Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Trang 2 - Y khoa - Dược (22.734)

CTSL - Chương trình mô phỏng tạo ảnh cắt lớp bằng X-quang và ứng dụng khảo sát ảnh giả

Máy chụp cắt lớp CT là thiết bị chẩn đoán hình ảnh hiện đại được sử dụng phổ biến hiện nay trong y tế. Nội dung giới thiệu một chương trình mô phỏng sự tạo ảnh cắt lớp thông qua các thuật toán đặc trưng nhằm tạo một công cụ phục vụ đào tạo hỗ trợ người dùng hiểu rõ về nguyên lý và tính năng kỹ thuật của thiết bị CT. Chương trình đã tạo điều kiện mô phỏng một số trường hợp ảnh giả giúp người sử dụng hiểu rõ hơn về bản chất và cách thức nhận biết hoặc loại trừ các ảnh giả phổ biến.


Bài giảng Chăm sóc bệnh nhân hôn mê - TS.BS. Lê Thị Diễm Tuyết

Bài giảng "Chăm sóc bệnh nhân hôn mê" có nội dung trình bày về khái niệm hôn mê, định nghĩa ý thức, các phân độ của hôn mê, nguyên nhân rối loạn ý thức và hôn mê, chuẩn đoán điều dưỡng, lên kế hoạch theo dõi và chăm sóc,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.


Thực trạng kiến thức, thái độ và tuân thủ cấm hút thuốc trong sinh viên cử nhân chính quy và cán bộ trường Đại học Y tế Công cộng

Hút thuốc thụ động mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hai giai đoạn được tiến hành trên cán bộ và sinh viên chính quy trường Đại học Y tế công cộng (YTCC) với mục tiêu tìm hiểu kiến thức và thái độ về Luật và quy định cấm hút thuốc trong trường, kiến thức và thái độ đối với hút thuốc thụ động cũng như sự ủng hộ đối với Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá. Kết quả nghiên cứu cho thấy cán bộ và sinh viên trường YTCC có kiến thức tốt và tăng theo thời gian về các quy định cấm hút thuốc trong trường (sinh viên tang từ 87,1% lên 95,8%, cán bộ tang từ 94,3% lên 98,2%). Sinh viên và cán bộ trường có kiến thức và thái độ đúng về hút thuốc thụ động với tỷ lệ cao (trên 95% sinh viên và cán bộ có kiến thức đúng về tác hại của hút thuốc thụ động ở cả hai giai đoạn và tang lên theo thời gian). Tại trường Đại học YTCC, việc tuân thủ quy định cấm hút thuốc trong nhà trường được thực hiện tương đối tốt với tỷ lệ báo cáo vi phạm thấp.


Kiến thức của cán bộ y tế tuyến xã về phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ dưới 6 tuổi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu tìm hiểu thực trạng kiến thức về PHS khuyết tật của CBYT tuyến xã. Qua phỏng vấn định lượng 259 CBYT tuyến xã trên địa bàn huyện. Kết quả cho thấy tỷ lệ có kiến thức đạt về phát hiện sớm khuyết tật là 69,5%. Tỷ lệ CBYT có kiến thức đúng về các dấu hiệu nhận biết các dạng tật thấp, đặc biệt là khuyết tật thần kinh-tâm thần. Một số yếu tố có liên quan đến kiến thức PHS khuyết tật của CBYT là tuổi, tham gia chương trình Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ), thâm niên trong ngành và tuyến công tác. . Những phát hiện trong nghiên cứu gợi ý rằng cần nâng cao kiến thức của CBYT về PHS, trong đó lưu ý các đối tượng CBYT thôn bản, tuổi dưới 40, thâm niên trong ngành y trên 10 năm và chưa tham gia chương trình PHCNDVCĐ.


Đóng góp của chương trình đào tạo Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng vào sử dụng các năng lực và phát triển nghề nghiệp: Kết quả điều tra cựu học viên

Trường Đại học Y tế công cộng (YTCC) đã tiên phong đào tạo Thạc sỹ YTCC từ năm 1997. Nghiên cứu này nhằm đánh giá đóng góp của chương trình đào tạo (CTĐT) vào việc sử dụng các năng lực YTCC và phát triển nghề nghiệp của cựu học viên (CHV). Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính. Điều tra bằng bộ câu hỏi tự điền được thực hiện với toàn bộ 359 CHV của 9 khóa, từ 2002-2010 (tỷ lệ trả lời 52,4%). 28 người gồm CHV, đồng nghiệp và người quản lý trực tiếp của CHV đã được phỏng vấn sâu. Kết quả cho thấy tỷ lệ CHV sử dụng 7 nhóm năng lực YTCC khá cao, trên 90%. CTĐT đã góp phần giúp CHV sử dụng các năng lực này (gần 80%). Tuy nhiên, mức độ đóng góp chút ít cao hơn so với đóng góp nhiều. Vai trò đóng góp đáng kể của CTĐT đối với việc chuyển tới cơ quan công tác tốt hơn và được đề bạt lên vị trí quản lý cũng được CHV nghi nhận, tương ứng 49,4% và 63,7%.


Giá trị và độ tin cậy của thang đo bị bắt nạt học đường và qua mạng: Kết quả nghiên cứu với học sinh đô thị Hà Nội và Hải Dương

Bị bắt nạt có mối liên quan đến sức khoẻ tâm thần của vị thành niên. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xây dựng công cụ có giá trị và độ tin cậy đo lường hành vi bị bắt nạt của học sinh. Nghiên cứu khảo sát bằng bảng hỏi tự điền với 1.424 học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học ở Hà Nội và Hải Dương năm 2014 (54,9% nữ, tuổi trung bình: 14,7, SD=1,9). Phân tích thành tố chính cho kết quả 2 thành tố với tỉ lệ giải thích biến thiên của thang đo là 58,0%. Đánh giá tính giá trị dự báo thông qua phân tích tương quan giữa điểm trung bình bị bắt nạt với các biến tuổi, giới tính, triệu chứng trầm cảm, rối loạn tâm lý, và suy nghĩ/dự định tự tử cho kết quả phù hợp với y văn. Phân tích sự nhất quán bên trong để đánh giá tính giá trị của thang đo cho kết quả hệ số tương quan của hai thành tố bắt nạt qua mạng, bắt nạt học đường và cả thang đo tương ứng: 0,92; 0,73; và 0,85. Kết quả khẳng định công cụ đảm bảo chất lượng.


Chính sách y tế công cộng và vai trò của nó trong hệ thống phát triển ngành y tế

Lịch sử y tế công cộng phần lớn bắt đầu từ sự thay đổi ý tưởng về nguyên nhân bệnh, giảm mắc bệnh và nâng cao sức khỏe. Y tế công cộng được nhận thức cùng với sự phát triển của y học lâm sàng, nó quan tâm đến một phạm vi rộng lớn các yếu tố ảnh hưởng mà cá nhân và cộng đồng phải đương đầu trong mối quan hệ sức khỏe bệnh tật. Mặc dù phát triển theo chiều hướng tích cực, y tế công cộng còn có một số vấn đề tồn tại. Một trong những tồn tại này là chưa tập trung quan tâm đủ hiệu quả đến các yếu tố nguy cơ thật sự của sức khỏe. Hệ thống y tế quốc gia vẫn bị chi phối và thống trị bởi hệ thống bệnh viện và những vấn đề của bệnh viện: áp lực giường bệnh, nhu cầu thuốc đắt tiền và kỹ thuật cao. Từ thực tế này, đòi hỏi phải có tính nhất quán của chính sách y tế và hiệu quả chi phí. Đây là hai vấn đề chính của chính sách y tế quốc gia đòi hỏi phải thuyết phục để có sự thay đổi tư duy của các nhà hoạch định chiến lược y tế các cấp.


Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và phòng chống bệnh dịch hạch ở Việt Nam 1975- 2003

Qua phân tích tình hình, các kết quả nghiên cứu 1975- 2003, có một số nhận định như sau: Bệnh dịch hạch ở Việt Nam đã có quá trình 105 năm (1898- 2003), dịch có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có thể chia làm 4 thời kỳ dịch tễ học: xâm nhập: 1898- 1922; lắng dịu: 1923- 1960; bùng phát: 1961- 1990; thu hẹp: 1991- 2003. Bệnh nhân chủ yếu là thể hạch. Có ghi nhận thể phổi nguyên phát nhưng hiếm khi xảy ra dịch thể phổi lớn. Dịch có đặc điểm là dịch vùng dân cư của chuột gần người, không có dịch hoang dại. Dịch lưu hành dai dẳng ở vùng cực nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Các yếu tố liên quan đến sự dai dẳng của dịch là: nhiệt độ các tháng không quá 27oC, không bị ngập lụt, có mặt chuột Rattus exulans. Biện pháp phòng chống hiệu quả là diệt bọ chét bằng hóa chất. Đặt hộp mồi Kartman thanh toán được các ổ dịch dai dẳng. Đến nay dịch đã được khống chế một bước lớn, cần tiếp tục giám sát, phòng chống tiến tới thanh toán bệnh dịch hạch ở Việt Nam trong một tương lai không xa.


Thúc đẩy phòng lây truyền HIV/AIDS qua biên giới giữa Trung Quốc và các nước vùng sông Mê Kông

Dịch HIV/AIDS có khả năng bùng nổ ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc và các tỉnh phía bắc Lào, Myanmar và Việt Nam. Việc phân loại nhóm gen của HIV đã khẳng định sự lan truyền đáng kể vi rút qua biên giới giữa các nước này. Sử dụng ma túy, di biến động dân cư và mua bán tình dục là các yếu tố thúc đẩy dịch lan nhanh. Dù mỗi nước đã có nỗ lực phòng chống HIV nhưng sự cộng tác giữa hai bên để ngăn chặn lây lan qua biên giới còn hạn chế. Với sự hỗ trợ từ Bộ Ngoại giao Mỹ , PATH, và Hội Nghiên cứu và Sức khỏe Sinh sản Vân Nam đã triệu tập một cuộc hội tụ đại diện các tổ chức chính phủ, phi chính phủ ở các khu vực hai bên biên giới và dẫn dắt quá trình lập kế hoạch hành động. Bản kế hoạch nhằm vào cải thiện nhanh chóng những nỗ lực hòng chống HIV/AIDS ở các khu vực biên giới phía nam Trung Quốc và các nước vùng sông Mê Kông.


Giá trị, độ tin cậy của thang đo trầm cảm của vị thành niên và thanh niên và một số yếu tố liên quan tại huyện Chí Linh, Hải Dương năm 2006

Mục tiêu nghiên cứu này nhằm: (1) Xây dựng và bước đầu đánh giá giá trị và độ tin cậy của thang đo trầm cảm của vị thành niên và thanh niên tại 7 xã/thị chấn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; (2) tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố dân số xã hội và mức độ trầm cảm của những đối tượng trên. Thang đo trầm cảm được chúng tôi dịch dựa trên thang đo trầm cảm của Trung tâm Nghiên cứu dịch tễ học (CES-D), Mỹ và xây dựng theo quy trình cụ thể, sau đó được kiểm định với 12.447 vị thành niên và thanh niên huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.


Yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3 tại thành phố Hồ Chí Minh

Hiện có khoảng 17 triệu trẻ vị thành niên (VTN) tại Việt Nam (22%) và hơn 1 triệu trẻ VTN tại Tp HCM. Hoạt động tình dục sơm, nạo phá thai ở lứa tuổi này là mối lo của gia đình và xã hội. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là xác định mối liên quan của một số yếu tố với hành vi quan hệ tình dục ở nữ sinh cấp 3.


Những rào cản ảnh hưởng đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người di cư mùa vụ độ tuổi 18 - 50 tại phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội năm 2012

Phân tích chủ đề được thực hiện sau khi gỡ băng và mã hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập thấp và không ổn định, chi phí khám chữa bệnh cao tại nơi đến chính là rào cản lớn đến tiếp cận và sử dụng dịch vu y tế. Bên cạnh đó, một số yếu tố khác như thời gian làm việc dài, thói quen tự điều trị, Bảo hiểm Y tế cũng góp phần ảnh hưởng đến tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người di cư. Khuyến nghị: các hoạt động nâng cao sức khỏe cộng đồng cần lôi kéo sự tham gia của người di cư và với người di cư nên đi khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần.


Khảo sát mức độ hút thuốc lá thụ động tại các địa điểm công cộng ở Hà Nội

Nghiên cứu được tiến hành để cung cấp những kết quả ban đầu về mức độ hút thuốc thụ động ở các địa điểm công cộng tại Hà Nội, từ đó làm cơ sở hỗ trợ xây dựng các chính sách phòng chống hút thuốc lá. Nghiên cứu được tiến hành tại 35 địa điểm cộng cộng gồm các cơ quan nhà nước, bệnh viện, trường phổ thông cơ sở, nhà hàng và các địa điểm vui chơi giải trí từ tháng 1/2010. Kết quả cho thấy nồng độ PM2.5 trong không khí ở trong nhà và ngoài trời tại tất cả các địa điểm trong mẫu nghiên cứu đều cao hơn tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ((25 µg/m3), nồng độ PM2.5 đặc biệt cao tại các địa điểm vui chơi giải trí, nhà hàng.


Gia đình và giáo dục tình dục, sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên

Mặc dù có những tranh cãi về tính thích hợp trong việc giáo dục tình dục cho trẻ em và vị thành niên (VTN) thì việc khám phá và phát triển đặc trưng tính dục là điều rất tự nhiên và cần thiết cho mỗi con người trong chặng đường phát triển. Vai trò của gia đình thông qua giáo dục giữa cha mẹ và con cái đã được coi là nguồn thông tin giáo dục quan trọng trong giáo dục tình dục và sức khỏe sinh sản cho VTN bên cạnh hai chủ đề khác là nhà trường và xã hội. Giáo dục tình dục và sức khỏe sinh sản trong gia đình không những giúp VTN ngăn ngừa được những hành vi thiếu lành mạnh mà còn giúp trẻ phát triển những giá trị tính dục bản thân, nâng cao sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản không những trong giai đoạn dậy thì mà còn trong suốt cuộc đờ


Cải cách tài chính y tế ở Đông Nam Á: Những thách thức để đạt được bao phủ toàn dân

Trong bài viết này, chúng tôi xem xét cải cách tài chính y tế tại 7 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, những nước đang cố gắng hạn chế sự phụ thuộc vào khoản chi trả trực tiếp (bằng tiền túi) của người bệnh, tăng tài chính y tế bằng quỹ chung, và mở rộng sử dụng dịch vụ y tế để dần tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.


Một số vấn đề trong cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc

Hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc đã có nhiều cải cách trong hai thập kỷ qua. Một hệ thống chăm sóc sức khỏe có thể coi là tốt khi hệ thống đó chăm sóc sức khỏe cho nhân dân với thước đo là chỉ số sức khỏe, bằng cách đảm bảo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cung cấp kịp thời cho mọi người dân không kể giàu nghèo, ở mức độ phù hợp với khả năng của nền kinh tế quốc gia.


Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân CHILILAB năm 2011: Thực trạng và một số đề xuất

Hiện nay, mô hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh đã có nhiều thay đổi so với những năm trước đây. Nghiên cứu này được thực hiện để bước đầu đưa ra bức tranh toàn cảnh của việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (DVKCB) trong phạm vi các xã, phường thuộc cơ sở thuộc cơ sở thực địa CHILILAB, Trường Đại học Y tế Công cộng (Chí Linh, Hải Dương). Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi định lượng để thu thập thông tin.


Thay đổi kiến thức của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu – Phát hiện từ chương trình can thiệp cộng đồng hướng tới người cha tại khu vực nông thôn Việt Nam

ai trò của người cha trong mối liên quan tới dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ nhỏ đã được nhìn nhận ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên chỉ có một số ít nghiên cứu về hiểu biết và vai trò của người cha trong nuôi còn bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Nghiên cứu này kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức cảu người cha sau chương trình can thiệp giao dục sức khỏe cộng đồng, sử dụng thiết kế nghiên cứu phỏng thực nghiệm, trước-sau, có đối chứng. Tại giai đoạn trước can thiệp, 251 cặp vợ chồng có vợ đang mang thai được chọn vào can thiệp (CHILILAB – Chí Linh) và 241 cặp tương ứng được chọn vào nhóm không can thiệp (Thanh Hà). Đối tượng can thiệp là những người cha có vợ đang mang thai.


Hiệu quả tầm soát ung thư cổ tử cung tại cộng đồng sử dụng phương pháp VIA và PAP ở phụ nữ từ 30 đến 65 tuổi tại Bắc Ninh và Cần Thơ, 2013

Các phụ nữ tham gia nghiên cứu cắt ngang được hỏi thông tin về nhân khẩu học, tiền sử viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, được khám và lấy maux xét nghiệm VIA, PAP và sinh thiết mô bệnh học. Kết quả: Trong tổng số 1945 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng có kết quả VIA dương tính là 8,1%, tỷ lệ đối tượng có kết quả PAP dương tính là 6,1%. Nếu quy định tổn thương cổ tử cung từ nặng hơn hoặc bằng CIN1 là bất thường, cả VIA và PAP đều có độ nhạy cao tương úng là 85,71% (KTC 95%: 65,36-95,02) và 90,47% (KTC 95%: 71,09-97,35) và độ đặc hiệu tốt: của VIA là 68,12% (KTC 95%: 63,60-72,32) và 77,06% (KTC 95%: 72,89-80,76). Kết luận và Khuyến nghị: VIA là xét nghiệm tầm soát có giá trị khá tốt ở tuyển cơ sở và cộng đồng.


Hướng tới quản lí tích hợp phân người và phân động vật tại Việt Nam: Văn bản quy định và ảnh hưởng môi trường và sức khỏe

Phân người và phân động vật nếu chưa được xử lý tốt mà thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm và ảnh hưởng tới sức khỏe con người do phân chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh. Việc quản lý tổng hợp phân người và phân động vật đang gặp nhiều khó khăn do nguồn phát thải phân người và động vật rất gần nhau và lượng phân được thải ra với khối lượng lớn do mật độ người và chăn nuôi cao. Trong khi đó nhu cầu tái sử dụng phân trong nông nghiệp và thủy sản lại yêu cầu hàm lượng dinh dưỡng cao nhưng phải đảm bảo an toàn. Bài báo này phân tích thực trạng quản lý phân người và phân động vật dưới góc độ các văn bản quy định và các ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe. Chúng tôi cũng giới thiệu những kết quả nghiên cứu ban đầu về cách quản lý tích hợp phân người và động vật ở Hà Nam. Cuối cùng bài báo đề xuất các khuyến nghị nhằm quản lý hiệu quả phân người và động vật nhằm tái sử dụng phân an toàn và cải thiện sức khỏe.


Thực hành phát hiện sớm khuyết tật của trẻ dưới 3 tuổi của người chăm sóc trẻ chính xã Nam Thắng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2015

Phát hiện sớm các khuyết tật ở trẻ em, xác định đúng khó khăn và can thiệp phù hợp sẽ giúp cho trẻ có cơ hội để phát triển hết khả năng của mình. Cha mẹ, người chăm sóc chính (NCSC) của trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát hiện sớm (PHS) khuyết tật ở trẻ. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện cắt ngang trên 209 NCSC trẻ dưới 3 tuổi tại xã Nam Thắng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình nhằm tìm hiểu thực trạng thực hành phát hiện sớm khuyết tật của NCSC và các yếu tố liên quan.


Nguyên nhân tử vong ở CHILILAB giai đoạn 2008-2010 qua phương pháp phỏng vấn người đại diện

Đây là một nghiên cứu cắt ngang với mục tiêu: 1) Xác định nguyên nhân tử vong đặc trưng theo giới tính, nhóm tuổi ở CHILILAB giai đoạn 2008-2010; 2) Xác định tính đồng nhất về nguyên nhân tử vong giữa thông tin DSS và kết quả của VA. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chẩn đoán nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn người đại diện (VA) của 896 đối tượng tử vong tại 7 xã/thị trấn của địa bàn CHILILAB trong khoảng thời gian 2008-2010. Điều tra viên CHILILAB tiếp cận hộ gia đình có người tử vong, phỏng vấn người đại diện các thông tin được ghi nhận qua phiếu VA.


Thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh tại Việt Nam năm 2015

Nghiên cứu “Thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh tại Việt Nam năm 2015” được thực hiện nhằm: (1) Mô tả thực trạng vi phạm các quy định (QĐ) cấm quảng cáo (QC), khuyến mại (KM) thuốc lá (TL) tại điểm bán lẻ ở 6 tỉnh, (2) Tìm hiểu những khó khăn, thách thức trong việc thực thi QĐ cấm QC, KM TL tại Việt Nam. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, với 1.199 điểm bán lẻ được quan sát bằng bảng kiểm, kết hợp phỏng vấn sâu thanh tra văn hóa, thể thao, du lịch.


Thực trạng và động cơ đồng sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamine tại ba thành phố lớn ở Việt Nam

Bài viết này trình bày kết quả định tính từ một nghiên cứu lớn được thực hiện tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu: mô tả thực trạng đồng sử dụng heroin và ATS; và phân tích động cơ đồng sử dụng heroin và ATS của nhóm TCMT tại ba thành phố trên. Kết quả: hiện tượng đồng sử dụng ma túy là phổ biến trong nhóm TCMT, trong đó đồng sử dụng heroin và đá là phổ biến hơn cả.


Rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở cán bộ Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng

Rối loạn lo âu (RLLA) là một bệnh tâm thần phổ biến ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, sinh hoạt và công việc. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ RLLA và một số yếu tố liên quan ở cán bộ y tế (CBYT) Bệnh viện Tâm thần (BVTT) Đà Nẵng năm 2012. Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng sử dụng bộ câu hỏi tự điền với toàn bộ cán bộ (tỷ lệ trả lời 89,3%).


Nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo thạc sỹ y tế công cộng: 10 năm đầu tiên

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính được thực hiện năm 2006 nhằm mô tả và phân tích những nhận định chung của các cựu học viên YTCC về chương trình đào tạo để giúp hoàn thiện chương trình đào tạo Thạc sĩ YTCC. Tống số 146 cựu học viên trong sồ 187 người thuộc 7 khóa Cao học YTCC đã tham gia nghiên cứu này. Kết quả cho thấy nhìn chung cựu học viên đánh giá cao chương trình đào tạo đã học.


Lợi ích kinh tế từ việc phòng ngừa được các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu ước tính lợi ích kinh tế từ việc phòng ngừa được các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam. Nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2010. Đây là nghiên cứu tính toán lợi ích kinh tế thông qua việc ước tính chi phí y tế cho các trường hợp mắc tiêu chảy phòng ngừa được nhờ sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.


Sự lan truyền và tính kháng kháng sinh của Escherichia coli trong nước thải ở Hà Nam

Bài viết nghiên cứu sự lan truyền và tính kháng thuốc của các kiểu hình riêng biệt E.coli đường ruột từ nước thải tới các sản phẩm liên quan đến việc sử dụng nước thải (như rau trồng bằng nước thải) và tới con người tại tỉnh Hà Nam.


Tình hình sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2008

Triển khai Bảo hiểm Y tế tự nguyện (BHYTTN) là một trong những biện pháp quan trọng để tiến tới BHYT toàn dân. Nghiên cứu này được tiến hành vào năm 2008 tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nhằm: (1) Mô tả tình hình sử dụng thẻ BHYTTN; (2) Mô tả thái độ của người có thẻ với BHYTTN và đánh giá những thuận lợi, khó khăn của việc triển khai BHYTTN tại huyện Tiên Du.


Chức năng và nhiệm vụ của y tế công cộng

Kết quả nghiên cứu cho thấy: chấn thương chiếm tỷ lệ 13,3% trên tổng số các trường hợp nhập viện; tỷ lệ chấn thương ở nam cao gấp đôi so với nữ. Chấn thương giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (33%); ngộ độc đứng thứ 2 (18%); do đánh nhau đứng thứ 3 (15,8%). Với trẻ 0- 4 tuổi chấn thương do bỏng chiếm tỷ lệ cao nhất (44,2%); ngộ độc đứng thứ hai (32,2%) trong đó ngộ độc không do thức ăn chiếm tới 19%. Tỷ lệ tử vong do ngộ độc cao nhất chiếm 20,5% trong các trường hợp tử vong, trong đó ngộ độc không liên quan tới thức ăn là 10,8%; tỷ lệ tử vong do chấn thương giao thông và tự tử đứng hàng thứ 2 (cùng bằng 17,2%). Đuối nước là nguyên nhân tử vong xếp thứ 4 chiếm tỷ lệ 8,6%. Số năm sống tiềm tàng bị mất tính theo nguyên nhân chấn thương cho thấy ngộ độc vẫn là nguyên nhân tử vong do chấn thương có tỷ lệ số năm sống bị mất cao nhất chiếm 18,8%. Nguyên nhân tử vong có số năm sống bị mất cao thứ 2 là đuối nước.


Tài liệu mới download

Bài tập trắc nghiệm VERB FORM
  • 17/03/2011
  • 45.266
  • 814
KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN
  • 17/04/2011
  • 21.216
  • 335

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Sự xâm nhiễm của mầm bệnh
  • 02/11/2009
  • 90.704
  • 432
TRẮC NGHIỆM CHUYỂN HÓA CHUNG
  • 29/06/2011
  • 49.485
  • 244
Bệnh Học Thực Hành: Nấc
  • 22/10/2011
  • 61.795
  • 909
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – PHẦN 2
  • 23/06/2011
  • 45.661
  • 632

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu