Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Trang 5 - Y khoa - Dược (22.734)

Thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của cộng đồng đối với các bệnh mù lòa có thể phòng tránh được

Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của cộng đồng đối với các bệnh mù lòa có thể phòng tránh được” trên địa bàn tỉnh Nghệ An được thực hiện bởi tổ chức CBM (Christoffel Blinden Mission), Bệnh viện Mắt tỉnh Nghệ An nhằm đánh giá kiến thức, thái độ về các bệnh mắt cũng như hành vi tham gia dịch vụ y tế chăm sóc mắt của cộng đồng.


Đánh giá dự án cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản m-Health cho nữ lao động di cư

Dự án can thiệp áp dụng các hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho nữ lao động di cư thông qua tin nhắn, bản đồ, tư vấn miễn phí qua điện thoại và trang web gọi tắt là m-Health được triển khai trong 12 tháng. Sau khi kết thúc can thiệp, đánh giá tiền thực nghiệm được thực hiện nhằm: Mô tả chương trình can thiệp; và Đánh giá tác động của can thiệp m-Health đến nữ lao động.


Tiếp cận chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV của phụ nữ mại dâm tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk

Thông tin - giáo dục - truyền thông (TT-GD-TT); phát bao cao su (BCS) và chất bôi trơn miễn phí; tư vấn xét nghiệm HIV là các can thiệp chính trong chương trình can thiệp giảm tác hại (CTGTH) dự phòng lây nhiễm HIV cho phụ nữ mại dâm (PNMD) đang được triển khai tại thành phố Buôn Ma Thuột từ năm 2005. Bài viết này với mục tiêu mô tả thực trạng tiếp cận các CTGTH và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận các can thiệp này của PNMD tại thành phố Buôn Ma Thuột. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 132 PNMD tiếp cận được trong thời gian từ tháng 3-5/2014 tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Kết quả: có 34,1% PNMD nhận được tài liệu truyền thông (TLTT) về HIV/AIDS; 53,8% nhận được BCS miễn phí, 74,2% biết nơi khám và điều trị các bệnh nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STIs), có 62,9% biết nơi xét nghiệm HIV và 40% đã từng xét nghiệm HIV.


Đánh giá việc triển khai thông tư 08 về định mức biên chế trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thuộc lĩnh vực y tế dự phòng

Trong những năm qua với nhiều thay đổi về tổ chức hệ thống y tế trong lĩnh vực y tế dự phòng (YTDP), yêu cầu cấp thiết được đặt ra là cần phải đánh giá tình hình về nhân lực tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thuộc lĩnh vực YTDP và tìm hiểu các bất cập trong quá trình triển khai các chính sách có liên quan và đưa ra khuyến nghị chính sách cho phù hợp. Nghiên cứu này áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng được thực hiện để đáp ứng yêu cầu đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa phần nhân lực của các đơn vị thuộc độ tuổi từ 30–50 (52.3–60%) và có bằng trung cấp, cao đẳng (37.3–79.7%). Bác sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất (20%) tại tuyến tỉnh, y sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất tại tuyến huyện (20–38.9%). Đa số các đơn vị YTDP đã đạt mức yêu cầu số lượng nhân lực của thông tư 08 và đảm bảo chức năng nhiệm vụ cơ bản song vẫn còn một số bất cập trong quá trình quản lý, phân bổ và thu hút nguồn nhân lực ngành YTDP.


Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan trong phòng lây nhiễm viêm gan B của học sinh điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2015

Nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan trong phòng lây nhiễm viêm gan B của học sinh điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Phú Yên năm 2015. Với thiết kế nghiên cứu cắt ngang. Kết quả ghi nhận tỷ lệ học sinh đạt về kiến thức 82,7%, thái độ 70%, thực hành 77,3%. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi và kiến thức, giữa kiến thức và thực hành của học sinh. Khuyến nghị: Tăng cường giáo dục về phòng tránh viêm gan B cho HS điều dưỡng tỉnh Phú Yên cụ thể tăng thời lượng giảng dạy và tăng thực hành, chú ý nhóm dưới 20 tuổi.


Can thiệp tăng cường kiến thức về chửa ngoài tử cung ở phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại Đại Từ Thái Nguyên

Bài báo này trình bày sự thay đổi kiến thức về CNTC của PNCC trước và sau can thiệp. Có 1186 PNCC tham gia giai đoạn đánh giá trước và 1095 PNCC tham gia đánh giá sau can thiệp. Kết quả cho thấy, sau can thiệp kiến thức về CNTC ở PNCC ở địa bàn can thiệp đã tăng lên so với trước can thiệp. Ngoài ra ở giai đoạn sau can thiệp kiến thức về CNTC của PNCC ở Đại Từ đều tốt hơn so với PNCC ở Đồng Hỷ. Nghiên cứu cho thấy mô hình can thiệp có hiệu quả trong tăng cường kiến thức của PNCC về CNTC.


Nghiên cứu mối liên quan giữa tình hình ốm đau, bệnh tật tự khai báo với điều kiện nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Hoàng Tây và Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Bài viết thực hiện nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang tại xã Hoàng Tây và Nhật Tân huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2011 với mục tiêu chung là phân tích mối liên quan giữa tình hình ốm đau, bệnh tật tự khai báo của người dân với điều kiện nước sạch và vệ sinh môi trường.


Sự khác nhau về các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân dưới 65 tuổi của khoa nội và khoa ngoại tại bệnh viện 198

Nghiên cứu có mục tiêu mô tả và so sánh các đặc điểm liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân mới nhập viện trong vòng 48 giờ đầu ở khoa Nội và khoa Ngoại của bệnh viện 198 –Bộ công an. Thiết kế nghiên cứu tiến cứu từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2012 trên 411 cán bộ và chiến sỹ ngành công an là bệnh nhân nhập viện điều trị trong vòng 48 giờ đầu tại Bệnh viện 198 cho thấy: Trừ tỷ lệ chán ăn của bệnh nhân khoa Nội cao hơn so với bệnh nhân khoa Ngoại (18,4% và 1%).


Y tế Công cộng trong kỉ nguyên mới: Nâng cao sức khỏe thông qua các hành động tập thể

Thế giới đang tiến vào kỷ nguyên mới mà ở đó tồn tại đồng thời một cách trái ngược những chỉ số sức khỏe ngày càng được cải thiện và những chỉ số sức khỏe khác lại có đảo lộn cơ bản. Những sự thay đổi nhanh chóng về tình hình sức khỏe trên toàn cầu vốn đã phức tạp nay lại đang diễn ra trong bối cảnh mà lực lượng cán bộ y tế công cộng chưa sẵn sàng để đương đầu với những thử thách đó. Sự chưa sẵn sàng này phần nào là do các thử thách đó lớn và phức tạp, do lực lượng cán bộ và hạ tầng cơ sở của ngành y tế công cộng đã bị lãng quên, và do còn thiếu các chương trình đào tạo.


Nghiên cứu chất lượng cuộc sống cuộc sống và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh thành phố Huế

Ngoài sức khoẻ về thể chất, chất lượng cuộc sống (CLCS) của những phụ nữ mãn kinh đang được quan tâm, tuy nhiên các nghiên cứu về lĩnh vực này đang còn hạn chế trong nước. Nghiên cứu được thực hiện nhằm: Đánh giá CLCS của phụ nữ mãn kinh ở thành phố Huế và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của đối tượng nghiên cứu


Tình hình ngộ độc thực phẩm tại Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014

Hồi cứu số liệu chi tiết toàn bộ các vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm liên tục từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2014 được ghi nhận trong báo cáo lưu tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Hà Nội. Kết quả cho thấy Hà Nội xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm với 204 người mắc, 185 người nhập viện và 01 trường hợp tử vong.


Kết quả can thiệp về vệ sinh tay tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, năm 2014

Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của người bệnh. Vệ sinh tay (VST) của nhân viên y tế (NVYT) trước và sau khi tiếp xúc với mỗi bệnh nhân luôn được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất, có thể làm giảm 50% nguy cơ NKBV ở người bệnh. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả can thiệp VST của NVYT tại 7 khoa lâm sàng, Bệnh viện đa khoa Khánh Hòa dựa trên quan sát toàn bộ 214 bác sỹ, điều dưỡng trước và sau khi can thiệp tại 7 khoa lâm sàng. Kết quả chỉ rõ mức độ tuân thủ VST tăng từ 14,8% (trước can thiệp) lên 43,9% (sau can thiệp) (p


Một sức khỏe: Quan niệm và triển vọng cho y tế công cộng

Bài báo cũng thảo luận một số hoạt động liên quan đến Một sức khỏe ở Việt Nam đã và đang được triển khai trong lĩnh vực quản lí và can thiệp các bệnh mới nổi cũng như các chương trình đào tạo liên quan. Cuối cùng, chúng tôi sẽ thảo luận những thách thức ở phía trước của viêc ứng dụng một sức khỏe trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu liên quan đến y tế công cộng và nhấn mạnh sự quan trọng của tính xuyên ngành trong áp dụng cách tiếp cận này.


Thảo luận về nâng cao sức khỏe tại Việt Nam

Mục đích cảu bài báo là phiên giải nâng cao sức khỏe (NCSK) và các khái niệm liên quan trong điều kiện Việt Nam, từ đó giúp hiểu rõ hơn và thúc đẩy các hoạt đông NCSK. Bằng trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1946 về NCSK, tác giả đã giải thích sức khỏe tồn tại dưới ba trạng thái: Khỏe mạnh, không bệnh không tật và có bệnh, tật. Các trạng thái này luôn chuyển đổi do tác động của các yếu tố quyết định sức khỏe.


Kiến thức, thái độ và thực hành người dân 4 phường, thành phố Đà Nẵng về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm

Sân bay Đà Nẵng cùng với một số sân bay và khu căn cứ quân sự cũ của Mỹ là nơi diễn ra hoạt động chứa, pha, nạp rửa,…chất Da cam và các chất làm trụi lá khác (chứa tạp chất dioxin) trong chiến dịch Ranch Hand 1962-1971. Người dân sống gần sân bay Đà Nẵng và các điểm nóng nhiễm dioxin khác đều có nguy cơ phơi nhiễm với dioxin trong môi trường đất, nước, trầm tích, không khí và thực phẩm.


Tư vấn chuẩn bị cho cuộc đẻ tại hai xã thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa

Nghiên cứu việc truyền thông thay đổi hành vi chuẩn bị cho cuộc đẻ (CBCCĐ) làm cho phụ nữ, gia đình và cộng đồng chuẩn bị tốt hơn cho cấp cứu bà mẹ và trẻ sơ sinh tại gia đình và cộng đồng. Việc tư vấn dựa vào cộng đồng để truyền đạt chính xác các thông điệp chính về CBCCĐ là có giá trị. Phụ nữ mang thai và gia đình chủ yếu chỉ chuẩn bị cho một ca đẻ thường. Việc vận chuyển một thai phụ đến trạm y tế xã để sinh nở hoặc để cấp cứu không phải là một rào cản lớn. Tư vấn viên (TVV) đã nâng cao được hiểu biết của phụ nữ có thai, chồng và gia đình về việc các tai biến là không thể tiên đoán được, việc CBCCĐ và việc được chăm sóc y tế là cần thiết. Đặc biệt TTV đã thành công trong việc huy động nam giới tham gia vào việc ra quyết định chuẩn bị đẻ. Kinh nghiệm của họ và những nhà lãnh đạo trong việc huy động cộng đồng tham gia vào có thể được áp dụng trong hoạt động cộng đồng ở nhiều lĩnh vực khác.


Thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện, tỉnh Bình Thuận

Để duy trì đủ nguồn nhân lực và đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng cho người dân tại địa phương cần thiết phải nâng cao sự hài lòng đối với công việc. Nghiên cứu thực hiện trên 255 nhân viên đang làm việc tại các Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) tuyến huyện, tỉnh Bình Thuận với mục tiêu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực y tế và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế.


Những khái niệm cơ bản về Y tế Công Cộng

Y Tế Công Cộng (YTCC) đối với chúng ta thực sự là một thuật ngữ mới. Nhiều người đã từng đặt câu hỏi YTCC khác gì so với Y Tế Cộng Đồng (YTCĐ), với Y Học Dự Phòng (YHDP), với Vệ Sinh-Dịch Tễ (VSDT), và gần đây một số trường đại học YTCC trên thế giới lại đổi lại tên thành Sức khỏe Quần thể (Population Health). Để bạn đọc hiểu hơn về những thuật ngữ này và những kế hoạch phát triển hệ thống ngành học mới mẻ này chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với các bạn một số khái niệm rất cơ bản về lý luận và thực tiễn sau. Chắc chắn những khái niệm này chưa thể phản ánh được đầy đủ những nội dung của một ngành học mà các nước bắt đầu khởi xướng ra đã phải trải qua một chặng đường hơn một thế kỷ để phát triển nó.


Tình hình tai nạn thương tích tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang

Tai nạn thương tích (TNTT) là một vấn đề bức xúc đối với sức khỏe cộng đồng và sự phát triển của đất nước. Việc nghiên cứu thực trạng TNTT là 1 việc làm cần thiết nhằm góp phần phòng chống tai nạn này. Mục tiêu nghiên cứu là Đánh giá thực trạng TNTT tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang trong năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005, xác định các yếu tố liên quan TNTT và đề xuất các giải pháp phòng chống.


Thực trạng sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh môi trường của phụ nữ (15- 49 tuổi) có con dưới 5 tuổi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh tại 4 xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ 15- 49 tuổi có con dưới 5 tuổi về sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh; và phân tích nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe của cán bộ y tế qua phản hồi của đối tượng nghiên cứu.


Phân tích tình hình phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong lĩnh vực y tế ở Hà Nội, Việt Nam

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích tình hình Phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS trong lĩnh vực y tế ở Hà Nội, Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành theo Đề cương nhận biết sự phân biệt đối xử của Chương trình phối hợp phòng chống AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS).


Các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân theo tình trạng dinh dưỡng tại Bệnh viện tỉnh Hải Dương

Nội dung bài báo là một phần trong nghiên cứu "Thực trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân, hiểu biết, thái độ và thực hành chăm sóc dinh dưỡng của cán bộ y tế trong bệnh viện" tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu so sánh các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng theo nhóm dinh dưỡng tốt và nhóm suy dinh dưỡng (SDD) bằng phương pháp đánh giá đối tượng toàn diện Subjective Global Assessment (SGA). Thiết kế nghiên cứu tiến cứu trên 280 bệnh nhân nhập viện trong vòng 48 giờ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương từ tháng 3-6/2009. Kết quả cho thấy các chỉ số liên quan tới nguy cơ dinh dưỡng của nhóm bệnh nhân SDD đều cao hơn so với bệnh nhân dinh dưỡng tốt: Tỷ lệ giảm cân >5% trong 6 tháng của bệnh nhân SDD là 52,9%, cao hơn so với tỷ lệ này ở bệnh nhân dinh dưỡng tốt (22,0%) (p


Nhu cầu trợ giúp trong sinh hoạt và hòa nhập xã hội của người khuyết tật

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), người khuyết tật (NKT) chiếm 10% dân số và khoảng 1,5% dân số cần dịch vụ phục hồi chức năng (PHCN). Hiện nay, các nghiên cứu về nhu cầu trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày (SHHN) và hòa nhập xã hội (HNXH) cho NKT còn rất hạn chế. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu cứu này nhằm tìm hiểu nhu cầu trợ giúp trong SHHN và HNXH của NKT tại đồng bằng sông Hồng theo vùng địa lý, tuổi, giới, số tật mắc và dạng tật.


Một số kết quả ban đầu về đo lường gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam, 2006

Bài này giới thiệu một số kết quả ban đầu của nghiên cứu “Đo lường gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam” về gánh nặng bệnh tật (sử dụng chỉ số DALYs) của các nhóm bệnh/ chấn thương hàng đầu theo giới và tuổi. Nghiên cứu sử dụng phương pháp của nghiên cứu đo lường gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD- Global Burden of Disease study). Với phương pháp này, chỉ số đo lường gánh nặng bệnh tật (DALYs) được tính bằng tổng số năm sống mất đi do tử vong sớm (YLLs) và tàn tật (YLDs) bởi bệnh/ chấn thương. Kết quả cho thấy tổng gánh nặng bệnh tật của Việt Nam năm 2006 là 15,2 triệu DALYs, trong đó gánh nặng của các bệnh không truyền nhiễm chiếm hơn 2/3 (68%) tổng gánh nặng bệnh tật.


Thực trạng tiếp cận và sử dụng các biện pháp tránh thai của bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ

Tiếp cận và sử dụng biện pháp tránh thai có ý nghĩa quan trọng trong chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình.Nghiên cứu này là một phần của dự án nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy bình đẳng giới tại 8 tỉnh duyên hải Nam trung Bộ. Nghiên cứu với mục tiêu mô tả thực trạng tiếp cận và sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các BPTT của bà mẹ có con dưới 1 tuổi. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp với thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích bằng phương pháp định lượng kết hợp định tính.


Thực trạng nhiễm khuẩn vết mổ và một số yếu tố liên quan tại khoa ngoại, sản bệnh viện đa khoa Sa Đéc năm 2012

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là một trong những mối quan ngại lớn của thầy thuốc ngoại khoa và gần như gắn liền với những cơ sở có tiến hành phẫu thuật trên người bệnh dù là phẫu thuật đơn giản nhất cho đến phức tạp. Bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2012 trên 460 bệnh nhân được phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Sa Đéc với mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân khoa ngoại, sản Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc năm 2012; (2), Mô tả triệu chứng lâm sàng và vi sinh của nhiễm khuẩn vết mổ trên bệnh nhân và (3) Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn vết mổ ở bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc.


Thực trạng lập kế hoạch học tập trong sinh viên đại học Y Hà Nội và một số yếu tố ảnh hưởng

Mục tiêu: Mô tả thực trạng lập kế hoạch học tập (LKHHT), kiến thức, thái độ và khả năng LKHHT của SV ĐHYHN năm 2009- 2010 và một số yếu tố ảnh hưởng. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp định lượng (bộ câu hỏi tự điền có hướng dẫn) trên 421 SV đa khoa ĐHYHN. Kết quả: Tỷ lệ chung SV có hành vi LKHHT khá cao, tuy nhiên tỷ lệ thường xuyên LKHHT trong năm học vừa qua và năm học hiện tại thấp, nhưng có xu hướng tăng dần, cao nhất ở Y6.


Sức khỏe và hệ thống y tế ở Đông Nam Á: Đa dạng và dịch chuyển

Đông Nam Á là khu vực vô cùng đa dạng về xã hội, kinh tế và chính trị tại mỗi quốc gia cũng như trên toàn khu vực. Sự đa dạng này được định hình bởi lịch sử, vị trí địa lý và vai trò là đầu mối giao dịch thương mại, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ. Những yếu tố này không chỉ góp phần phân hóa tình trạng sức khỏe của những người dân trong khu vực, mà còn tạo nên sự đa dạng cho các hệ thống y tế của các quốc gia trong khu vực. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng nhưng không đồng đều, đi kèm với tỷ lệ dịch chuyển dân số và dịch tễ học khác nhau đã làm gia tăng chênh lệch tình trạng sức khỏe và tạo ra những thách thức y tế công cộng to lớn đối với hệ thống y tế của các quốc gia, nhất là đối với việc kiểm soát những bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện và sự gia tăng của các bệnh không truyền nhiễm ở người cao tuổi.


Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Nội vụ năm 2015

Một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) và các yếu tố liên quan đã được thực hiện trên 405 sinh viên (SV) trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, với thiết kế cắt ngang có phân tích, sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ QHTD THN là 23,7%, ở nam là 35%, nữ là 20,9%. Sinh viên có quan điểm cởi mở về QHTD THN, đã từng xem phim khiêu dâm, có sử dụng rượu bia hoặc chất gây nghiện, từng vui chơi tại các quán bar hoặc hộp đêm, có bạn bè có QHTD THN có khả năng QHTD THN cao hơn. Những sinh viên có bố mẹ sống cùng nhau, có bố mẹ thường xuyên chia sẻ với con cái về vấn đề tình yêu, giới tính, sức khoẻ sinh sản có khả năng QHTD THN thấp hơn. Để đẩy mạnh tình dục an toàn ở SV cần có các biện pháp can thiệp toàn diện từ phía sinh viên, gia đình, nhà trường và các nhà hoạch định chính sách.


Một số đặc điểm chấn thương giao thông khi đi xe máy của các nạn nhân đến khám/điều trị tại TTYT huyện Lương Sơn-Hòa Bình

Chấn thương liên quan đến giao thông đang là vấn đề sức khỏe, xã hội đáng quan tâm ở Việt Nam, hàng năm có hàng chục ngàn trường hợp tử vong, thương tích xảy ra. Chấn thương giao thông cũng gây nên những mất mát lớn về tài sản cho nạn nhân, gia đình và tạo ra những gánh nặng cho xã hội. Với mục tiêu góp phần mô tả hiện trạng tình hình chấn thương giao thông, đồng thời đưa ra được những mô tả ban đầu về mức độ trầm trọng và những chi phí bị mất đi do chấn thương giao thông gây ra, nghiên cứu này đã được tiến hành tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2002. Đây là một điều tra mô tả hồi cứu dựa trên 93 nạn nhân người thuộc địa bàn huyện Lương Sơn bị chấn thương giao thông khi đi xe máy trong khoảng thời gian 1/1/2002-31/12/2002 đến khám/điều trị tại Trung tâm Y tế huyện (TTYTH) Lương Sơn trong vòng 24h.


Tài liệu mới download

Động từ ghép tiếng Nhật
  • 18/12/2015
  • 83.187
  • 834
Kính ngữ
  • 18/12/2015
  • 30.588
  • 483

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

DƯỢC LÝ LÂM SÀNG part 9
  • 06/06/2011
  • 79.266
  • 857
QUÁ MẪN
  • 22/06/2011
  • 63.507
  • 411
ORIGINAL ARTICLE
  • 13/07/2011
  • 99.636
  • 245
COLECALCIFEROL
  • 20/07/2011
  • 57.511
  • 578

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu