Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Trang 3 - Y khoa - Dược (22.734)

Giáo dục sức khỏe- môt phần quan trọng của nâng cao sức khỏe

Năm 1986, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) nêu năm nguyên tắc nâng cao sức khỏe thông qua Hiến chương Ottawa: - Xây dựng chính sách công cộng có lợi cho sức khỏe. - Tạo môi trường hỗ trợ. - Tăng cường hoạt động cộng đồng. - Phát triển các kỹ năng cá nhân. - Định hướng lại các dịch vụ y tế.


Đương đầu với các đe dọa của bệnh truyền nhiễm ở châu Á- Thái Bình Dương qua cộng tác khu vực và quốc tế

Trong những năm gần đây, việc tăng cường cộng tác quốc tế qua các chương trình như Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, bệnh lao và sốt rét đang cung cấp các nỗ lực thiết yếu nhằm tăng nguồn lực để chiến đấu với các bệnh truyền nhiễm. Ngoài những hỗ trợ tài chính trực tiếp, các nước đã phát triển trong khu vực có thể cung cấp các hỗ trợ giáo dục và kỹ thuật rất cần thiết để cải thiện năng lực y tế công cộng cho các nước ít phát triển hơn về các lĩnh vực đa dạng như giám sát bệnh tật, kiểm soát nhiễm khuẩn, các phòng xét nghiệm chẩn đoán vi sinh, các chương trình kháng sinh và kháng retro vi- rút.


Tình trạng dinh dưỡng của học sinh hai trường THPT tại Hà Nội năm 2015

Nghiên cứu được thực hiện trên 620 học sinh PTTH thuộc 2 trường đại diện cho thuộc khu vực nội thành và khu vực ngoại thành trên địa bàn Hà Nội với mục tiêu xác định thực trạng dinh dưỡng của học sinh PTTH năm 2015. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả. Kết quả nghiên cứu cho thấy: cân nặng trung bình của học sinh là 52,2± 9,7 kg và chiều cao trung bình là 160,7± 7,9cm, có sự khác biệt về cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh khu vực nội thành và ngoại thành. Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) là 5,2% trong đó ở trường Ứng Hòa A (ƯHA) có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao gấp 2 lần học sinh ở trường Trần Nhân Tông (TNT). Tỷ lệ thừa cân- béo phì của học sinh là 7,8%, trường TNT có tỷ lệ học sinh thừa cân- béo phì cao hơn (8,9%) trong khi tỷ lệ này ở trường ƯHA chỉ có 3,6%. Học sinh nam có tỷ lệ thừa cân- béo phì cao hơn học sinh nữ và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p


Thực trạng sử dụng dịch vụ trước sinh và một số yếu tố liên quan ở các bà mẹ có con dưới một tuổi tại huyện tuy đức, tỉnh đăk nông, năm 2014

Nghiên cứu được tiến hành tại 6 xã trên địa bàn toàn huyện Tuy Đức trong năm 2015, từ tháng 2/2015 đến tháng 8/2015. Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ cư trú tại địa phương 2 năm trở lên, hiện đang có con dưới 1 tuổi. Thiết kế nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả cắt ngang có phân tích, với cỡ mẫu 360 đối tượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy 75,6% các bà mẹ có thai được khám thai định kỳ đầy đủ 3 lần, 89,2% bà mẹ được tiêm vắc xin uốn ván đầy đủ, và 89,4% các bà mẹ có uống viên sắt hoặc đa vi chất. Các yếu tố liên quan đến khám thai đầy đủ là trình độ học vấn và mức sống: học vấn dưới THCS khám thai không đầy đủ gấp 2,9 lần nhóm học vấn từ THCS trở lên; thuộc hộ nghèo khám thai không đầy đủ gấp 2 lần hộ không nghèo.


Thực trạng, cách thức sử dụng rượu bia và các yếu tố liên quan ở nhóm nam giới 25-64 tuổi tại Long Biên, Hà Nội, 2015

Đặt vấn đề: Sử dụng rượu bia quá độ là yếu tố nguy cơ chính của nhiều bệnh không lây nhiễm. Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và xu hướng sử dụng rượu bia trong nhóm nam giới 25-64 tuổi tại Long Biên, Hà Nội, 2015. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, sử dụng máy tính bảng và hình ảnh minh họa cốc rượu/bia theo đơn vị chuẩn để phỏng vấn đánh giá hiện trạng, mức độ sử dụng rượu bia. Kết quả: Có 485 nam giới đã tham gia vào nghiên cứu. Tỷ lệ nam giới có uống rượu bia trong vòng 12 tháng qua là 98,49%. Khoảng 50% nam giới nhóm 45-64 và 15% nhóm 25-44 uống từ 1 lon/chai nhỏ/cốc to bia hoặc 1 ly/chén rượu trở lên hàng ngày. Có 35,24% nam giới 25-44 uống rượu ở mức độ nguy hiểm cao gấp 2 lần so với nhóm tuổi lớn hơn. Tình trạng công việc là yếu tố liên quan đến việc uống thường xuyên và quá độ ở cả 2 nhóm tuổi. Khuyến nghị: Cần có chương trình can thiệp giảm tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nam giới, đặc biệt là việc uống ở mức nguy hiểm ở nam giới 25-44.


Cơ cấu nhân lực tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập: Từ văn bản tới thực tế triển khai

Luật Viên chức số 58/2010/QH12 được Quốc Hội thông qua năm 2010 đã đánh dấu một bước đổi mới quan trọng trong công tác quản lý cán bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trên toàn quốc. Ngành y tế với nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân thuộc phạm vi áp dụng của chính sách này. Bên cạnh đó, cơ cấu nhân lực tại các cơ sở y tế (CSYT) còn được quy định bởi các văn bản pháp quy nào, có mâu thuẫn, bất cập gì giữa các văn bản này trong quá trình thực hiện không là những câu hỏi nhóm nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất chính sách phù hợp. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát, phân tích các văn bản pháp quy liên quan và tổ chức 8 cuộc họp với đại diện các lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp y tế công lập (ĐVSNYTCL) tại 8 tỉnh để thu thập thông tin trả lời câu hỏi nghiên cứu.


Những nhân tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Nuôi con bằng sữa mẹ không những giúp cho trẻ phát triển cả về chiều cao và cân nặng trong 6 tháng tuổi đầu tiên nhanh hơn mà còn tạo quyền năng cho phụ nữ, góp phần vào thực hiện bình đẳng nam nữ. Các tác giả đã kết hợp phỏng vấn bảng hỏi 400 phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ với phương pháp quan sát và viết nhật ký. Những cản trở cho các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong bốn đến sáu tháng đầu là phụ nữ phải gánh vác cả công việc sản xuất trong nông nghiệp và công việc hàng ngày trong gia đình. Các bà mẹ có khả năng kinh tế khá hơn lại thích mua sữa ngoài cho con ăn bổ sung. Mong muốn có bốn con, hai trai và hai gái vẫn còn và phổ biến trong nhiều gia đình. Các tác giả đề nghị kết hợp các chương trình nâng cao nhận thức về giới và nuôi dưỡng trẻ nhỏ với chương trình khuyến khích nuối con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu tiên.


Tự chủ tài chính bệnh viện: thực trạng, hiệu quả sử dụng và những giải pháp

Nghị định 10 của Chính phủ ngày 16/1/2002 quy định chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu trong đó có bệnh viện. Vấn đề tự chủ tài chính bệnh viện là vấn đề nhạy cảm vì nó liên quan đến khả năng sử dụng dịch vụ bệnh viện của các thành phần xã hội khác nhau, vùng miền khác nhau, liên quan đến vấn đề công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe. Các quy định và quản lý tài chính bệnh viện liên quan đến đời sống của nhân viên y tế phục vụ trong bệnh viện, liên quan đến vấn đề phát triển kỹ thuật bệnh viện. Bài viết nêu lên thực trạng các nguồn tài chính, hiệu quả sử dụng và các giải pháp đảm bảo nền tài chính bệnh viện lành mạnh.


Một số vấn đề về chiến lược Phòng chống suy dinh dưỡng hiện nay

Vào tháng 12/2000, Liên hợp quốc thông qua mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millenium development goals) trong đó đề ra mục tiêu giảm 1/3 ỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (SDD) vào năm 2015 so với năm 1990. Đây là một mục tiêu tham vọng vì giảm SDD liên quan tới đói nghèo và nhiều vấn đề xã hội khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể tiếp cận được mục tiêu trong vòng 10 năm tới nếu áp dụng một chiến lược thích hợp trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa các giải pháp chuyên môn kỹ thuật với công tác huy động xã hội.


Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, mật độ xương của nữ sinh vị thành niên tại Thái Nguyên năm 2014

Loãng xương là một căn bệnh thầm lặng, không có dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ rệt. Chẩn đoán sớm tình trạng khoáng của xương có vai trò quan trọng ở trẻ em để đánh giá tình trạng tăng trưởng của xương và phòng ngừa loãng xương, gãy xương do loãng xương ở người trưởng thành, nhằm tăng cường sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống. Mục tiêu: Ðánh giá tình trạng dinh dưỡng và lượng khoáng của xương gót nữ vị thành niên là sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Y Thái Nguyên.


Kết quả đánh giá thực hiện các mục tiêu cụ thể chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản 2001- 2010

Kết quả đánh giá cho thấy rằng nhìn chung 6 chỉ tiêu đặt ra đều có khả năng đạt được vào năm 2010. Xu thế giảm sinh tiếp tục được duy trì và đã đạt được mức sinh thay thế. Tình trạng sức khỏe sinh sản đã được cải thiện rõ rệt ở hầu hết các vùng và các nhóm đối tượng. Tình trạng sức khỏe trẻ em được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên vẫn còn một số địa phương ở miền núi, vùng khó khăn khó có khả năng đạt được một số chỉ tiêu liên quan đến giảm tử vong trẻ dưới 1 tuổi và giảm tử vong mẹ vào năm 2010. Chỉ có 8/20 chỉ tiêu được xác định và có khả năng hoàn thành vào 2010, còn những chỉ tiêu khác không có khả năng đánh giá do thiếu nguồn số liệu. Do đó, vấn đề xây dựng được các chỉ tiêu mang tính khả thi và ưu tiên đầu tư là cần thiết trong giai đoạn tới.


Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân 4 phường, thành phố Đà Nẵng về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm

Sân bay Đà Nẵng cùng với một số sân bay và khu căn cứ quân sự cũ của Mỹ là nơi diễn ra hoạt động chứa, pha, nạp rửa,…chất Da cam và các chất làm trụi lá khác (chứa tạp chất dioxin) trong chiến dịch Ranch Hand 1962-1971. Người dân sống gần sân bay Đà Nẵng và các điểm nóng nhiễm dioxin khác đều có nguy cơ phơi nhiễm với dioxin trong môi trường đất, nước, trầm tích, không khí và thực phẩm [4,5,8,9]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy các mẫu đất, bùn, một số loại thực phẩm địa phương, các mẫu máu và sữa mẹ của người dân tại khu vực gần sân bay Đà Nẵng có hàm lượng dioxin cao hơn các tiêu chuẩn hay hướng dẫn hiện hành về dioxin trên Thế giới [6].


Các yếu tố nguy cơ của chửa ngoài tử cung

Đây là bài viết tổng quan về yếu tổ nguy cơ của chửa ngoài tử cung được tổng hợp từ 44 tài liệu tham khảo cả tiếng Anh và tiếng Việt. Các tài liệu được sử dụng là các bài báo khoa học, báo cáo nghiên cứu, bài báo tổng quan… từ các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế. Các yếu tổ nguy cơ của chửa ngoài tử cung đã được đề cập tương đối rõ ràng trong các tài liệu. Nhìn chung, các yếu tố nguy cơ của chửa ngoài tử cung có thể chia thành 3 nhóm: Các yếu tố nguy cơ cao, các yếu tổ nguy cơ trung bình và các yếu tổ nguy cơ thấp. Việc biết các yếu tổ nguy cơ của chửa ngoài tử cung sẽ giúp các nhà nghiên cứu xây dựng các chương trình can thiệp có hiêu quả nhằm giảm nguy cơ mắc chửa ngoài tử cung ở phụ nữ tuổi sinh đẻ.


Nghiên cứu sử dụng rượu bia tại 3 tỉnh của Việt Nam năm 2013

Nghiên cứu được tiến hành với thiết kế theo phương pháp theo dõi dọc với cỡ mẫu là 2064 người có sử dụng rượu/bia được xác định theo định nghĩa chung của nghiên cứu Kiểm soát tác rượu bia Quốc tế (IAC) tại 3 tỉnh của Việt Nam: Thái Bình, Khánh Hòa và Đồng Tháp trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2015. Nghiên cứu thực hiện nhằm đo lường lại việc tiêu thụ rượu bia và phân tích một số đặc điểm hành vi sử dụng rượu bia của Việt Nam.


Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân phường Trung Dũng và Tân Phong, thành phố Biên Hòa về dự phòng nhiễm độc Dioxin qua thực phẩm

Các thùng chứa những hóa chất này bị rò rỉ, các hoạt động pha chế, rửa máy bay… diễn ra tại đây dẫn đến tình trạng ô nhiêm dioxin trong đất, thực phẩm và trong máu của người dân ở trong và gần khu vực sân bay ở mức cao. Hội Y tế công cộng Việt Nam đã thực hiện một nghiên cứu mô tả cắt ngang với mục tiêu tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của 400 người dân sống tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa về dioxin và dự phòng nhiễm độc dioxin qua thực phẩm.


Cán bộ chuyên môn y tế của thế kỷ mới: Cải cách giáo dục nhằm tăng cường hệ thống y tế trong một thế giới tương hỗ lẫn nhau

Quy hoạch lại đào tạo, chuyên môn y tế là điều cần thiết và kịp thời, xét về các cơ hội học tập lần nhau qua các giải pháp chung có được sự tương giao toàn cầu.


Tổng quan về ô nhiễm không khí trong nhà do chất đốt sinh khối và nguy cơ sức khỏe

Khoảng một phần ba dân số thế giới sử dụng các chất hữu cơ như phân động vật, mùn cưa, gỗ, than củi, rơm rạ, vỏ trấu v.v. làm nhiên liệu để đun nấu, sưởi ấm và chiếu sáng. Nguồn nhiên liệu này được gọi là chất đốt sinh khối và việc sử dụng các nhiên liệu này đã gây ô nhiễm môi trường không khí trong nhà, tá đông xấu tới sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc qua trên thế giới. Nhiều bằng chứng cho thấy phơi nhiễm với các chất ô nhiễm trong khói chất đốt sinh khối làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp (như viêm phổi, bệnh lao, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, ung thư phổi và hen suyễn), cân nặng sơ sinh thấp, đục thủy tinh thể và các bệnh lý về tim mạch.


Sự hài lòng về sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu sử dụng thang đo thứ bậc, từ 1 đến 5 điểm để đánh giá các mức độ hài lòng khác nhau và do người được hỏi tự đánh giá về bản thân. Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân khá lạc quan về sức khoẻ bản thân và điểm trung bình tự đánh giá mức độ hài lòng về sức khoẻ là tương đối cao (3,75). Mức độ hài lòng về sức khoẻ không có quá nhiều khác biệt giữa những người có những đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm xã hội khác nhau. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy những yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ hài lòng về sức khoẻ bao gồm: thu nhập, giới tính, tuổi, địa bàn cư trú.


Khảo sát một số hành vi sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Khánh Hòa

Dựa trên điều tra một mẫu ngẫu nhiên 2.170 người cao tuổi (NCT) trong toàn tỉnh Khách Hòa tiến hành cuối năm 2008 trên cơ sở một bản câu hỏi phỏng vấn tỷ lệ hút thuốc của người cao tuổi tỉnh Khách Hòa là trên 50% và uống rượu bia là trên 40%, chủ yếu ở nam giới. Tỷ lệ tập thể dục của NCT là không cao với hình thức tập chủ yếu là đi bộ. Tỷ lệ NCT thường xuyên tìm hiểu về sức khỏa còn thấp (30%),trong khi có 10% NCT tự ghi nhận là không bao giờ tìm hiểu về lĩnh vực sức khỏe. Phương tiện truyền thông chủ yếu để tìm hiểu sức khỏe của NCT là các phương tiện truyền thông đại chúng. Trạm y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn nơi khám chữa bệnh ban đầu của NCT.


Tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em tại Trung tâm bảo trợ trẻ em số 4, Ba Vì, Hà Nội

Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em có gì đặc biệt ở các Trung tâm bảo trợ xã hội, trại trẻ mồ côi? Có hay không việc xuất hiện các yếu tố nguy cơ mới đối với bệnh viêm đường hô hấp cấp tại các cơ sở này? Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện mắc, mô tả đặc điểm các yếu tố nguy cơ của bệnh viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em tại Trung tâm bảo trợ trẻ em số 4, Ba Vì, Hà Nội; tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với tình trạng viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em tại cơ sở nói trên. Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang với 98 trẻ tham gia điều tra.


Phòng chống tai nạn thương tích ở Việt Nam: Kết quả và những định hướng trong thời gian tới

Mục tiêu chung của Chính sách là thực hiện các biện pháp kiên quyết, kịp thời để từng bước hạn chế những TNTT, đặc biệt là những tai nạn nghiêm trọng trong các lĩnh vực: tai nạn giao thồn, tai nạn trong trường học, tai nạn gia đình và cộng đồng. Để thực hiện chính sách quốc gia ngành y tế đã triển khai nhiều hoạt động phòng chống TNTT theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông phòng chống TNTT hệ thống cấp cứu, phục hồi chức năng, củng cố hệ thống giảm sát TNTT, đào tạo nâng cao năng lực phòng chống TNTT, xây dựng các mô hình cộng đồng an toàn nghiên cứu nâng cao hiểu biết về yếu tố nguy cơ, tuyên truyền mạnh mẽ tác động của TNTT đến sức khỏe cộng đồng và kinh tế…


Phá thai bằng thuốc: Khả năng chấp nhận của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh

Mục đích bài viết là nghiên cứu khả năng chấp nhận của phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh đối với một phác đồ phá thai bằng thuốc (PTBT) đơn giản. Phương pháp: Khảo sát hồi cứu 600 phụ nữ đến nhận dịch vụ phá thai bằng thuốc tại khao Kế hoạch hóa gia đình bệnh viện Từ Dũ từ 03/2004 – 102004, đồng ý tham gia nghiên cứu, bằng cách Phỏng vấn các đối tượng tham gia nghiên cứu với bộ câu hỏi soạn sẵn ở lần tư vấn trước phá thai và lần tái khám cuối cùng nhằm xác định lý do chọn lựa phá thai bằng thuốc hơn là hút thai, đánh giá việc sử dụng lại phương pháp phá thai trong tương lai nếu có nhu cầu và việc chọn lựa dùng thuốc tại nhà hay cơ sở y tế.


Can thiệp nâng cao tuân thủ quy trình kỹ thuật tiêm an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2012

Tiêm là kỹ thuật cơ abnr và phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh nhân. Tuy nhiên, tiêm không an toàn có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng người bệnh. Để có thể tăng tỷ lệ tuân thủ quy trình tiêm an toàn tại bệnh viện, nghiên cứu thiết kế can thiệp trước sau không có nhóm đối chứng, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện trên toàn bộ 53 điều dưỡng trung cấp hệ 2 năm của các khoa lâm sàng tại bệnh viện Bắc Thăng Long trong thời gian từ 12/2011-7/2012.


Chi phí hoạt động của mô hình lồng ghép phòng khám điều trị ARV và Methadone tại thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu mô tả chi phí hoạt động của phòng khám ngoại trú điều trị ARV và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại quận Bình Thạnh và Quận 6 trong hai giai đoạn trước và sau lồng ghép (2013 và 2014), và sự thay đổi chi phí hoạt động và chi phí cố định (gồm chi phí nhân sự và chi phí hành chính) của từng phòng khám giữa hai giai đoạn. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu sổ sách. Kết quả phân tích chi phí 6 tháng trước và sau lồng ghép tại hai phòng khám cho thấy, chi phí hoạt động và chi phí cố định giảm đáng kể sau lồng ghép trong khi số bệnh nhân được điều trị tăng hoặc giữ nguyên. Kết quả này bước đầu chứng minh mô hình lồng ghép tiết kiệm các chi phí cố định tại hai phòng khám.


Dịch tễ học chấn thương do bỏng ở bệnh nhân nhập viện điều trị tại tỉnh Daklak 1998- 2002

Nghiên cứu chấn thương do bỏng này đã được tiến hành ở những bệnh nhân bị bỏng nhập bệnh viện đa khoa tỉnh Daklak trong khoảng thời gian từ 1998 đến 2002. Thông tin từ bệnh án được thu thập qua một biểu mẫu soạn sẵn, bao gồm các mục: tuổi, giới, ngày, mùa, tháng trong năm, hoàn cảnh xảy ra bỏng, nguyên nhân của bỏng, diện tích bỏng, mức độ trầm trọng của bỏng, số ngày điều trị.


Sự ra đời của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam

Ngày 1/8/2005 Cục Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam thuộc Bộ y tế được Thủ tướng Chính phủ thành lập tại Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 20/5/2005 chính thức bắt đầu hoạt động. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam và là một minh chứng cho sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam quyết tâm đẩy lùi đại dịch nguy hiểm này.


Một số đặc điểm dịch tễ học lũ quét tại Việt Nam trong giai đoạn 1989-2008

Nghiên cứu này phân tích số liệu sẵn có của Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương từ năm 1989 đến 2008. Kết quả cho thấy, trong 20 năm (1989-2008) có 123 trận lũ quét, làm chết 1.299 người và làm bị thương 655 người. Lũ quét thường xảy ra nhất ở các tỉnh miền núi phía bắc (87,8%).


Đánh giá nhanh các rào cản toàn hệ thống đối với tiêm chủng ở Việt Nam vào năm 2004

Đánh giá nhanh các rào cản toàn hệ thống đối với tiêm chủng ở Việt Nam vào năm 2004 nhằm xác định được các rào cản cũng như các thực hành tốt có tác động quan trọng đến chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) và đưa ra các khuyến nghị về những can thiệp ưu tiên. Các tác giả đã nghiên cứu những tài liệu sẵn có thu thâp được, phỏng vấn sâu 15 cán bộ ở tuyến trung ương và một số tổ chức quốc tế, phỏng vấn 80 cán bộ kết hợp với thảo luận nhóm ở liên tuyến tỉnh, huyện và xã theo tiếp cận và công cụ đánh giá quốc gia đã được sử dụng thí điểm ở Uganda và Zambia trong tháng 4 và tháng 5 năm 2004 và được vận dụng vào Việt Nam trong tháng 9 và tháng 10 cùng năm. Những rào cản toàn hệ thống nổi bật là sự thiếu hụt về ngân sách, về nhân lực, về dây chuyền lạnh, đặc biệt là ở các vùng hẻo lánh, miền núi, hải đảo…Những thực hành tốt là xã hội hóa tiêm chủng, huy động cộng đồng, nâng cao nhận thức của người dân về tiêm chủng và sản xuất được nhiều loại vacxin TCMR tại Việt Nam.


Sự tồn lưu mangan trong môi trường và mối liên quan tới chỉ số huyết học của người dân sống tiếp giáp khu khai thác mỏ mangan ở Cao Bằng

Các tác giả sử dụng phương pháp mô tả có so sánh giữa khu khai thác mỏ mangan (Mn) và vùng không có sự khai thác về sự tồn lưu MN và những biến đổi huyết học của dân chúng sống xung quanh khu vực đó. Kết quả cho thấy trong máu người dân sống quanh vùng có nồng độ MN trong máu cao còn bạch cầu đa nhân trung tính giảm thấp rõ rệt. Người dân sống quanh vùng khai thác có thể có sự thấm nhiễm Mn do sự xâm nhập Mn trong môi trường vào cơ thể một cách từ từ hàng ngày. Vì thế cần có sự quan tâm chăm sóc sức khỏe cho bộ phận dân chúng chịu tác động của sự ô nhiễm môi trường này.


Tình hình chất lượng môi trường không khí và mắc bệnh đường hô hấp tại một số khu vực dân cư thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

Bài trình bày này giới thiệu một số kết quả của nghiên cứu “Đánh giá chất lượng không khí và tình hình mắc 4 bệnh đường hô hấp tại một số khu vực dân cư thành phố Hồ Chí Minh năm 2009”. Nghiên cứu sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang, đánh giá chất lượng môi trường không khí trong và ngoài nhà, tình hình bệnh đường hô hấp (n= 1855 người lớn thường xuyên ở nhà trên 15 tuổi) tại 25 phường thuộc 5 quận thành phố Hồ Chí Minh năm 2009.


Tài liệu mới download

Động từ ghép tiếng Nhật
  • 18/12/2015
  • 83.187
  • 834
Kính ngữ
  • 18/12/2015
  • 30.588
  • 483

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Dao động tàu thủy part 8
  • 14/11/2011
  • 51.598
  • 328
BỆNH AMIP GAN
  • 23/06/2011
  • 68.348
  • 476

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu