn nghi, khảo cứu sau này.
Nhìn chung, các làng/thôn/khu dân cư được kiểm kê lần này đều nằm trong
khu vực có điều kiện tự nhiên tương tác giữa vùng bán sơn địa, mật độ các dãy
núi thưa dần từ hướng tây - nam (thuộc phạm vi các huyện Yên Lập, Thanh Sơn,
Thanh Thủy, Tam Nông,Cẩm Khê) đến hướng đông - bắc (các vùng thuộc
huyện Lâm Thao, thành phố Việt Trì, Phù Ninh, Thị xã Phú Thọ, Thanh Ba,
Đoan Hùng, Hạ Hòa), để rồi chỉ còn hệ thống đồi núi thấp nhô lên giữa vùng
đồng bằng trung du, quanh khu vực Nghĩa Lĩnh. Nhìn về lịch sử cội nguồn, cách
ngày nay nhiều nghìn năm, nơi đây đã trở thành một vị trí đặc biệt, có vị thế
trung tâm cả về chặng đường khởi nghiệp của cộng đồng dân cư, lẫn địa bàn lịch
sử xã hội - văn hóa, hình thành nên trung tâm của nhà nước Văn Lang do Hùng
Vương lập nên. Điều dễ nhận diện qua thực địa là, hướng liên kết theo mạch
kiến tạo của đồi núi từ tây - bắc đến đông - nam trên mặt bằng bán sơn địa này
cũng chính là hướng vận động của 3 dòng chủ lưu lớn: sông Thao, sông Lô,
sông Đà, góp phần hợp lực tạo ra những dải đất ven màu mỡ, thành nơi tụ cư và
lập cư cho cộng đồng cư dân bản địa, đồng thời cũng dồn tạo ra/hình thành nên
vùng đồng bằng châu thổ phía hạ nguồn. Chính vì vậy, mọi hoạt động sinh tồn
của cư dân trong phạm vi không gian địa lý này về căn bản, qua thời gian vẫn
chỉ là nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi và trồng trọt. Các cứ liệu khảo cổ học
trong vòng trên dưới nửa thể kỷ qua đã cho thấy, trong phạm vi không gian địa
lý này, hiện tồn những di chỉ cư trú, di chỉ công xưởng, di chỉ mộ táng,… của
các nền văn hóa khảo cổ học: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn.
Nhìn từ góc độ địa - văn hóa, dân cư của các tộc người Việt - Mường có
nguồn gốc hình thành từ lâu đời. Tín ngưỡng của cộng đồng này là tín ngưỡng
đa thần, trong đó tín ngưỡng thờ thần núi, thờ tổ tiên, thờ thành hoàng và Phật
giáo rất đậm nét. Nhìn về nguồn gốc lịch sử, vùng đất này nằm trong địa bàn
quần cư và giao thoa văn hóa Văn Lang - Âu Lạc cửa ngõ giao lưu giữa vùng
đồng bằng với các vùng văn hóa Tây Bắc và một phần Việt Bắc. Các thế hệ dân
cư có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau về lịch sử, chính trị, kinh tế - văn hoá
3

xã hội. Do vùng đất này trải qua quá trình hình thành lâu dài và lưu giữ nhiều sự
kiện lịch sử quan trọng gắn với nhiều nghìn năm cư trú, dựng nước và giữ nước
của người Việt cổ, bên cạnh các tộc người khác.
IV. Phương pháp thực hiện
Phương pháp được sử dụng để thu thập thông tin gồm phỏng vấn bảng hỏi,
phỏng vấn sâu, ghi chép thông qua thảo luận nhóm, hồi cố lịch sử, thống kê và
theo quan điểm tôn trọng tiếng nói của cộng đồng trong việc đồng thuận với nội
dung giới thiệu về di sản văn hóa do chính cộng đồng sáng tạo và bảo tồn trong
lịch sử. Kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (thư tịch học, khảo
cổ học, văn bản học, bảo tàng học,…) trong việc phân tích, đối chiếu, so sánh
các nguồn tư liệu để xác định đối tượng khảo sát, kiểm kê.
V. Một số khó khăn
- Trên bước đường phát triển của lịch sử xã hội và những biến đổi của cơ
tầng địa lí tự nhiên, của nhiều giai đoạn tổ chức hành chính khác nhau, nhiều địa
danh đã bị biến đổi, nhiều địa danh cũ đã bị thay thế bằng thứ ngôn ngữ hiện
đại, người am hiểu không còn, thế hệ trẻ không được tiếp nhận một cách hệ
thống và bền vững từ những hình thức trao truyền bằng văn bản học, nhiều
cương vực hành chính đã biến cải, thay đổi hoặc mở rộng (cả về địa vực cư trú
lẫn tên gọi hành chính), nhiều tập tục sinh hoạt tín ngưỡng và thực hành lễ hội bị
mai một so với thời kỳ cách đây vài chục năm (đặc biệt là so với năm 1945 trở
về trước), bên cạnh sự lấn át của văn hóa đương đại đối với văn hóa cổ truyền.
Sự tiếp nối sinh hoạt văn hóa truyền thống giữa các thế hệ bị ngắt quãng do
chiến tranh và điều kiện lịch sử - xã hội.
- Trong quá trình tiến hành điều tra trực tiếp tại các địa phương, chúng tôi
nhận thấy, rất nhiều di tích gắn với tín ngưỡng phụng thờ Hùng Vương (đình,
đền, chùa, miếu) đã bị phá hủy hoặc đang xuống cấp nghiêm trọng. Không ít các
di tích thờ tự được người dân khi phục dựng đã chuyển sang tại vị trí hoàn toàn
mới, hiện đại hóa trong kiến trúc và do vậy, không còn/không có sức hút về mặt
tâm linh với cộng đồng.

4

- Tại hầu khắp các địa phương được kiểm kê, đội ngũ cán bộ quản lý văn
hóa và cán bộ lãnh đạo cấp xã hầu hết đều trẻ tuổi, năng lực hiểu biết về văn hóa
truyền thống còn hạn chế hoặc yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu quản lý
văn hóa và giúp cộng đồng sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn di sản của địa phương.
Chính vì vậy, nhiều di tích có giá trị bị hủy hoại, xuống cấp của các
làng/thôn/khu chưa được quan tâm để lập kế hoạch phục hồi (thông qua hình
thức xã hội hóa) hoặc đề đạt các cấp có thẩm quyền thẩm định, cấp kinh phí
phục dựng, sửa chữa, tôn tạo…
- Trong khoảng chục năm trở lại đây (từ 1996), hầu hết các địa bàn dân cư
nguyên là thôn, xóm, trại hoặc làng đã được chuyển đổi/phân chia thành các khu
dân cư, đánh số từ thấp đến cao (khu 1, khu 2, khu 3,…). Thực tế đó vô hình
dung đã xóa dần một cách tự nhiên tên gọi truyền thống của hàng loạt xóm,
làng, những tự danh vốn đã đi theo cộng đồng dân cư hàng nghìn năm, ăn sâu
vào tiềm thức văn hóa con người, gắn với đặc điểm, ngọn nguồn xuất xứ lập
xóm, lập làng cùng hàng loạt các giá trị văn hóa truyền thống khác. Cạnh đó, có
những làng/thôn, do diện tích cư trú rộng, dân cư đông, đã được chính quyền
chia thành nhiều khu dân cư. Và như vậy, gần như chỉ có khu dân cư trực tiếp
hiện tồn di tích tín ngưỡng là quan tâm, hiểu biết (ở những mức độ khác nhau)
về đối tượng thờ phụng ở địa phương mình. Các khu dân cư khác lâm vào tình
trạng tâm lý bị xa rời di tích tín ngưỡng, ý thức cùng trách nhiệm dần phai nhạt,
mang tính khách thể hóa.
- Thực trạng cho thấy, nhiều di tích tín ngưỡng gắn trực tiếp đến việc thờ
phụng Hùng Vương ở khá nhiều làng quê đã bị phá hủy (do nhiều nguyên nhân
khác nhau) từ hàng chục năm về trước. Không gian thờ tự và sinh hoạt tín
ngưỡng ở một số làng/thôn bị chính quyền cấp xã hoặc tư nhân sử dụng, chiếm
dụng. Do vậy, việc hồi cố, phục dựng diện mạo sinh hoạt tín ngưỡng xa xưa ở
nhiều thôn/làng là bất khả hoặc mờ nhạt. Điều đó gây ra những tổn thất văn hóa
khó bù đắp nổi.
- Tín ngưỡng thờ Hùng Vương vốn là một hiện trạng sinh hoạt văn hóa
xuất phát từ một thời đại được truyền lưu bằng huyền thoại. Mọi nhân vật liên
5

Tài liệu cùng danh mục Khoa học xã hội

Tiểu luận: Lý luận về con người và vấn đề về đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Tiểu luận với đề tài "Lý luận về con người và vấn đề về đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước" trình bày về: lý luận về con người, vấn đề đào tạo nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.


Tiểu luận: Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở việt nam', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Hội nhập kinh tế quốc tế và những thách thức

Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bản dẫn


Đề tài triết học " SỰ KHÁC BIỆT TRONG QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VÀ J.RAWLS VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI "

Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan niệm của C.Mác và của J.Rawls về công bằng xã hội; làm rõ thêm sự khác biệt trong quan niệm của các ông về vấn đề này, nhất là sự khác biệt trong quan điểm về xuất phát điểm bình đẳng dựa trên sự tự nguyện về quan hệ khế ước bảo đảm công bằng xã hội. Cả C.Mác và J.Rawls đều thấy khế ước luôn gắn với quan hệ hợp tác và tự nguyện. Song, khác với J.Rawls, C.Mác không tuyệt đối hoá, lý tưởng hoá và trừu tượng...


Báo cáo tốt nghiệp: Các tội phạm về đánh bạc và thực tiễn xét xử loại tội phạm này ở địa phương

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm hình sự ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp xâm phạm đến nền kinh tế, trật tự công cộng, tính mạng sức khoẻ con người. Trong đó đặc biệt phải kể đến các tội phạm về đánh bạc. Các tội phạm này có xu hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ với sự tham gia của các đối tượng đủ mọi lứa tuổi, thành phần dân tộc, tôn giáo, giới tính … Đáng quan tâm là số lượng thanh thiếu niên tham gia với xu hướng ngày càng đông. Các...


Đề tài "Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế"

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài "phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Luận văn thạc sĩ: Tình trạng nghiện Internet ở học sinh trung học cơ sở (THCS) tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Luận văn thạc sĩ: Tình trạng nghiện Internet ở học sinh trung học cơ sở (THCS) tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đưa ra số liệu thống kê cụ thể về tỷ lệ học sinh nghiện internet tại thành phố Biên Hòa, các đặc điểm của học sinh THCS nghiện internet, một số biểu hiện tâm lý, nguyên nhân, hậu quả của học sinh nghiện internet và bàn luận về thực trạng trên để kiến nghị một số giải pháp khắc phục.


Bài thuyết trình Thực hiện Luật Bình đẳng giới thách thức và giải pháp

Bài thuyết trình Thực hiện Luật Bình đẳng giới thách thức và giải pháp trình bày về một số vấn đề đặt ra trong Luật Bình đẳng giới; thách thức và giải pháp thực hiện Luật Bình đẳng giới một cách hiệu quả. Mời các bạn tham khảo bài thuyết trình để nắm bắt nội dung cụ thể.


Lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng

Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây,... Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn.


Đề tài "Cuộc đấu tranh giải phóng nô lệ ở Bắc Mỹ"

Ngay từ khi mới bắt đầu đấu tranh giành độc lập,nước Mỹ trong bản tuyên ngôn dân quyền do George Mason khởi thảo đã thẳng thừng đề xuất”Tất cả nhân loại sinh ra đều quyền tự do,độc lập và đều có nhân quyền do thiên phú” Và trong bản tuyên ngôn độc lập do Thomas Fefferson soạn thảo ngày 4-7- 1776 cũng viết “Toàn nhân loại sinh ra đều bình đẳng”


Tài liệu mới download

TCVN 7801:2008
  • 02/05/2018
  • 12.240
  • 254

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu