Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Tổng kết một số chủ đề và đề xuất hướng nghiên cứu

Bài viết Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Tổng kết một số chủ đề và đề xuất hướng nghiên cứu trình bày tổng kết các nghiên cứu trước đây (135 bài báo khoa học) liên quan đến các chủ đề về CSR, cụ thể là thảo luận nguồn dữ liệu, các khung lý thuyết, đánh giá kết quả nghiên cứu, đo lường CSR theo các bên liên quan và đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 50, Phần D (2017): 19-33

DOI:10.22144/jvn.2017.049

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP - TỔNG KẾT MỘT SỐ CHỦ ĐỀ
VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 15/03/2017
Ngày nhận bài sửa: 13/06/2017
Ngày duyệt đăng: 28/06/2017

Title:
Corporate social
responsibility - a literature
review and future research
directions
Từ khóa:
Các bên liên quan, hiệu quả
tài chính, trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
Keywords:
Corporate social
responsibility, financial
performance, stakeholders

ABSTRACT
Corporate social responsibility (CSR) is one of the most prominent
concepts in the literature. Theoretical and empirical research largely
addressed this issue since 1950s. Considering the increasing importance
of CSR, it is required for scholars and managers to pay attention to
different aspects of CSR. The main purpose of this review is to proffer a
precise understanding of what has already been investigates and the
findings regarding the issues of CSR (135 articles). It is to discuss
possible data sources, conceptual frameworks of CSR, evaluates findings,
reliable measures of CSR to stakeholders, and then to propose directions
for future studies. The literature review revealed many theories used in
CSR reasearches but Carroll's theory and stakeholder theory were the
most in use. In Vietnam, CSR was discussed aiming to improve regulatory
frameworksin general; while foreign studies analyzed each aspect of
customer, employee, and branding to build suitable business strategies.
Future research should examine the role of mediating variables. It was
proposed that SMEs, customer aspects and mediators should be further
studied to maximine the benefits of CSR activities.
TÓM TẮT
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là khái niệm được chú ý
nhiều. Các nghiên cứu lý luận hay thực nghiệm đề cập đến chủ đề này từ
những năm 1950. Xét thấy tầm quan trọng của CSR ngày càng tăng, các
học giả cũng như nhà quản lý cần tập trung nghiên cứu các khía cạnh
của CSR.Bài viết tổng kết các nghiên cứu trước đây (135 bài báo khoa
học) liên quan đến các chủ đề về CSR, cụ thể là thảo luận nguồn dữ liệu,
các khung lý thuyết, đánh giá kết quả nghiên cứu, đo lường CSR theo các
bên liên quan và đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai. Qua lược
khảo cho thấy nhiều lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu CSR nhưng
lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết Carroll được sử dụng phổ biến
nhất. Trong nước, CSR được quan tâm nhiều để hoàn thiện về mặt thể chế
chung, chưa đi sâu từng ngành nghề. Trong khi các nghiên cứu nước
ngoài phân tích theo từng khía cạnh khách hàng, nhân viên và thương
hiệu nhằm đưa ra các chiến lược kinh doanh hợp lý theo từng ngành.
Nghiên cứu đề xuất tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, bổ sung các
biến trung gian, cũng như tập trung vào đối tượng khách hàng nhằm tối
đa hóa lợi ích từ các hoạt động CSR.

Trích dẫn: Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Tổng kết một
số chủ đề và đề xuất hướng nghiên cứu. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 50d: 19-33.

19

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

1

Tập 50, Phần D (2017): 19-33

viên, khách hàng, nhà đầu tư, tổ chức chính phủ và
các bên liên quan khác đều có kỳ vọng rằng các tổ
chức đã đang và sẽ hoạt động một cách có trách
nhiệm. Trong khi nhu cầu xã hội là vậy, các doanh
nghiệp cũng khó có thể từ bỏ mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận của mình(Sprinkle và Maines, 2010).Vì
vậy, nghiên cứu này mong muốn tổng kết các kết
quả nghiên cứu trong thời gian qua kể cả về lý
thuyết hay thực nghiệm về các chủ đề chính của
CSR để từ đó đề xuất một số hướng nghiên cứu
nên được thực hiện trong tương lai. Cụ thể hơn, bài
viết phân tích, so sánh và tổng hợp từ 135 bài báo
đăng trên các tạp chí khoa học chủ yếu từ
ScienceDirect, trong đó có 15 bài báo đăng trên tạp
chí khoa học trong nước. Các bài nghiên cứu này là
cơ sở đưa ra các định hướng nhằm khuyến khích
phát triển CSR cả về mặt lý luận lẫn thực
tiễn.Thêm vào đó, bài viết cũng hướng tới đề xuất
các chủ đề thuộc CSR cần tiếp tục nghiên cứu tiếp
theo nhằm giúp giới học thuật cũng như nhà quản
lý doanh nghiệp hiểu về CSR toàn diện hơn và thực
thi các hoạt động CSR hiệu quả hơn. Về cấu trúc
bài viết, bên cạnh phần đặt vấn đề, bài viết tập
trung vào hai phần chính: (1) Tóm tắt các chủ đề
chính đã được nghiên cứu trước đây; (2) Thảo luận
các chủ đề mới nổi chưa được nghiên cứu hoặc ít
đề cập đến. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số
hướng nghiên cứu cho chủ đề trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp để đảm bảo cho lợi ích doanh
nghiệp hài hòa với lợi ích của xã hội.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn
đi kèm với các vấn đề môi trường và xã hội.Vấn đề
này đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có các
doanh nghiệp tham gia giải quyết. Khởi đầu từ các
nước phát triển, sau đó hoạt động trách nhiệm xã
hội phát triển rộng ra ở các nước đang phát triển và
Việt Nam không phải là ngoại lệ, đặc biệt trong xu
thế hội nhập và canh tranh gay gắt như hiện nay.
Các doanh nghiệp đóng vai trò kết nối các chủ thể
của nền kinh tế và cần tiên phong trong thực thi các
xu hướng toàn cầu như trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp (CSR). Toàn cầu hóa và việc chia sẻ
thông tin một cách dễ dàng trên quy mô toàn thế
giới đã đẩy trách nhiệm xã hội trở thành vấn đề đi
đầu trong kế hoạch chiến lược của các loại tổ chức
kể cả tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận.Do đó, các
hoạt động liên quan đến phát triển bền vững đi đôi
với hiệu quả kinh tế cũng diễn ra rất sôi nổi. Với
bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu
vào nền kinh tế toàn cầu, cụ thể như trở thành
thành viên thứ 150 của WTO năm 2007, ký các
hiệp định thương mại thế hệ mới và gia nhập Cộng
đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 đã mở ra
nhiều triển vọng mới kèm theo đó là những thách
thức không hề nhỏ cho hoạt động của từng doanh
nghiệp. Cho đến nay vẫn tồn tại các vấn đề xã hội
bức xúc liên quan đến ô nhiễm môi trường, vi
phạm đạo đức kinh doanh, thiếu trách nhiệm với an
sinh an toàn của cộng đồng dân cư, tuy nhiên, vẫn
có các minh chứng về các hoạt động cụ thể của các
doanh nghiệp đang cố gắng đồng hành với khó
khăn trong cộng đồng như các hoạt động tài trợ, từ
thiện, nhằm khẳng định trách nhiệm xã hội của
mình.

2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ CSR
2.1 Khái niệm CSR
Tuy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trở
thành chủ đề nghiên cứu mới trong vài thập kỷ gần
đây nhưng có rất nhiều lý luận xung quanh chủ đề
này. Có nhiều nghiên cứu lý luận cũng như thực
nghiệm, nhưng chưa có một khái niệm nhất quán
nào về CSR. Wood (2010) cho rằng CSR rất khó
để định nghĩa, các đối tượng khác nhau nhìn nhận
CSR khác nhau. Mỗi ngành nghề, tổ chức, chính
phủ nhìn nhận CSR theo những góc độ và quan
điểm riêng, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về CSR doanh nghiệp. Mặc dù thiếu một định
nghĩa nhất quán nhưng tất cả định nghĩa đều thể
hiện rằng công ty nên đáp ứng các kỳ vọng của xã
hội khi hoạch định các chiến lược quản lý môi
trường (Gossling và Vocht, 2007). Vào thập niên
1930, trong tạp chí Harvard Law Review, vấn đề
CSR được đưa ra tranh luận tập trung vào trách
nhiệm của nhà quản lý đối với xã hội (Dodd,
1932). Điều đó cho thấy CSR thuộc lãnh vực quản
trị, hướng tới nhấn mạnh ý nghĩa, nhiệm vụ và các
kỳ vọng từ CSR cũng như tác động của nó lên thực
trạng công ty. Sau đó, từ CSR đầu tiên xuất hiện
trong quyển “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”

Trong vài năm gần đây, chính sách môi trường,
xã hội của các doanh nghiệp đã được chú trọng
hơn.Hầu hết các tổ chứcquốc tế lớn như Liên hiệp
quốc, Ngân hàng thế giới, Các tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) đều đưa ra các hướng dẫn nhằm nghiên
cứu và xúc tiến CSR. Năm 1977, dưới 50% các
công ty trong danh sách Fortune 500 đề cập đến
CSR trong báo cáo thường niên, đến cuối thập niên
1990, gần 90% các công ty coi CSR là một phần
quan trọng trong mục tiêu hoạt động, trình bày các
hoạt động CSR trong báo cáo thường niên (Boli và
Hartsuiker, 2001). Một số nhà quản lý cho rằng
CSR đơn thuần là làm từ thiện trong khi CSR bao
gồm cả các yếu tố bên trong tổ chức. Mặc dù vấn
đề nguồn lực cản trở việc thực hiện CSR như thiếu
nhân lực, tài chính cũng như kỹ thuật thực hiện
nhưng bất kỳ tổ chức nào cũng phải quan tâm đến
các tác động của mình lên môi trường và an sinh xã
hội. Theo Sprinkle và Maines(2010) vì tất cả nhân
20

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 50, Phần D (2017): 19-33

từ đó đưa ra các chiến lược hợp lý, cụ thể là tập
trung vào năm khía cạnh: các bên liên quan, xã hội,
kinh tế, tự nguyện và môi trường.

(Social Reponsibilities of the Businessmen) của
Bowen (1953) cho rằng CSR là nghĩa vụ của người
làm kinh doanh trong việc đề xuất và thực thi các
chính sách không làm tổn hại đến quyền và lợi ích
của người khác. Votaw (1972) nhấn mạnh thuật
ngữ CSR có nghĩa là công ty có trách nhiệm tại địa
phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ
này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức
khác nhau.

2.2. Các lý thuyết được sử dụng trong
nghiên cứu CSR
Đa số các nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm
xã hội tại các ngân hàng với cách tiếp cận theo lý
thuyết các bên liên quan. Các bên liên quan là các
đối tượng tham gia, ảnh hưởng hay hưởng lợi từ
các hoạt động liên quan đến CSR bao gồm cổ
đông/chủ sở hữu, cộng đồng, khách hàng, đối tác,
người lao động. Theo Lee (2011) lý thuyết các bên
liên quan phát triển lên từ lý thuyết thể chế. Nội
dung về các bên liên quan đầu tiên xuất hiện trong
lý luận quản lý từ thập niên 1960, tuy nhiên mãi
đến thập niên 1980, nó mới chính thức được các
học giả sử dụng. Cách tiếp cận lý thuyết các bên
liên quan đầu tiên được Freeman (1984) trình bày
về đạo đức kinh doanh trong một tổ chức. Theo lý
thuyết này, các bên liên quan là bất kỳ nhóm hay
cá nhân bị ảnh hưởng, có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp, bởi các hoạt động của công ty. Thí dụ như cổ
đông, chủ sở hữu của công ty, cơ quan chính phủ,
nhóm chính trị, các Hiệp hội, thương mại, cộng
đồng, nhân viên, khách hàng. Theo Deegan và
Samkin (2009) doanh nghiệp nên hài hòa lợi ích
của các bên, nếu các bên xung đột lợi ích, doanh
nghiệp có nhiệm vụ cân bằng lợi ích tối ưu. Lý
thuyết này tiêu biểu qua các nghiên cứu sau: như
Ullmann (1985),Roberts (1992),Clarkson (1995),
Van der Laan Smith et al (2005),McDonald và
Rundle-Thiele
(2008),
Mandhachitara

Poolthong (2011), Lee et al (2012), Pérez và del
Bosque (2014, 2015), Khan et al (2015).

Một định nghĩa về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp được nhiều nghiên cứu lựa chọn là
định nghĩa của Carroll(1979, 1991)“Trách nhiệm
xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức
và lòng từ thiện của một tổ chức mà xã hội mong
đợi trong mỗi thời điểm nhất định”. Định nghĩa này
được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về
trách nhiệm xã hội, tùy vào tổ chức mà người quản
lý có thể chọn vấn đề nào trong bốn mức độ trên.
Một định nghĩa phổ biến khác về trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp của Ủy hội châu Âu
(European Commission, 2001) cho rằng các doanh
nghiệp tích hợp các mối quan tâm của xã hội và
môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình có sự tương tác với các bên liên quan trên cơ sở tự
nguyện. Năm 2011, chiến lược đổi mới CSR 20112014 đã đưa ra khung khổ mới, mở rộng phạm vi
và các khía cạnh của CSR, ít nhất bao gồm các vấn
đề: nhân quyền, lao động và việc làm (đào tạo, đa
dạng hóa cơ hội, bình đẳng giới và sức khỏe người
lao động, phúc lợi doanh nghiệp), vấn đề môi
trường (chẳng hạn như đa dạng sinh học, biến đổi
khí hậu, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, phòng
ngừa ô nhiễm), chống hối lộ và tham nhũng. Sự
tham gia của cộng đồng và hỗ trợ phát triển xã hội
bảo đảm khả năng hội nhập của người tàn tật, bảo
vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng là một phần
không thể thiếu của CSR. Ủy ban châu Âu coi việc
thúc đẩy CSR và bảo vệ môi trường thông qua các
chuỗi cung ứng, trách nhiệm công bố thông tin phi
tài chính, đổi mới công tác quản trị về thuế (nâng
cao tính minh bạch, trao đổi thông tin và cạnh tranh
công bằng thuế) là những cách thức quan trọng để
thực hiện chiến lược CSR.

Cũng sử dụng lý thuyết các bên liên quan
nhưng Lee (2011) phát triển thêm việc tác động
qua lại của chiến lược CSR lên chiến lược ở cấp
công ty và ngược lại. Mục đích không phải là ủng
hộ hay không ủng hộ các hoạt động liên quan đến
CSR mà là nhấn mạnh vào bối cảnh kinh tế xã hội
cụ thể để thực thi thành công CSR như quan điểm
về lợi thế cạnh tranh của nhà kinh tế học đoạt giải
Nobel - Samuelson (1954). Öberseder et al (2013)
cũng sử dụng lý thuyết này để xem xét các hoạt
động CSR và nhận thức của khách hàng trong bối
cảnh đánh giá hầu hết các bên liên quan. Không thể
phủ nhận việc áp dụng rộng rãi lý thuyết các bên
liên quan trong các nghiên cứu CSR, nhưng quan
điểm của Perrini (2006) cho rằng tổ chức quy mô
lớn nên áp dụng nhưng qui mô vừa và nhỏ nên dựa
vào khái niệm vốn xã hội.

Theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder
theory), Hopkins (2007) nhấn mạnh CSR ảnh
hưởng đến các ứng xử có trách nhiệm với các bên
hữu quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Hay nói cách khác mục đích của CSR là tạo ra mức
sống ngày càng cao cùng lúc với bảo tồn lợi ích
công ty cho các bên liên quan. Như đã phân tích ở
trên, CSR là một khái niệm rộng và được diễn tả
theo quan điểm của từng nhà nghiên cứu, phụ
thuộc vào bối cảnh nghiên cứu (Dahlsrud, 2008).
Do đó,từng học giả phải lựa chọn sử dụng khái
niệm CSR nào cho phù hợp với điều kiện thực tế,

Bên cạnh đó, lý thuyết của Caroll (1979) cũng
được sử dụng và phát triển trong nhiều nghiên cứu.
Đầu tiên là mô hình ba vòng tròn đồng tâm với
21

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 50, Phần D (2017): 19-33

kinh tế, giá trị xã hội và các vấn đề xã hội, sau đó
phát triển lên thành mô hình kim tự tháp (Carroll,
1991) có thể áp dụng cho tất cả các ngành nghề.
Mô hình này gồm 4 cấp độ: trách nhiệm kinh tế,
trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách
nhiệm từ thiện. Do các yếu tố được xếp theo thứ tự
dựa trên yêu cầu của CSR đối với từng doanh
nghiệp cụ thể nên được liên tưởng đến tháp nhu
cầu của Maslow (1954). Các nghiên cứu tiêu biểu
sử dụng lý thuyết này là Lee et al. (2012),
Polychronidou et al.(2014), Saeidi et al. (2015).

2.3. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu
CSR
Nhằm đo lường các khía cạnh khác nhau của
CSR từ các dữ liệu khả dụng, nhiều nhà nghiên cứu
đã tiến hành các cuộc điều tra để đo lường CSR
(Buzby và Falk, 1978; Hung, 2011); một số khác
sử dụng nghiên cứu thực nghiệm hay nghiên cứu
tình huống để đo lường CSR (O'Dwyer, 2011);
phương pháp này có điểm yếu là phát sinh các sai
lệch (biases) từ các đáp viên. Khắc phục điểm yếu
này, rất nhiều nghiên cứu sau đó sử dụng bộ dữ
liệu như KLD (The Kinder, Lynderberg, Domini
Research, and Analytics Inc), CRD Analytics,
Dow-Jones Sustainability...

Ngoài ra, các lý thuyết khác được sử dụng
trong nghiên cứu về CSR thời gian qua cũng đa
dạng. Cụ thể như Becker-Olsen et al. (2006) và
McDonald và Rundle-Thiele(2008) sử dụng lý
thuyết Marketing nghiên cứu các hoạt động CSR
mang lại lợi ích cho công ty nhờ hành vi mua của
khách hàng. Scholtens (2009) dùng lý thuyết đầu tư
có trách nhiệm xã hội của Sparkes và Cowton
(2004). Vassileva (2009) dùng cách tiếp cận Kéo
và Đẩy; Kang et al. (2010) dùng lý thuyết tác động
tích cực, tiêu cực. Thêm vào đó, một số lý thuyết
được sử dụng gần đây như lý thuyết nhận dạng xã
hội (He và Li, 2011); lý thuyết tổ chức (Lee, 2011);
lý thuyết giá trị hợp lý (Carnevale et al., 2012); lý
thuyết cầu (Bauman và Skitka, 2012); lý thuyết chi
phí lợi ích (Rhouet al., 2016). Thêm vào sự đa
dạng đó, lý thuyết hành vi truyền thông
Habermasian được Lock và Seele (2016) sử dụng
để nghiên cứu các Báo cáo CSR ở châu Âu. Lý
thuyết Quy kết (Attribution theory), một lý thuyết
giả định rằng cố gắng để hiểu được hành vi của
người khác bằng cách quy cảm xúc, niềm tin và ý
định của họ, được Karaosmanoglu et al. (2016)
dùng để nghiên cứu tác động của CSR lên thương
hiệu. Nói chung, các lý thuyết được đưa vào
nghiên cứu CSR ngày càng đa dạng để có thể giải
thích rõ hơn các tác động lên từng doanh nghiệp
theo ngành nghề khác nhau.

Từ năm 2000, lý luận về trách nhiệm xã hội
trong lĩnh vực kế toán bắt đầu tập trung vào CSR
và các công bố liên quan CSR trên các báo cáo của
công ty (Malik, 2015). Điều này cho thấy bước
chuyển mình từ nghiên cứu mô tả và định tính
(không có giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu) trong
quản trị sang nghiên cứu định lượng (câu hỏi
nghiên cứu cụ thể, kiểm định giả thuyết thông qua
thực nghiệm) trong tài chính kế toán. Dữ liệu chủ
yếu đến từ các cuộc điều tra, phỏng vấn trực tiếp,
từ cơ sở dữ liệu như Datastream, EIRIS, DJSI, Báo
cáo thường niên, Factiva, Thống kê lao động US
Bureau…Tóm lại, đo lường các hoạt động CSR
cũng như các tác động từ các hoạt động CSR luôn
là chủ đề tranh luận của giới học thuật hay người
quản lý. Mỗi phương pháp đo lường đều có ưu
nhược điểm, các nghiên cứu thường dựa vào tính
khả thi của dữ liệu để chọn cách đo lường phù hợp
nhất. Sự lựa chọn phương pháp đo lường cho phù
hợp với nguồn dữ liệu và lý thuyết tiếp cận được
các nghiên cứu áp dụng đa dạng, cụ thể được trình
bày trong Bảng 1.

22

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 50, Phần D (2017): 19-33

Bảng 1: Tổng hợp lý thuyết tiếp cận, phương pháp đo lường và nguồn dữ liệu
Lý thuyết tiếp Phương pháp
cận
đo lường
Lý thuyết các
bên liên quan
Lý thuyết
Carroll

Các lý thuyết
khác

Nguồn
dữ liệu

Ví dụ

McDonald và Hung Lai (2011);Mustafa
et al.(2012); Lee et al. (2013); Öberseder
et al. (2013); Fatma et al.(2014); Pérez
và del Bosque (2015); Fatma và Rahman
(2016)
Thực nghiệm, Kiểm định giả
Lee et al. (2012); Polychronidou et al.
Dữ liệu từ điều
thuyết
(2014)
tra sơ cấp thông
Becker-Olsen (2006); Vassileva (2009);
qua bảng câu
He và Li (2011);Yeung (2011); Blombäck
hỏi
Thực nghiệm, kiểm định giả
và Scandelius (2013); Ferdous và
thuyết, SEM, Biến trung gian,
Moniruzzaman (2013); Enock và
Thống kê mô tả, Hồi quy,
Basavaraj (2014); Hur et al.(2014);
Phân tích nhân tố
Pérez và del Bosque(2014); Martínez et
al. (2014);Khan et al.(2015); Fatma et al.
(2016); Karaosmanoglu et al (2016)
Thực nghiệm, Kiểm định giả
thuyết, SEM, Định tính,
Phỏng vấn chuyên gia, Phân
tích nhân tố, Biến trung gian

Thống kê mô tả, Thực
Cơ sở dữ liệu
nghiệm, Kiểm định giả thuyết,
EIRIS, KLD,
Tổng hợp
SGP, DJSI,
Factiva,
Lý thuyết
Thực nghiệm, Kiểm định giả Datastream,
Carroll
thuyết
Bankscope, Báo
Thực nghiệm, Hồi quy 2 bước cáo thường niên,
Thống kê lao
Heckman, Kiểm định giả
thuyết, Phân tích định lượng động US
Lý thuyết khác
nội dung, Hồi qui, Biến trung Bureau, Tổng
gian, Thống kê mô tả, Hồi quy hợp
tuyến tính
Lý thuyết các
bên liên quan

De la Cuesta-González et al.(2006);
Bhattacharya et al.(2009); Scholtens
(2009); Kang et al. (2010); Inoue và Lee
(2011); Bauman và Skitka
(2012);Carnevale et al. (2012);Lee et al.
(2012); Torres et al. (2012); Wu et al.
(2013); Saeidi et al. (2015); Lock và
Seele (2016); Rhou et al. (2016)

Nguồn: tác giả tổng hợp từ các bài nghiên cứu có liên quan

Lưu Minh Đức (2008), tác giả thấy rằng thật sự cần
thiết để thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thực
hiện trách nhiệm xã hội.Một nghiên cứu khác của
Nguyễn Đình Tài (2010)trình bày cơ sở lý luận gắn
kết trách nhiệm xã hội và phát triển bền
vững.Thêm vào đó các bài viết nhấn mạnh tầm
quan trọng của thực thi trách nhiệm xã hội, dựa
trên mối tương quan giữa lợi ích doanh nghiệp và
lợi ích xã hội (Lê Tuấn Bách, 2015). Giới hạn của
các nghiên cứu lý luận này là không có số liệu
minh chứng và trình bày chủ đề trách nhiệm xã hội
với phạm vi rộng, nhấn mạnh ở vấn đề thể chế để
tạo ra khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, đồng bộ hỗ trợ
các hoạt động liên quan đến CSR hiệu quả, chưa đi
sâu vào các khía cạnh của CSR. Một số nghiên cứu
khác phân tích về khía cạnh người lao động, lồng
ghép các chính sách nhân sự với CSR nhằm thúc
đẩy vào tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp và xã hội
(Nguyễn Ngọc Thắng, 2010) và trình bày các nội
dung chi tiết hơn như quyền lợi người lao động,
vấn đề nhân đạo, phân tích vai trò của quản lý nhà
nước (Võ Khắc Thường, 2013), tiếp cận theo từng

3 TỔNG KẾT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU CSR VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các nghiên cứu CSR ở Việt Nam
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã và
đang là chủ đề được nghiên cứu rộng rãi trên thế
giới, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Mặc dù chủ
đề này mới phát triển mạnh trong hai thập kỷ gần
đây, nhưng số lượng và chất lượng các bài nghiên
cứu đang tăng lên nhanh chóng. Các nghiên cứu
chia làm hai nhóm chính: nhóm nghiên cứu lý luận
và nhóm nghiên cứu thực nghiệm.
Các nghiên cứu lý luận: trình bày tổng quan
các cuộc tranh luận về trách nhiệm xã hội, thực
trạng CSR ở Việt Nam và các vấn đề tồn tại về tư
duy đổi mới của nhà nước (Nguyễn Đình Cung và
Lưu Minh Đức, 2008). Từ đó, nghiên cứuđưa ra
các kiến nghị để thực hiện CSR ở Việt Nam tốt
hơn. Nghiên cứu làm rõ nội dung trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp và vai trò của nó đối với
doanh nghiệp Việt Nam (Phạm Văn Đức, 2011).
Cũng cùng quan điểm với Nguyễn Đình Cung và
23

Tài liệu cùng danh mục Quản trị kinh doanh

Bài giảng Chương 7: Đầu tư tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn - TS. Nguyễn Văn Thuận

Bài giảng Chương 7: Đầu tư tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn trình bày những động cơ nắm giữ tiền mặt, gia tăng thu nhập tiền mặt, chậm chi trả tiền mặt, đầu tư tiền mặt, kiểm soát thu - chi tiền mặt. Mời bạn đọc theo dõi bài giảng.


Chương 4 : Quản lý kho nhà hàng Bar

Là thiết lập sự cân bằng giữa nhu cầu: Về hàng hoá nguyên vật liệu, thức ăn, đồ uống Và khả năng đáp ứng nhu cầu của nhà hàng.


Giáo trình phân tích phương pháp quản lý nguồn nhân lực với thực trạng và giải pháp về số lượng p8

Tham khảo tài liệu 'giáo trình phân tích phương pháp quản lý nguồn nhân lực với thực trạng và giải pháp về số lượng p8', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh part 10

Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với hệ thống kế toán Việt Nam chưa sử dụng khái niệm “lợi nhuận trước thuế và lãi vay” thì lấy chỉ tiêu “lợi nhuận trước thuế” (EBT) để tính. + Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (NPM - Net Profit Margin). Hay còn được gọi là hệ số lãi ròng, doanh lợi tiêu thụ hay suất sinh lời của doanh thu (ROS: Return on Sales) thể hiện 1 đồng doanh thu có khả năng đem lại bao nhiêu lợi nhuận ròng. Công thức tính như sau: Doanh lợi tiêu...


Bài giảng Quản trị học ( TS Trương Văn Sinh) - Chương 5 Chức năng hoạch định ( tt )

Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định giải pháp, hình thành các chương trình hành động để thực hiện có hiệu quả những mục tiêu đã vạch ra.


Bài giảng Dự báo trong kinh doanh (Business forecasting): Chương 7 - Phùng Thanh Bình

Chương 7 - Mô hình ARIMA. Những nội dung chính trong chương này gồm có: Phương pháp luận của Box-Jenkins, mô hình tự hồi quy, mô hình bình quân di động, mô hình bình quân di động tự hồi quy, chiến lược xây dựng mô hình ARIMA.


Đáp án đề thi tốt nghiệp cao đẳng nghề khóa 5 (2012-2015) - Nghề: Quản trị nhà hàng - Môn thi: Lý thuyết chuyên môn nghề - Mã đề thi: ĐA QTNH-LT22

Cùng tham khảo Đáp án đề thi tốt nghiệp cao đẳng nghề khóa 5 (2012-2015) - Nghề: Quản trị nhà hàng - Môn thi: Lý thuyết chuyên môn nghề - Mã đề thi: ĐA QTNH-LT22 sau đây với lời giải chi tiết cho mỗi câu hỏi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên nghề Quản trị nhà hàng.


Lecture Organizational behavior – Chapter 5: Motivating individuals

Lecture Organizational behavior – Chapter 5: Motivating individuals. The contents of this chapter include all of the following: Innate needs, desire for achievement, desire for fairness, desire for affiliation, desire for power.


Nghiên cứu marketing - Chương 8

Phân tích dữ liệu là việc phân tích và diễn giải ý nghiã của dữ liệu thu thập được thông qua 1 mẫu nghiên cứu, và suy rộng ra cho tổng thể nghiên cứu. Với kết quả nghiên cứu (xét trên tổng thể nghiên cứu) thu được ta sẽ có cơ sở để diễn giải ý nghiã của dữ liệu căn cứ vào mục tiêu của cuộc nghiên cứu. Việc điễn giải ý nghiã của kết quả nghiên cứu được thực hiện thông qua kỹ thuật diễn dịch, bản thân kết quả nghiên cứu chứa đựng thông tin về đối tượng nghiên cứu....


PSYCHOLOGY – SELECTED PAPERS

Editing this book was a pleasant, but challenging job. I enjoyed reviewing chapters from different domains, bringing up-to-date empirical research studies, excellent literature reviews and controversial issues. This was an instructive experience for me and the authors. We both learned from each other, making different backgrounds a gain-gain situation, by evaluating each chapter critically from different perspectives. We are sure the reader will enjoy the end result: a selection of chapters from different psychology domains....


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

WORK AND DEVELOPMENT PLAN CHECKLIST
  • 21/10/2009
  • 16.213
  • 214
BAD BEHAVIOR
  • 15/07/2009
  • 58.879
  • 634
Cơ sở của hành vi cá nhân
  • 03/11/2009
  • 21.158
  • 600

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu