Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh tại một trạm y tế xã miền núi tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu được tiến hành tại trạm y tế (TYT) xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu: Trạm y tế thiếu các trang thiết bị khám chữa bệnh, thiếu thuốc; Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thấp (52%); Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%), Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) 63,8%; BHYT phải chi trả cho số lượt khám chữa bệnh là 160,6%; Số tiền thuốc bình quân đầu người/năm 42 nghìn đồng. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh: Cán bộ TYT không được đào tạo về kỹ năng quản lý nên còn yếu kém, không linh hoạt trong quản lý. Tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm... Người dân lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh thuốc.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Phạm Hồng Hải

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

104(04): 3 - 7

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁCH CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH
TẠI MỘT TRẠM Y TẾ XÃ MIỀN NÚI TỈNH THÁI NGUYÊN
Phạm Hồng Hải*
Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại trạm y tế (TYT) xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu: Trạm y tế thiếu các trang thiết
bị khám chữa bệnh, thiếu thuốc; Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thấp (52%); Tỷ lệ trẻ em dưới 5
tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao (20%), Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (BHYT)
63,8%; BHYT phải chi trả cho số lượt khám chữa bệnh là 160,6%; Số tiền thuốc bình quân đầu
người/năm 42 nghìn đồng. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và cách chi trả khám chữa
bệnh: Cán bộ TYT không được đào tạo về kỹ năng quản lý nên còn yếu kém, không linh hoạt trong
quản lý. Tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến
nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm... Người dân lạm dụng thẻ BHYT để đi lĩnh thuốc.
Tóm tắt: trạm y tế xã, Thái Nguyên, Bảo hiểm y tế

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trạm y tế xã là tuyến đầu tiên của hệ thống y
tế tiếp xúc trực tiếp với người dân nên có một
vị trí cực kỳ quan trọng. Mọi nhu cầu về
chăm sóc y tế của người dân đều phải qua
tuyến y tế cơ sở rồi mới lần lượt lên các tuyến
trên. Nhờ vậy, tuyến này đã nắm chắc được
tình trạng sức khỏe và có phản ứng sớm nhất,
nhanh nhất tới sự thay đổi sức khỏe cộng
đồng. Xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, Thái
Nguyên là một xã miền núi. Trạm y tế xã Phú
Thượng đã và đang hoạt động như thế nào để
đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe

người dân miền núi? Có những thuận lợi và
khó khăn gì trong quản lý y tế tại trạm y tế ?
Do vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm
mục tiêu.
MỤC TIÊU
1. Mô tả thực trạng hoạt động và cách chi trả
khám chữa bệnh tại trạm y tế xã Phú Thượng,
huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động và cách chi trả khám chữa bệnh tại
địa bàn nghiên cứu.

Bảng 1. Đặc điểm trạm y tế xã tại địa bàn nghiên cứu *
Năm 2012
Đặc điểm
Cơ sở vật chất
Diện tích
Số phòng chức năng
Số trang thiết bị y tế cơ bản
Số trang thiết bị chuyên khoa
Số trang thiết bị sản khoa
Thuốc cấp phát Bảo hiểm y tế
Số lượng
Chủng loại
Nhân lực y tế (7 cán bộ)
Bác sỹ
Y sỹ (sản nhi, đa khoa)
Điều dưỡng
*

Số lượng
870 m2
16
Thiếu
Thiếu
Thiếu

Đánh giá
Đạt
Thiếu phòng khám sản khoa
Thiếu ống nghe
Thiếu dụng cụ khám chữa răng, mắt, tai mũi họng
Thiếu đèn cồn, giấy thử albumin niệu, ống nghe tim
thai

Theo dự trù
Theo dự trù

Thiếu
Thiếu

2
3
2

Đạt
Đạt
Đạt

Tel: 0912 194324, Email: phamhonghai_hn@yahoo.com

3

8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phạm Hồng Hải

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Trạm y tế xã
Địa điểm nghiên cứu: Xã Phú Thượng,
huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.
Thời gian nghiên cứu: năm 2012
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả

104(04): 3 - 7

- Cách chọn mẫu: Chọn chủ đích trạm y tế xã
Phú Thượng, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nhận xét bảng 1: Trạm y tế xã đáp ứng đủ về
nhân lực y tế. Các trang thiết bị y tế nghèo
nàn, thiếu các thiết bị chuyên khoa và sản
khoa. Thuốc cấp phát BHYT thiếu về số
lượng và chủng loại.

Bảng 2. Tổ chức hoạt động tại trạm y tế xã
Năm 2012
Hoạt động tại trạm y tế
Lập kế hoạch y tế
Phát hiện, báo cáo bệnh dịch
Truyền thông giáo dục sức khỏe
Tổ chức sơ cứu, khám chữa bệnh ban đầu
Tổ chức khám và quản lý sức khỏe
Xây dựng vốn tủ thuốc
Quản lý các chỉ số sức khỏe
Bồi dưỡng chuyên môn

Thực hiện

Đánh giá






Không



Đầy đủ
Kịp thời
Thường xuyên
Đạt
Đạt
Không đạt
Đạt
Chưa đạt

Nhận xét: Nhìn chung, trạm y tế xã hoạt động tương đối tốt, tuy nhiên hoạt động cung ứng về
thuốc chưa hiệu quả vì không có vốn xây dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT
Bảng 3. Các chương trình y tế được thực hiện tại trạm y tế xã
Năm 2012
Các chương trình y tế
Số lượt khám chữa bệnh
Tiêm chủng mở rộng
Số phụ nữ khám thai 1 lần
Số phụ nữ khám sau đẻ
Số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi uống vitamin A

Số lượng

Đánh giá

6.837
112
62/119
87/119
502/889
73/367
308/367

1,5 lần/người/năm
95%
52%
73,1%
56,4%
20%
84%

Nhận xét: Nhìn chung các chương trình y tế đã được triển khai khá tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ
có thai được khám một lần trong thai kỳ còn thấp (52%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh
dưỡng còn khá cao (20%).
Bảng 4. Nguồn chi trả tiền của người dân khi đi khám chữa bệnh tại trạm y tế
Năm 2012
Chi trả tiền khám chữa bệnh

Số lượng

Số người dân tham gia BHYT/Tổng số dân
Số lượt khám được BHYT chi trả toàn bộ/ số người có
BHYT
Số lượt khám người dân tự chi trả
Số lượt khám BHYT và người dân cùng chi trả
Tiền thuốc bình quân/người/năm (đồng)

2989/4687

63,8

4800/2989
837/1698
1200/6837
42.000

160,6
49,3
17,5

Tỷ lệ %

Nhận xét: Tỷ lệ người dân tham gia BHYT chiếm 63,8%; Số lượt khám chữa bệnh BHYT phải
chi trả 160,6%; đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm 17,5%. Tỷ lệ người dân không
tham gia BHYT và phải tự chi trả chiếm 49,3%.
4

9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phạm Hồng Hải

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

104(04): 3 - 7

Bảng 5. Các nguồn kinh phí của trạm y tế
ĐVT: Triệu đồng
Năm 2012
Tổng số tiền
Bình quân/tháng
22,8
3,25
150
1,8
12
1,
6
0,5
8,4
0,7
12
1
0
0

Các nguồn kinh phí của trạm y tế
Lương nhân viên y tế/tháng/7 người
UBND huyện cấp/năm
Khám chữa bệnh/năm
Bán thuốc/năm
Các dự án đào tạo/năm
Các dự án phi chính phủ
Người dân đóng góp

Nhận xét: Nguồn kinh phí chính của trạm y
tế là lương cán bộ y tế, với thu nhập bình
quân hơn ba triệu đồng/người/tháng. Các
nguồn khác không thường xuyên (Dự án, phi
chính phủ). Người dân không tham gia đóng
góp về tiền cho trạm y tế xã. Nguồn thu từ các
dịch vụ y tế như khám chữa bệnh, bán thuốc
còn thấp.
Thảo luận nhóm trọng tâm về một số yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động của trạm y
tế và cách chi trả khám chữa bệnh của
người dân
Trạm y tế đáp ứng được về nguồn nhân lực y
tế theo chuẩn quốc gia về y tế xã, trạm có 2
bác sĩ là một thuận lợi rất lớn cho nhu cầu
phục vụ sức khỏe nhân dân miền núi. Hơn
nữa, trạm thường xuyên lập kế hoạch y tế và
đánh giá các chương trình y tế, điều chỉnh các
hoạt động y tế phù hợp với mục tiêu của địa
phương. Tuy nhiên, cán bộ y tế chưa được
đào tạo thường xuyên về chuyên môn, về
quản lý. Trạm chưa thực sự năng động trong
việc tạo ra các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho
người dân như khám chữa bệnh, bán thuốc...
Trong khi BHYT bị quá tải trong chi trả khám
chữa bệnh (160%) vẫn còn có nhiều người
dân lạm dụng thẻ người nghèo, thẻ BHYT để
lĩnh thuốc về nhà dự trữ. Các nguồn kinh phí
cho trạm y tế còn hạn hẹp, số tiền thuốc/đầu
người/năm đạt 42 nghìn đồng là thấp so với
nhu cầu của người dân.
BÀN LUẬN
Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám
chữa bệnh của người dân
Kết quả bảng 1 cho thấy: Trạm y tế xã đáp
ứng đủ về nhân lực y tế. Các trang thiết bị y tế
nghèo nàn, thiếu các thiết bị chuyên khoa và
sản khoa. Thuốc cấp phát BHYT thiếu về số

lượng và chủng loại. Đây là thực tế đã và
đang tồn tại nhiều năm mà chưa được khắc
phục. Thực tế này cũng là tình trạng chung
cho nhiều trạm y tế xã miền núi nói riêng và
khu vực nói chung. Thiếu trang thiết bị khám
chữa bệnh, thiếu thuốc đã ảnh hưởng đến chất
lượng các dịch vụ y tế. Hoạt động cung ứng
về thuốc chưa hiệu quả vì không có vốn xây
dựng tủ thuốc ngoài danh mục BHYT (Bảng
2) là điều cần phải tìm ra hướng giải quyết
khi chưa có nguồn ngân sách nhà nước. Vấn
đề đặt ra là cơ chế hoạt động các dịch vụ và
quản lý các dịch vụ đó như thế nào để đáp
ứng được nhu cầu của người dân nhưng đồng
thời phải nâng cao trách nhiệm, y đức gắn với
quyền lợi của người Thầy thuốc?
Về các chương trình y tế được thực hiện tại
trạm y tế xã, bảng 3 cho thấy, nhìn chung
các chương trình y tế đã được triển khai khá
tốt, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ có thai được khám
một lần trong thai kỳ còn thấp (52%), tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn khá cao
(20%). Vấn đề sức khỏe bà mẹ và trẻ em là
những vấn đề lớn trong chăm sóc sức khỏe
cộng đồng. Phải chăng tỷ lệ bà mẹ đi khám
thai ít, tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng cao là
do chất lượng của chương trình truyền thông
giáo dục?
Về nguồn chi trả của người dân khi khám
chữa bệnh, kết quả từ bảng 4: Tỷ lệ người
dân tham gia BHYT chiếm 63,8%; Số lượt
khám chữa bệnh BHYT phải chi trả 160,6%;
đồng chi trả giữa BHYT và người dân chiếm
17,5%. Tỷ lệ người dân không tham gia
BHYT và phải tự chi trả chiếm 49,5%. Như
vậy, BHYT đã và đang phải chi trả gấp 1,6
lần cho các dịch vụ y tế mà người dân tham
gia BHYT được nhận. Tỷ lệ người dân tham
5

10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phạm Hồng Hải

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

gia BHYT chiếm 63,8% thấp hơn so với mục
tiêu BHYT toàn dân của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, để ngừa nguy cơ vỡ quĩ bảo hiểm rõ
ràng cần phải có cơ chế kiểm soát từ khám
bệnh, chẩn đoán, chỉ định của Thầy thuốc, kê
đơn thuốc, không lạm dụng các xét nghiệm
cận lâm sàng, tăng cường các trang thiết bị,
nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên
y tế xã để đạt hiệu quả điều trị cao, hạn chế
chuyển tuyến gây tốn kém và quá tải cho
bệnh viện tuyến trên. Bên cạnh đó, cần tìm ra
cơ chế hoạt động tăng cường cung cấp và sử
dụng dịch vụ y tế để thu hút người dân, thu
hút các nguồn đầu tư, nâng cao năng lực tự
chủ của trạm y tế nhằm làm tăng các nguồn
thu của trạm y tế, góp phần nâng cao đời sống
cho cán bộ nhân viên y tế (Bảng 5).
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và
cách chi trả khám chữa bệnh
Về quản lý: Cán bộ TYT không dược đào tạo
về kỹ năng quản lý nên thực sự còn lúng túng
trong giải quyết vấn đề, chưa linh hoạt trong
việc tạo ra cơ chế hoạt động các dịch vụ y tế
Về người dân: Lạm dụng thẻ BHYT để đi
lĩnh thuốc về nhà dự trữ đã dẫn đến nguy cơ
vỡ quĩ BHYT
Về cán bộ y tế: Do chuyên môn hạn chế nên
tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê đơn
thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển
tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm...
đã góp phần làm tăng chi trả tiền BHYT một
cách lãng phí.
KẾT LUẬN
Thực trạng hoạt động và cách chi trả khám
chữa bệnh của người dân
Trạm y tế thiếu các trang thiết bị khám chữa
bệnh, thiếu thuốc

104(04): 3 - 7

Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thấp (52%)
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
còn khá cao (20%)
Tỷ lệ người dân tham gia BHYT 63,8%
BHYT phải chi trả cho số lượt khám chữa
bệnh là 160,6%
Số tiền thuốc bình quân đầu người/năm 42
nghìn đồng
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và
cách chi trả khám chữa bệnh
- Cán bộ TYT không dược đào tạo về kỹ năng
quản lý nên còn yếu kém, không linh hoạt
trong quản lý.
- Tỷ lệ chẩn đoán bệnh hợp lý chưa cao, kê
đơn thuốc chưa hợp lý, tỷ lệ bệnh nhân chuyển
tuyến nhiều, còn lạm dụng các xét nghiệm...
- Người dân lạm dụng thẻ BHYT, thẻ người
nghèo để đi lĩnh thuốc về nhà dự trữ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Y tế (2006), Khoa học hành vi và giáo dục
sức khỏe, Nxb Y học Hà Nội, tr. 33
[2]. Bộ Y tế - Vụ khoa học và đào tạo (2001),
Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế, tr.3471
[3]. Bộ Y tế (2006), Tổ chức, quản lý y tế và chính
sách y tế, NxbY học Hà Nội
[4]. Báo cáo kết quả thực hành cộng đồng (2012),
Thực trạng hoạt động trạm y tế xã Phú Thượng,
Võ Nhai, Thái Nguyên. Nhóm sinh viên CNDD
K6, Đại học Y Dược Thái Nguyên
[5]. Đào văn Dũng, Nguyễn Đức Trọng (2009), Tổ
chức và quản lý y tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản
Lao động - Xã hội
[6]. Trường Đại học Y Hà Nội – Bộ môn tổ chức
quản lý y tế (2002), Bài giảng Quản lý và chính
sách y tế, Nxb Y học Hà Nội
[7]. Charles E. Phelps (1992), Health Ecomomics,
Happer Collins Publishers Inc
[8]. Peter Zweifel, Friedrich Breyer (1997), Health
Ecomomics, Oxford University Press, Inc

6

11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phạm Hồng Hải

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

104(04): 3 - 7

SUMMARY
SITUATION OPERATION AND PAID SICK CARE
IN A MOUNTAIN VILLAGE IN THAI NGUYEN
Pham Hong Hai*
College of Economics and Business Administrations - TNU

The study was conducted in Phu Thuong commune, Vo Nhai distric, Thai Nguyen province.
Research Methods: cross-sectional description. Research results: Health Station lack of medical
equipment, lack of medicines; rate of pregnant women were examined low (52%), the percentage
of children under age 5 suffer from malnutrition remains high (20 %), the percentage of people
covered by health insurance 63.8%; health insurance to pay for medical care is 160.6%; drug
money per capita / year is 42 thousand VND. Some factors affect the work and payment of health
care: health staff are not trained in management skills so their skill are very weak, no flexibility in
management. The rate of suitable diagnosis is not high, unsuitable prescribing, high rate of patients
moving, and abuse tests ... People who abuse the health insurance card to get more drug for
themselves.
Keywords: commune health centers, Thai Nguyen, health insurance

Ngày nhận bài:02/3/2013, ngày phản biện:12/3/2013, ngày duyệt đăng:24/4/2013
*

Tel: 0912 194324, Email: phamhonghai_hn@yahoo.com

7

12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

Tài liệu Isoniazid

Tên chung quốc tế: Isoniazid. Mã ATC: J04A C01. Loại thuốc: Thuốc chống lao. Dạng thuốc và hàm lượng Viên nén 300, 150, 100 và 50 mg. Sirô 50 mg/5 ml. ống tiêm 1 g/10 ml. Dược lý và cơ chế tác dụng Isoniazid là một trong những thuốc hóa học đầu tiên được chọn trong điều trị lao. Thuốc đặc hiệu cao, có tác dụng chống lại Mycobacterium tuberculosis và các Mycobacterium không điển hình khác như M. bovis, M. kansasii. Isoniazid diệt khuẩn phụ thuộc vào nồng độ thuốc ở vị trí tổn thương và mức độ...


Hướng dẫn phòng ngừa viêm phổi bệnh viện trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Viêm phổi bệnh viện là một vấn đề rất khó khăn mà các khoa đặc biệt khoa hồi sức tích cực đang phải đương đầu vì khó chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này mời các bạn tham khảo "Hướng dẫn phòng ngừa viêm phổi bệnh viện trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh". Hy vọng tài liệu là nguồn thông tin hữu ích cho quá trình học tập và nghiên cứu của các bạn.


Lý thuyết y khoa: Tên thuốc CaC 1000 SANDOZ NOVARTIS

- Điều trị tình trạng thiếu canxi và vitamin C. - Phụ trợ trong điều trị cảm cúm. CHỐNG CHỈ ĐỊNH Nhạy cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc, tăng canxi huyết (do cường phó giáp, quá liều vitamin D, u phân hủy canxi như u tương bào, u di căn xương), tăng canxi niệu cao, suy thận nặng. THẬN TRỌNG LÚC DÙNG - Ở bệnh nhân tăng canxi huyết nhẹ ( 300 mg = 7,5 mmol/24 giờ) kèm với suy thận nhẹ hoặc vừa, cần phải theo dõi chức năng...


Bài giảng Các thuốc chống loạn nhịp thường dùng - TS Tôn Thất Minh

Bài giảng Các thuốc chống loạn nhịp thường dùng - TS Tôn Thất Minh trình bày một số kiến thức về: phân loại, Amiodarone, Sotalol, Verapamil, Diltiazem, Mexiletine, Flecainide với một số hướng dẫn sử dụng. Mời các bạn cùng tham khảo.


Giáo trình bệnh học nội khoa part 10

Lâm sàng: - Mập phì + Là triệu chứng thường gặp nhất + Tụ mỡ chủ yếu ở cổ, mặt, thân bụng. Mặt bệnh nhân thường tròn như mặt trăng, da ửng đỏ, gáy có bướu mỡ + Tăng cân thường là triệu chứng đầu tiên - Thay đổi trên da + Da mỏng teo, mặt đỏ, dễ xuất hiện những vết bầm trên da sau khi va chạm nhẹ + Nứt da thường có màu đỏ tím, thường xuất hiện ở bụng, đùi và mông + Vết thương chậm lành + Hay bị nấm da + Xạm da,...


Pulmonary infarction (Nhồi máu phổi)

Nhồi máu phổi (PI) hay còn gọi là tắc động mạch phổi là một bệnh lý hết sức nặng nề, thường dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời. Nó là một bệnh lý khá thường gặp, bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, dễ bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm, tử vong thường do rối loạn huyết động khi tắc mạch phổi diện rộng.


Chẩn doán hình ảnh : U Gan part 7

Về mặt giải phẫu đại thể, gan có thể được chia thành bốn thùy dựa trên các đặc điểm bề mặt. Dây chằng liềm có thể nhìn thấy ở mặt trước của gan chia gan thành hai phần: thùy gan trái và thùy gan phải. Nếu nhìn từ mặt sau (hay mặt tạng) thì gan còn có hai thùy phụ nằm giữa thùy gan phải và thùy gan trái. Đây là các thùy đuôi (nằm phía trên) và thùy vuông (nằm phía dưới).


ĐIỆN QUANG THẦN KINH part 10

Đại cương: -Là u lành tính phát triển từ di tích còn lại của biểu mô vảy túi Rathke. -Là u hay gặp nhất của vùng trên yên -Tuổi thường gặp: 5-15 tuổi -Tuổi trên 50: thường ở thể mao mạch (thể này chủ yếu ở người lớn) -Tổn thương có thể cả trong và ngoài hố yên, u chỉ trong hố yên hiếm gặp. -Lâm sàng: .Chậm phát triển: u chèn ép vùng dưới đồi .Đái nhạt do u chèn hố yên .Bán manh vùng thái dương hai bên .Đau đầu .Liệt các dây thần kinh (u chèn...


CHẤN THƯƠNG LỒNG NGỰC (CHEST TRAUMA)

BỆNH NHÂN BỊ CHẤN THƯƠNG NGỰC NÊN ĐƯỢC THĂM KHÁM NHƯ THỂ NÀO ? Chúng ta phải nhận diện ngay những cấp cứu đe dọa mạng sống, thật sự hay tiềm tàng, căn cứ trên sự đánh giá lâm sàng. Sự đánh giá này bao gồm thị chẩn, thính chẩn, và ấn chẩn. - Thị chẩn. Cởi hoàn toàn quần áo của bệnh nhân và dùng mắt thị chẩn toàn bộ ngực, cần lăn một bệnh nhân nằm ngửa. Hãy tìm kiếm một mảng sườn (flail chest) (cử động nghịch lý của thành ngực) và vết thương ngực hút...


Cloramphenicol

Tên chung quốc tế: Chloramphenicol. Mã ATC: J01B A01; D06A X02, D10A F03; G01A A05; S01A A01; S02A A01, S03A A08. Loại thuốc: Kháng sinh. Dạng thuốc và hàm lượng Viên nén và nang 0,25 g cloramphenicol hay cloramphenicol palmitat. Lọ 1,0 g cloramphenicol (dạng natri succinat) để pha tiêm. Thuốc nhỏ mắt (5 ml, 10 ml) 0,4%, 0,5% cloramphenicol. Tuýp 5 g mỡ tra mắt 1% cloramphenicol. Mỡ hoặc kem bôi ngoài da 1%, 5% cloramphenicol.


Tài liệu mới download

Động từ ghép tiếng Nhật
  • 18/12/2015
  • 83.187
  • 834
Kính ngữ
  • 18/12/2015
  • 30.588
  • 483

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

HỘI CHỨNG ĐAU THẦN KINH TỌA
  • 11/07/2011
  • 18.324
  • 791
Giáo trình Ung thư trực tràng
  • 18/11/2009
  • 43.452
  • 776

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu