Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ảnh hưởng của nguồn lực tương tác lên giá trị đồng tạo sinh và hiệu ứng truyền miệng (Một nghiên cứu trong ngành dịch vụ y tế)

Bài viết này nhằm xây dựng và kiểm định mô hình quan hệ giữa các yếu nguồn lực tương tác của bệnh viện và bệnh nhân với cảm nhận của bệnh nhân về giá trị đồng tạo sinh và hiệu ứng truyền miệng trong dịch vụ y tế.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Science & Technology Development, Vol 18, No.Q4- 2015
ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN LỰC TƯƠNG TÁC LÊN GIÁ TRỊ ĐỒNG TẠO SINH VÀ HIỆU
ỨNG TRUYỀN MIỆNG – MỘT NGHIÊN CỨU TRONG NGÀNH DỊCH VỤ Y TẾ.
THE INFLUENCE OF OPERANT RESOURCES ON CO-CREATION VALUE AND WORD-OFMOUTH – A STUDY OF HEALTH CARE SERVICES.
Bùi Văn Dự1
Phạm Ngọc Thúy2
1
2

Công ty Tư vấn Chiến lược Win-Win; bvdu365@gmail.com

Khoa Quản lý Công nghiệp – Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-HCM; pnthuy@hcmut.edu.vn
TÓM TẮT
Bài báo này nhằm xây dựng và kiểm định mô hình quan hệ giữa các yếu nguồn lực tương tác của

bệnh viện và bệnh nhân với cảm nhận của bệnh nhân về giá trị đồng tạo sinh và hiệu ứng truyền miệng
trong dịch vụ y tế. Dữ liệu được thu thập từ 461 bệnh nhân đã khám, chữa bệnh ở TPHCM trong vòng 3
tháng tính đến thời điểm khảo sát. Kết quả phân tích SEM cho thấy các yếu tố nguồn lực tương tác của
bệnh viện có tác động đến giá trị đồng tạo sinh mạnh hơn các yếu tố nguồn lực tương tác của bệnh
nhân. Nguồn lực tương tác của bệnh viện tác động đến cả giá trị đồng tạo sinh và hiệu ứng truyền
miệng. Giá trị đồng tạo sinh cũng có tác động ý nghĩa lên hiệu ứng truyền miệng. Một số hàm ý quản trị
cũng được rút ra từ nghiên cứu này.
Từ khóa: Quan điểm trọng dịch vụ, Nguồn lực tương tác, Giá trị dịch vụ đồng tạo sinh, Hiệu ứng
truyền miệng, Dịch vụ y tế.
ABSTRACT
This paper aims to develop and test a relationship model of provider’s operant resources and
customer’s operant resources on co-create value and word-of-mouth in health care services. Data were
collected from 461 patients who have used health care services in HCMC. The SEM results show that
the impact of provider’s operant resources on co-creation value is stronger than the impact of
customer’s ones. The provider’s operant resources influence both co-creation value anf word-of-mouth;
co-creation also has significant impact on word-of-mouth. Managerial implications were also
discussed.
Key words: Service dominant logic, Operant resource, Co-creation value, Word-of-Mouth, Health
care service.

Trang 94

TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 18, SOÁ Q4- 2015
1.GIỚI THIỆU
Quan điểm trọng dịch vụ (service dominant
logic) cho rằng giá trị và tạo sinh giá trị là những
vấn đề cốt lõi trong thực tiễn cũng như trong
nghiên cứu ngành dịch vụ [1] hiện nay. Trong
quá trình dịch vụ, giá trị dịch vụ được tạo sinh
thông qua việc sử dụng các nguồn lực vật chất và
tương tác của cả hai phía, tổ chức cung cấp dịch
vụ và khách hàng [2; 27]. Đặc biệt đối với những
ngành dịch vụ có mức độ tương tác cao như giáo
dục, y tế [4; 5] thì quá trình tương tác đòi hỏi
khách hàng phải sử dụng nguồn lực tương tác của
mình nhiều hơn. Vấn đề đặt ra là phải chăng
trong những ngành này, so với nguồn lực vật
chất, vai trò của nguồn lực tương tác cũng quan
trọng đáng kể? Nghiên cứu này nhằm xây dựng
một mô hình quan hệ giữa các yếu tố thuộc
nguồn lực tương tác của tổ chức dịch vụ và khách
hàng với giá trị dịch vụ đồng tạo sinh và hiệu ứng
truyền miệng theo quan điểm của khách hàng.
Ngành dịch vụ y tế sẽ được nghiên cứu chọn để
kiểm định mô hình quan hệ này. Lý do là Việt
Nam hiện có hơn 65.000 tổ chức y tế tư nhân
đang hoạt động trên toàn quốc, nhưng thực tế dù
đã được đầu tư tốt về cơ sở vật chất nhưng số
bệnh nhân đến khám chữa bệnh vẫn còn ít, trong
khi các bệnh viện công, đặc biệt là tuyến trung
ương vẫn luôn bị quá tải. Câu hỏi đặt ra là tại sao
các bệnh viện tư với nguồn lực vật chất tốt như
vậy nhưng vẫn chưa được bệnh nhân tin tưởng
lựa chọn khám chữa bệnh? Làm thế nào để cải
thiện nhằm thu hút bệnh nhân? Đây là vấn đề mà
các nhà quản lý bệnh viện tư đang quan tâm.
Tiếp theo phần giới thiệu, bài báo sẽ trình
bày cơ sở lý thuyết của các khái niệm bao gồm
nguồn lực tương tác của tổ chức và khách hàng,
giá trị đồng tạo sinh và hiệu ứng truyền miệng;
kế đến là phương pháp nghiên cứu, phân tích và

thảo luận kết quả; cuối cùng là phần kết luận
cùng với một số hàm ý quản trị và hạn chế của
đề tài.
2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU
2.1. Các khái niệm nghiên cứu
Giá trị dịch vụ và giá trị dịch vụ đồng tạo
sinh:
Giá trị dịch vụ là đánh giá tổng quan của
khách hàng về tiện ích của dịch vụ sau khi so
sánh giữa lợi ích nhận được và chi phí bỏ ra [6].
Vargo và cộng sự cho rằng doanh nghiệp dịch vụ
chỉ đưa ra giá trị đề nghị (value proposal), còn
giá trị chỉ được hiện thực hóa khi khách hàng tiêu
dùng dịch vụ, gọi là giá trị sử dụng (value-in-use)
[1]. Như vậy, giá trị dịch vụ có được là do sự
tương tác giữa doanh nghiệp dịch vụ và khách
hàng, doanh nghiệp tạo ra giá trị tiềm năng và
khách hàng khi sử dụng dịch vụ sẽ tạo sinh giá trị
thực sự. Từ đó, khái niệm Giá trị đồng tạo sinh
được hình thành. Nói cách khác, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ không thể tạo ra giá trị một
cách đơn phương, cũng như khách hàng không
chỉ đơn thuần nhận dịch vụ mà chính khách hàng
cùng tham gia tạo ra những tiện ích/ trải nghiệm
phù hợp với họ [2].Trong quá trình đồng tạo sinh,
cả hai phía sẽ sử dụng nguồn lực, bao gồm nguồn
lực vật chất (operand resource) và nguồn lực
tương tác (operant resource) của mình để tham
gia. Nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh
ngành y tế nên nguồn lực doanh nghiệp gọi là
nguồn lực bệnh viện và nguồn lực của khách
hàng sẽ gọi là nguồn lực bệnh nhân.
Nguồn lực tương tác của tổ chức: Nguồn
lực tổ chức bao gồm tất cả các yếu tố đầu vào sử
dụng trong quá trình hoạt động của tổ chức, đây
là thế mạnh mà một tổ chức có thể vận dụng để

Trang 95

Science & Technology Development, Vol 18, No.Q4- 2015
xây dựng và thực thi chiến lược [7]. Theo quan

trọng dịch vụ, để có thể tương tác tốt trong quá

điểm trọng dịch vụ, quá trình tương tác để tạo
sinh ra giá trị đòi hỏi các bên phải liên tục vận
dụng các nguồn lực, chủ yếu là các nguồn lực
tương tác của mình để tham gia [2; 3]. Đối với tổ
chức thì các nguồn lực tương tác gồm kiến thức,
kỹ năng, bí quyết, danh tiếng, các mối quan hệ,
sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu [8; 9]. Do bối cảnh
thực hiện là ngành y tế nên nghiên cứu này chỉ
tập trung vào hai yếu tố nguồn lực của bệnh viện
là: Danh tiếng bệnh viện và Kỹ năng chuyên môn
của nhân viên. Danh tiếng bệnh viện để chỉ

trình khám, chữa bệnh thì bệnh nhân cũng phải
bỏ ra nguồn lực tương ứng để có thể sử dụng dịch
vụ. Nói cách khác, để quá trình khám và chữa
bệnh đạt hiệu quả thì ngoài năng lực chuyên môn
của nhân viên bác sĩ, đòi hỏi bệnh nhân phải biết
cách hợp tác tốt bằng cách mô tả rõ triệu chứng
bệnh/tình trạng sức khỏe của mình ra sao, đang
sử dụng thuốc gì, dị ứng với thuốc gì, … để bác
sĩ có thể chọn cách điều trị/kê toa thuốc phù hợp.
Do đó, nghiên cứu này tập trung vào 3 yếu tố là
Trạng thái tâm lý bệnh nhân (cảm xúc), Kiến

điểm nhấn, ấn tượng của cộng đồng khi nói về
bệnh viện, đây là kết quả tích lũy thông qua quá
trình giao tiếp, tương tác [10]. Nhìn theo góc độ
marketing, danh tiếng tổ chức gắn liền với ấn
tượng của khách hàng đối với những nhân viên
mà họ tiếp xúc. Do vậy, trong dịch vụ y tế, danh
tiếng bệnh viện thường đến từ sự tin tưởng, đánh

thức bệnh nhân và Thời gian tiêu tốn của bệnh
nhân cho việc khám và chữa bệnh. Trạng thái
tâm lý còn gọi là tâm trạng, để chỉ trạng thái cảm
xúc nhất thời của một người nào đó trong một
tình huống cụ thể [16]. Các tác giả McNair và
cộng sự đã xây dựng bộ thang đo POMS (Profile
of Mood States) gồm 65 biến để đo lường khái

giá cao của cộng đồng đối với bệnh viện về chất
lượng dịch vụ, khả năng điều trị, thủ tục khám
chữa bệnh hợp lý, hoặc từ sự thân thiện, tận tâm
của nhân viên. Danh tiếng tổ chức là một trong
những tài sản vô hình có giá trị nhất [11] và là lợi
thế cạnh tranh của tổ chức [12; 13]. Kỹ năng
nhân viên để chỉ kỹ năng chuyên môn của nhân
viên, đó là khả năng nhận thức vấn đề, tổ chức
thông tin và xác định giải pháp cụ thể trong một
tình huống cụ thể để hành động. Đôi khi nhờ có
kỹ năng chuyên môn mà nhân viên (bác sĩ, nhân
viên y tế) có thể hành động phản xạ để giải quyết
vấn đề [14]. Đây là nguồn lực quan trọng trong
quá trình tương tác để tạo sinh giá trị [2; 15; 16;
17].

niệm trạng thái tâm lý con người ứng với 6 trạng
thái tâm lý khác nhau [16]. Xét trong bối cảnh
dịch vụ y tế, trạng thái tâm lý của bệnh nhân
thường thiên về cảm xúc tiêu cực vì liên quan
đến sức khỏe, đôi khi là tính mạng nên bệnh nhân
thường lo lắng, hồi hộp chờ nghe thông tin (bác
sĩ chẩn đoán bệnh, kết quả xét nghiệm, …) về
tình trạng sức khỏe của mình. Do vậy, nghiên
cứu tập trung vào trạng thái tâm lý căng thẳng
của bộ thang đo POMS (tension - gồm 9 biến).
Kiến thức bệnh nhân là những hiểu biết, trải
nghiệm của bệnh nhân về các vấn đề có liên quan
đến quá trình khám, chữa bệnh cũng như vấn đề
sức khỏe mà họ đang gặp phải. Theo các tác giả
Cegala và cộng sự, trao đổi thông tin giữa bác sĩ
và bệnh nhân là rất quan trọng, để đo lường hiệu
quả của quá trình giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh
nhân các tác giả này đã xây dựng bộ thang đo
MCCS (Medical Communication Competence
Scale) [29]. Trong đó, 16 biến thể hiện việc bệnh

Nguồn lực tương tác của khách hàng:
Nguồn lực tương tác của khách hàng bao gồm
năng lượng, cảm xúc, sức khỏe, kiến thức, kỹ
năng, quan hệ xã hội, … [15]. Theo quan điểm

Trang 96

TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 18, SOÁ Q4- 2015
nhân tự đánh giá năng lực giao tiếp có một phần

sàng phối hợp và tập trung tương tác nhiều hơn

thể hiện kiến thức của bệnh nhân về quá trình
khám chữa bệnh. Do vậy, nghiên cứu này sẽ căn
cứ vào MCCS để xây dựng thang đo kiến thức
bệnh nhân. Thời gian tiêu tốn của bệnh nhân
để chỉ thời gian mà bệnh nhân phải bỏ ra để sử
dụng dịch vụ khám chữa bệnh. Đây là nguồn lực
tương tác có liên quan đến quá trình trao đổi/
tương tác giữa bên cung cứng và bên nhận dịch
vụ [18]. Thời gian này cần thiết cho việc khám,
chữa bệnh (thời gian khám, chờ kết quả xét
nghiệm…). Tuy nhiên, nếu bệnh nhân phải chờ

với bệnh viện dẫn đến giá trị đồng tạo sinh tốt
hơn. Kế đến, bệnh nhân khi tìm chỗ khám chữa
bệnh thường chọn các bệnh viện có uy tín để sử
dụng dịch vụ. Uy tín hay danh tiếng bệnh viện là
ấn tượng của cộng đồng đối với tổ chức được tích
lũy theo thời gian [10], được xem là nguồn lực
tương tác của bệnh viện và cũng có mối tương
quan dương với nhận thức của khách hàng về
dịch vụ. Vì vậy, nếu bệnh nhân đánh giá danh
tiếng bệnh viện cao thì họ sẽ cảm nhận giá trị
đồng tạo sinh cao tương ứng. Từ đó, giả thuyết

đợi lâu họ sẽ có cảm giác mệt mõi, không hài
lòng.

H1a và H2a được phát biểu như sau:

Hiệu ứng truyền miệng: Hiệu ứng truyền
miệng để chỉ xu hướng nói với người khác về
cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ/nhà
cung cấp mà họ đã trải nghiệm dịch vụ [19], khi
khách hàng găp dịch vụ lỗi hoặc cảm thấy họ
không được đối xử công bằng thì họ có xu hướng
nói xấu về dịch vụ/nhà cung cấp với người khác
[20]. Ngược lại, khách hàng sẽ nói tốt về dịch vụ/
nhà cung cấp với người khác nếu họ cảm thấy hài
lòng [21] hoặc cảm nhận được giá trị dịch vụ là
xứng đáng [22]. Nghiên cứu này chỉ xem xét hiệu
ứng truyền miệng tích cực.
2.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
Quan hệ giữa nguồn lực bệnh viện và giá
trị dịch vụ đồng tạo sinh: các học giả theo quan
điểm trọng dịch vụ cho rằng kiến thức, kỹ năng là
nguồn lực tương tác có vai trò rất quan trọng
trong quá trình tương tác nhằm cùng tạo sinh giá
trị [1; 2; 15; 16; 17]. Do vậy, khi khám chữa
bệnh, bệnh nhân sẽ cảm thấy an tâm hơn, tin
tưởng hơn nếu thấy nhân viên bệnh viện thực
hiện các thao tác, công việc một cách thành thạo,
điềm tĩnh, không sai sót; khi đó bệnh nhân sẽ sẵn

H1a: Kỹ năng nhân viên bệnh viện có tác
động dương đến giá trị dịch vụ đồng tạo sinh.
H2a: Danh tiếng bệnh viện có tác động
dương đến giá trị dịch vụ đồng tạo sinh
Quan hệ giữa nguồn lực bệnh nhân và giá
trị dịch vụ đồng tạo sinh: Trước hết là kiến thức
bệnh nhân, kiến thức của khách hàng là một
trong các nguồn lực tác động đến giá trị dịch vụ
[23]. Đối với dịch vụ y tế, để xác định bệnh, bác
sĩ phải hỏi bệnh nhân về các triệu chứng đang
gặp là gì, nếu bệnh nhân trình bày cụ thể, rõ ràng
thì bác sĩ sẽ dễ dàng chẩn đoán và điều trị bệnh
hơn là không nói được các triệu chứng gặp phải.
Kế đến là trạng thái tâm lý bệnh nhân, khi đi
khám chữa bệnh thì hầu hết bệnh nhân đều có
tâm lý lo lắng, căng thẳng. Theo đó, tình trạng
sức khỏe càng xấu thì trạng thái tâm lý của bệnh
nhân càng căng thẳng hơn. Tuy nhiên, nếu bệnh
nhân nào có tâm lý càng căng thẳng, hồi hộp
nhưng trong quá trình chữa bệnh được bác sĩ giải
thích cặn kẻ, tư vấn hướng điều trị rõ ràng thì họ
sẽ cảm nhận giá trị đồng tạo sinh cao hơn. Ngoài
ra, việc tiêu tốn nguồn lực thời gian chờ đợi để
được phục vụ thường có ảnh hưởng tiêu cực đến
cảm nhận của khách hàng về dịch vụ [24]. Việc

Trang 97

Science & Technology Development, Vol 18, No.Q4- 2015
cùng phối hợp, tương tác để tạo ra giá trị dịch vụ

nghiệm tốt mà họ đã có khi khám chữa bệnh tại

với mức thời gian không hợp lý sẽ làm cho bệnh
nhân cảm thấy giá trị dịch vụ đồng tạo sinh chưa
thật sự tốt như mong muốn. Do vậy, nếu bệnh
nhân phải tiêu tốn nhiều thời gian hơn thì họ có
xu hướng đánh giá giá trị dịch vụ đồng tạo sinh
không cao. Từ các biện luận trên, giả thuyết H3,
H4 và H5 được phát biểu như sau:

đây. Hơn nữa, nếu bệnh nhân đánh giá nguồn lực
bệnh viện cao thì họ cũng sẽ nói tốt về bệnh viện
với người khác. Đó là do đặc điểm của dịch vụ y
tế, người đi khám chữa bệnh thường tìm hiểu
thông tin về bệnh viện trước khi đi, còn người đã
khám và có kết quả tốt thì cũng thường giới thiệu
cơ sở y tế/bác sĩ đã khám cho người khác khi có
nhu cầu. Do đó, có thể phát biểu rằng: nguồn lực
bệnh viện theo cảm nhận của bệnh nhân có tác
động dương đến hiệu ứng truyền miệng của bệnh
nhân. Từ biện luận trên, các giả thuyết H6, H1b

H3: Kiến thức về bệnh của bệnh nhân
có tác động dương đến giá trị dịch vụ đồng tạo
sinh.
H4: Trạng thái tâm lý của bệnh nhân có
tác động dương đến giá trị dịch vụ đồng tạo sinh.
H5: Thời gian tiêu tốn của bệnh nhân có tác
động âm đến giá trị dịch vụ đồng tạo sinh.
Tác động của nguồn lực bệnh viện, giá trị
dịch vụ đồng tạo sinh đến hiệu ứng truyền
miệng: Khi bệnh nhân cảm nhận giá trị dịch vụ
mà họ cùng tạo sinh thông qua tương tác với
bệnh viện là xứng đáng thì họ sẽ nói tốt với
người khác về những ấn tượng và những trải

và H2b được phát biểu như sau:
H6: Giá trị dịch vụ đồng tạo sinh có tác
động dương đến hiệu ứng truyền miệng
H1b: Kỹ năng của nhân viên bệnh viện có
tác động dương đến hiệu ứng truyền miệng.
H2b: Danh tiếng bệnh viện có tác động
dương đến hiệu ứng truyền miệng
Từ các biện luận trên, mô hình nghiên cứu
được đề nghị như sau:




Hình 1. Mô hình nghiên cứu

3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai
đoạn, nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính
thức. Giai đoạn sơ bộ phỏng vấn 5 nhân viên y tế
và 5 người có sử dụng dịch vụ y tế để điều chỉnh,

Trang 98

bổ sung các thang đo kế thừa từ các nghiên cứu
trước cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.
Nghiên cứu chính thức thực hiện phỏng vấn trực
tiếp bằng bản câu hỏi có cấu trúc, đáp viên là
những người đã khám, chữa bệnh tại các cơ sở y
tế ở TP.HCM trong vòng 3 tháng tính từ thời

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

CT Scan trong tai biến mạch máu não part 6

Tai biến mạch máu não có hai loại: nhồi máu não (do tắc mạch) hoặc chảy máu não (do vỡ mạch). Các triệu chứng thần kinh trung ương khu trú biểu hiện nhanh, ngay tức thì khi tổn thương mạch máu não xảy ra, nên tai biến mạch máu não còn được gọi là đột quỵ. Đột quỵ là bệnh của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay, nó có tần suất xuất hiện là 1,5 ca/1000 người/năm; tần suất này ở lứa tuổi trên 75 lên đến 10 ca/1000 người/năm...


Bài giảng Viêm nói chung

Mục tiêu của bài giảng "Viêm nói chung" là cung cấp các kiến thức giúp sinh viên có thể: Trình bày được định nghĩa, các nguyên nhân và bản chất của viêm; mô tả, giải thích được 4 giai đoạn của quá trình viêm và ý nghĩa của từng giai đoạn; kể tên, phân tích được 7 loại viêm theo mô bệnh học và 3 loại viêm theo lâm sàng. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung tiết.


TÀI LIỆU CHỤP CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN SỌ NÃO

Tài liệu tham khảo dành cho giáo viên, sinh viên chuyên ngành y khoa - Giáo trình, bài giảng y học qua các năm học y.


Ung thư - Cơ chế sinh ung thư part 9

Cũng giống như điều trị kháng sinh diệt khuẩn, tế bào ung thư có thể có khả năng kháng với các loại thuốc trong quá trình điều trị bằng nhiều hình thức. Khối u càng lớn, xác suất và khả năng kháng thuốc càng tăng. Vì vậy việc phối hợp đồng thời nhiều loại thuốc, việc điều trị sớm và điều trị bổ trợ làm tăng tính hiệu quả.


VIÊN NÉN RIFAMPICIN

Là viên nén bao đường chứa rifampicin. Chế phẩm phải đáp ứng các yêu cầu trong chuyên luận “Thuốc viên nén” mục “Viên bao” (Phụ lục 1.20) và các yêu cầu sau đây: Hàm lượng rifampicin, C43H58N4O12, từ 92,5 đến 107,5% so với hàm lượng ghi trên nhãn. Tính chất Viên bao đường nhẵn, không nứt cạnh, không dính tay, khi bỏ hết lớp vỏ bao viên nhân có màu đỏ nâu. Định tính A. Lắc một lượng bột viên đã loại bỏ vỏ bao và nghiền mịn tương ứng 0,15 g rifampicin với 5 ml cloroform (TT). Lọc,...


HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG UNG THƯ THỰC QUẢN

Đặt vấn đề: Chẩn đoán ung thư thực quản ở Việt Nam thường ở giai đoạn trễ, nhiều trường hợp chỉ phẫu thuật tạm bợ giảm đau. Xác định giai đoạn ung thư là quan trọng để chọn lựa phương pháp điều trị. Mục tiêu: Khảo sát hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong việc xác định độ xâm lấn của ung thư thực quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, mô tả, cắt ngang. Chúng tôi hồi cứu 66 trường hợp ung thư thực quản có chụp cắt lớp điện toán trước mổ và...


MIGRAINE HEADACHES – PHẦN 1

Mặc dầu bất cứ chứng đau đầu nghiêm trọng nào đều có thể được quy cho là chứng thiên đầu thống (migraine), nhưng chứng thiên đầu thống là một loại đau đầu đặc biệt. Chứng thiên đầu thống thật sự có tính chất gia đình và gây bệnh nơi phụ nữ hai lần nhiều hơn nam giới. Cơn đau đầu đầu tiên thường xảy ra nơi một người trong lứa tuổi thanh thiếu niên hay lứa tuổi đôi mươi. Những cơn đau đầu điển hình được mô tả định vị một bên, nghiêm trọng, và đập mạnh (throbbing) và...


Diabetes Report Card 2012

A timetable or appointment diary is another application included in e-Mintza; in a very simple way a multimedia timetable or appointment diary can be generated for the user. This is particularly useful for people who have difficulties with temporal sequencing or imagination but have good visual skills. Although the main emphasis of the project has been on children with autism – as they often use “analog” visual augmentative devices – the authors stress that e-Mintza can and should be tried in all people with communication disabilities: deafness, cerebral palsy, Alzheimer and Parkinson‘s disease, speech and language disorders, acquired brain damage from stroke or accidents, or even patients having mechanical ventilation. It is exciting to have available innovative communication applications to meet the needs of...


Bài giảng Choáng tim

Choáng tim là do suy trầm trọn chức năng bơm của thất trái nên không đủ máu tới mô. Cùng tìm hiểu "Bài giảng Choáng tim" để biết được nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị,... bệnh choáng tim.


Điều trị nội khoa - XỬ TRÍ BỆNH NHÂN ĐA NIỆU

Đa niệu (polyuria) khi lượng nước tiểu 3lít/24h. Triệu chứng này thường kèm theo triệu chứng uống nhiều (polydipsia) Sự bài tiết nước tiểu phụ thuộc vào hormone thần kinh AVP (arginin – vasopressin) hay ADH (antidiuretic hormone) được tổng hợp ở vùng hạ đồi.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

BERBERIN CLORID
  • 19/07/2011
  • 30.895
  • 829
NICOTINAMID
  • 20/07/2011
  • 60.905
  • 891

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu