Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Thực trạng áp dụng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại của viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Long và một số kiến nghị

Bài báo nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại tại Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Vĩnh Long.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 28, THÁNG 12 NĂM 2017

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 TRONG HOẠT ĐỘNG
KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HAI CẤP
TỈNH VĨNH LONG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
CURRENT APPLICATION OF THE CIVIL PROCEDURE LAW 2015 IN
PROCURACY OPERATION FOR TRIAL COURT TO COMMERCIAL
BUSINESS CASES IN THE PEOPLE’S PROCURACY IN VINH LONG
PROVINCE AND RECOMMENDATIONS
Nguyễn Kim Hồng1 , Nguyễn Nam Hà2

Tóm tắt – Bài báo nghiên cứu, phân tích, đánh
giá thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015 trong hoạt động kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương
mại tại Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra kiến nghị cụ thể
nhằm góp phần hoàn thiện quy định của Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015 về công tác kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại
của Viện Kiểm sát Nhân dân, cụ thể: 1) Quy định
về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện; 2) Quy định
về kiểm sát việc thụ lí vụ án kinh doanh, thương
mại; 3) Quy định về kiểm sát hoạt động chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại;
4) Quy định về kiểm sát xét xử sơ thẩm tại phiên
tòa; 5) Quy định về công tác kiểm sát bản án,
quyết định của Tòa án; 6) Quy định về quyền
kháng nghị của Viện Kiểm sát.
Từ khóa: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, kiểm
sát xét xử sơ thẩm, án kinh doanh, thương mại.

procuracy operation for court of first instance
to commercial business cases in The People’s
Procuracy in Vinh Long Province. On that basis,
we proposed specific recommendations to contributing to the completion of the provisions of
the Civil Procedure Code 2015 on procuracy
for trial court to business cases, including: 1)
Provisions on the return of the petition; 2) Provisions on handling business cases; 3) Provisions
on preparatory work for first-instance court of
commercial business cases; 4) Provisions on first
instance court; 5) Provisions on the judgments
and decisions of the Court; 6) Provisions on the
right of protest of the Procuracy.
Keywords: The Civil Procedure Code 2015,
procuracy of first instance the trial, commercial
business cases.
I. GIỚI THỆU
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS
2015) đã thể chế hóa chiến lược cải cách
tư pháp3 , đổi mới thủ tục tố tụng dân sự theo
hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, tháo
gỡ những vướng mắc trong hoạt động giải quyết
các vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án
Nhân dân (TAND). Theo quy định của BLTTDS

Abstract – This study focuses on analyzing
and evaluating current application of the provisions of The Civil Procedure Code 2015 in
1
Học viên Cao học Khoa Kinh tế, Luật - Trường Đại học
Trà Vinh
Email: kimhongp8@gmail.com
2
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ
Chí Minh
Ngày nhận bài: 27/9/2017; Ngày nhận kết quả bình
duyệt: 09/01/2018; Ngày chấp nhận đăng: 26/01/2018

3
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

41

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 28, THÁNG 12 NĂM 2017

2015, Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) có vị
trí đặc biệt quan trọng. Vai trò đó thể hiện ở
chỗ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến
nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm cho việc giải
quyết vụ án kinh doanh, thương mại kịp thời,
đúng pháp luật. Sau hai năm thi hành BLTTDS
2015, trên thực tế, công tác kiểm sát xét xử sơ
thẩm vụ án kinh doanh, thương mại còn gặp phải
một số khó khăn do các quy định của BLTTDS
2015 chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Do
đó, các quy định của BLTTDS 2015 về công tác
kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh,
thương mại của VKSND cần tiếp tục được xem
xét, cân nhắc, sửa đổi, bổ sung. Thông qua thực
tiễn hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ
án kinh doanh, thương mại của VKSND hai cấp
tại tỉnh Vĩnh Long, bài viết phân tích những quy
định của BLTTDS 2015 chưa hoàn toàn phù hợp
với yêu cầu công tác kiểm sát của VKSND, từ
đó, chúng tôi đưa ra quan điểm, kiến nghị đối
với các cơ quan lập pháp trong quá trình hoàn
thiện quy định của BLTTDS 2015 và ban hành
nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS 2015
về công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án kinh
doanh, thương mại của VKSND.
II.

KINH TẾ - XÃ HỘI

của bài viết này chỉ gói gọn trong việc giới thiệu
các quy định mới của BLTTDS 2015 về chức
năng, nhiệm vụ của VKSND so với BLTTDS
2004. Cho đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn
chưa có công trình nghiên cứu độc lập nào đi
sâu phân tích, đánh giá tính phù hợp các quy
định mới của BLTTDS 2015 về công tác kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương
mại của VKSND. Trong điều kiện thực tế tại địa
phương, với nguồn dữ liệu là các báo cáo hoạt
động nghiệp vụ của TAND tỉnh Vĩnh Long và
của VKSND tỉnh Vĩnh Long, hồ sơ giải quyết
sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại của
TAND hai cấp tại tỉnh Vĩnh Long, hồ sơ kiểm
sát xét xử sơ thẩm của VKSND hai cấp tại tỉnh
Vĩnh Long, nhóm tác giả sử dụng phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích, đối chiếu để từ đó
đưa ra kết luận đánh giá sự phù hợp giữa các quy
định mới của BLTTDS 2015 với thực tiễn kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương
mại tại địa phương.
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN HAI CẤP
TỈNH VĨNH LONG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong hai năm 2016 và 2017, VKSND hai cấp
tỉnh Vĩnh Long thực hiện công tác kiểm sát việc
giải quyết sơ thẩm các vụ án kinh doanh, thương
mại theo quy định của BLTTDS 2015 đã đạt được
những kết quả tích cực, đặc biệt là kháng nghị
phúc thẩm, khắc phục được nhiều vi phạm pháp
luật của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm cho việc
giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại đúng
pháp luật và kịp thời, góp phần bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.
Theo bảng số liệu thống kê, trong năm 2016
và 6 tháng đầu năm 2017, tỉ lệ tham gia xét xử sơ
thẩm tại TAND tỉnh Vĩnh Long của VKSND tỉnh
Vĩnh Long chiếm tỉ lệ 16,07%, số vụ án VKSND
tỉnh Vĩnh Long kháng nghị phúc thẩm chiếm tỉ
lệ 4,1% trong tổng số vụ án được Tòa án xét xử.
Tuy nhiên, tỉ lệ số vụ có kháng nghị của VKSND
tỉnh Vĩnh Long được Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận là 100%. Điều này đã khẳng định vai trò
của VKSND trong công tác kiểm sát xét xử sơ
thẩm các vụ án kinh doanh, thương mại.

Nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự, năm 2014, tác giả
Phùng Thanh Hà [1] đã có công trình phân tích
tổng thể các quy định của BLTTDS năm 2004 và
Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS
năm 2011 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND
trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nghiên cứu này
được thực hiện trước khi BLTTDS 2015 được
ban hành. Trước đó, năm 2012, tác giả Trần Văn
Nam [2] có công trình nghiên cứu về vai trò
của VKSND trong tố tụng dân sự theo yêu cầu
cải cách tư pháp ở Việt Nam, công trình này
cũng không đi sâu phân tích việc áp dụng trong
thực tế các quy định của BLTTDS 2004 về công
tác kiểm sát xét xử sơ thẩm của VKSND. Năm
2017, tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh [3] có bài
viết giới thiệu những điểm mới về chức năng,
nhiệm vụ của VKSND trong BLTTDS 2015 so
với BLTTDS năm 2004 và Luật Sửa đổi bổ sung
một số điều của BLTTDS năm 2011. Phạm vi
42

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 28, THÁNG 12 NĂM 2017

KINH TẾ - XÃ HỘI

Bảng thống kê số liệu công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm án kinh doanh, thương mại tại VKSND tỉnh
Vĩnh Long từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/6/2017 [4]–[7]
Số vụ án TAND
tỉnh Vĩnh Long giải quyết
168 vụ

Số vụ án VKSND
tỉnh Vĩnh Long
tham gia xét xử sơ thẩm

Số vụ án VKSND
tỉnh Vĩnh Long kháng nghị

27 vụ

07 vụ

Số vụ án VKSND
tỉnh Vĩnh Long kháng nghị được
Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận
07 vụ

trả đơn khởi kiện đúng quy định pháp luật5 .
BLTTDS năm 2015 đã tiếp tục duy trì hành
lang pháp lí để đảm bảo thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của VKSND trong kiểm sát việc trả
lại đơn khởi kiện của Tòa án. Khoản 2 Điều 192
BLTTDS năm 2015 quy định khi trả lại đơn khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người
khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lí
do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện
Kiểm sát cùng cấp. Theo quy định, Tòa án chỉ
gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện cho VKSND.
Căn cứ vào lí do trả lại đơn khởi kiện được nêu
trong thông báo trả lại đơn khởi kiện, VKSND
tiến hành kiểm sát tính hợp pháp của việc trả
lại đơn khởi kiện. Đây là công việc khả thi về
lí thuyết, nhưng không khả thi về mặt thực tiễn.
Bởi vì, để kiểm tra lí do trả lại đơn khởi kiện
có đúng với thực tế hay không, nhằm bảo vệ một
cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người
làm đơn khởi kiện, kiểm sát viên phải trực tiếp
nghiên cứu, xem xét đơn khởi kiện cùng các tài
liệu, chứng cứ gửi kèm đơn khởi kiện mà Tòa án
sao chụp và lưu giữ tại Tòa án. Chính vì vậy, sau
khi nhận thông báo trả lại đơn khởi kiện, kiểm
sát viên phải trực tiếp đến Tòa án để nghiên cứu
hồ sơ, đối chiếu lí do trả lại đơn khởi kiện nêu
trong thông báo để xác định sự phù hợp với tài
liệu trong hồ sơ Tòa án đang lưu giữ. Khoản 1,
Điều 12, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLTVKSNDTC-TANDTC hướng dẫn về việc gửi văn
bản trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu chỉ quy

A. Thực trạng công tác kiểm sát việc trả lại đơn
khởi kiện và ý kiến đề xuất
Sau hai năm thi hành BLTTDS năm 2015,
công tác kiểm sát giải quyết sơ thẩm vụ việc kinh
doanh, thương mại tại VKSND tỉnh Vĩnh Long
đã có những kết quả nhất định. Cụ thể, trong
công tác kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện của
Tòa án, VKSND tỉnh Vĩnh Long đã nhận và giải
quyết 18 thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện
của TAND hai cấp tại tỉnh Vĩnh Long4 . Trong số
đó, có năm thông báo bị người khởi kiện khiếu
nại lên Tòa án cấp trên trực tiếp. Cả 05 khiếu nại
thông báo trả lại đơn khởi kiện đều không được
Tòa án cấp trên chấp nhận vì Tòa án cấp sơ thẩm
4

Thông báo số 137/TB-TA ngày 25/8/2016 của TAND
thành phố Vĩnh Long về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông
báo số 230/TB-TA ngày 14/10/2016 của TAND thành phố
Vĩnh Long về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số
12/TB-TA ngày 10/01/2017 của TAND thành phố Vĩnh
Long về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số 52/TB-TA
ngày 28/3/2017 của TAND thành phố Vĩnh Long về việc trả
lại đơn khởi kiện; Thông báo số 129/TB-TA ngày 26/5/2017
của TAND thành phố Vĩnh Long về việc trả lại đơn khởi
kiện; Thông báo số 137/TB-TA ngày 16/11/2017 của TAND
thành phố Vĩnh Long về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông
báo số 95/TB-TA ngày 31/10/2016 của TAND huyện Long
Hồ về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số 06/TB-TA
ngày 18/01/2017 của TAND huyện Long Hồ về việc trả
lại đơn khởi kiện; Thông báo số 55/TB-TA ngày 22/9/2017
của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ về việc trả lại đơn
khởi kiện; Thông báo số 121/TB-TA ngày 19/12/2016 của
TAND thị xã Bình Minh về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông
báo số 75/TB-TA ngày 25/10/2017 của TAND thị xã Bình
Minh về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số 86/TB-TA
ngày 16/8/2017 của TAND huyện Trà Ôn về việc trả lại đơn
khởi kiện; Thông báo số 72/TB ngày 03/8/2017 của TAND
huyện Mang Thít về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo
số 82/TB-TA ngày 10/11/2017 của TAND huyện Tam Bình
về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số 158/TB-TA ngày
25/12/2016 của TAND huyện Bình Tân về việc trả lại đơn
khởi kiện; Thông báo số 159/TB-TA ngày 25/12/2016 của
TAND huyện Bình Tân về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông
báo số 265/TB-TA ngày 03/8/2016 của TAND tỉnh Vĩnh
Long về việc trả lại đơn khởi kiện; Thông báo số 315/TBTA ngày 30/11/2016 của TAND tỉnh Vĩnh Long về việc trả
lại đơn khởi kiện.

5
Quyết định số 01/2017/QĐ-GQKN ngày 26/01/2017 của
Chánh án TAND tỉnh Vĩnh Long về việc giữ nguyên trả
lại đơn khởi kiện; Quyết định số 15/2017/QĐ-GQKN ngày
06/02/2017 của Chánh án TAND tỉnh Vĩnh Long về việc giữ
nguyên trả lại đơn khởi kiện; Quyết định số 16/2017/QĐGQKN ngày 06/02/2017 của Chánh án TAND tỉnh Vĩnh
Long về việc giữ nguyên trả lại đơn khởi kiện; Quyết định số
92/2017/QĐ-GQKN ngày 10/5/2017 của Chánh án TAND
tỉnh Vĩnh Long về việc giữ nguyên trả lại đơn khởi kiện;
Quyết định số 16/2017/QĐ-GQKN ngày 03/11/2017 của
Chánh án TAND tỉnh Vĩnh Long về việc giữ nguyên trả
lại đơn khởi kiện.

43

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 28, THÁNG 12 NĂM 2017

định chung là: “Việc gửi văn bản trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu cho Viện Kiểm sát cùng cấp
theo quy định tại Khoản 2 Điều 192, Khoản 2
Điều 364 BLTTDS được thực hiện theo từng vụ,
việc”6 . Chưa có quy định mang tính hướng dẫn
cụ thể.
Ý kiến đề xuất: Quy định về việc Tòa án chỉ
phải gửi mỗi văn bản thông báo trả lại đơn khởi
kiện cho VKSND cùng cấp, qua thực tiễn hoạt
động giữa hai cơ quan Tòa án và Viện Kiểm sát,
theo ý kiến của nhóm tác giả, là chưa phù hợp,
chưa góp phần thiết lập cơ chế kiểm sát tối ưu
từ VKSND nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi
ích hợp pháp của người làm đơn khởi kiện và bị
Tòa án trả lại đơn. Trường hợp Thẩm phán Tòa
án nhận định sai lí do trả lại đơn khởi kiện, đồng
thời người khởi kiện không có sự trợ giúp pháp
luật cần thiết, cơ chế kiểm sát việc trả lại đơn
khởi kiện là công cụ cần thiết để bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Vì vậy,
theo ý kiến của nhóm tác giả, Khoản 1 Điều 12
Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTCTANDTC hướng dẫn việc phối hợp thực hiện
nhiệm vụ kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh
vực kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện cần
bổ sung nội dung: khi gửi thông báo trả lại đơn
khởi kiện cho VKSND cùng cấp, Tòa án cần gửi
kèm với bản sao đơn khởi kiện của đương sự và
các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn kiện cũng như
chứng cứ do Tòa án thu thập được để VKSND
kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện. Song song đó,
VKSNDTC trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của
mình cần ban hành quy chế kiểm sát việc giải
quyết các vụ án dân sự, quy định cụ thể trình tự,
thủ tục kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện
của kiểm sát viên, kiểm tra viên.

KINH TẾ - XÃ HỘI

doanh, thương mại với tranh chấp dân sự thuộc
quyền quyết định của Tòa án. Khoản 1 Điều 30
BLTTDS năm 2015 quy định tranh chấp về kinh
doanh, thương mại là “Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận”. Tại Điểm b, Tiểu mục 1.1,
Mục 1, Phần I của Nghị quyết số 01/2005/NQHĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có nêu:
“Tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết
các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh,
thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của
BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương
mại mà một hoặc các bên không có đăng kí kinh
doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. TAND
hai cấp tại tỉnh Vĩnh Long đã áp dụng Nghị quyết
số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC để phân định tranh chấp về dân sự và
tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Theo đó,
nếu tất cả các tranh chấp phát sinh chỉ cần thỏa
mãn điều kiện là đều có mục đích lợi nhuận thì
Tòa án thụ lí loại vụ việc kinh doanh, thương
mại, mà không xét đến điều kiện chủ thể có là
chủ thể kinh doanh hay không. Nếu việc xác định
tranh chấp phát sinh giữa các bên đều có mục
đích lợi nhuận thì nó được xem là tranh chấp
kinh doanh, thương mại, có ảnh hưởng đến sự
áp dụng thống nhất quy định pháp luật, và ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự trong
vụ án. Nhóm tác giả dẫn chứng một vụ việc cụ
thể: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam cho
cá nhân, hộ gia đình khó khăn vay vốn sản xuất.
Do người vay không trả được vốn, lãi theo hợp
đồng tín dụng đã kí, Ngân hàng khởi kiện đến
Tòa án. Tòa án thụ lí vụ án và xác định là loại
tranh chấp kinh doanh, thương mại vì các bên
đều có có mục đích lợi nhuận. Khi giải quyết,
Tòa án căn cứ vào pháp luật nội dung về kinh
doanh, thương mại để xét xử, bao gồm cả nghĩa
vụ chịu án phí sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương
mại. Dẫn đến việc, bị đơn vay 5.000.000 đồng để
mua con giống chăn nuôi, với lãi suất đã được
Nhà nước hỗ trợ một phần là 5%/năm, vay trong
thời hạn 12 tháng. Do điều kiện khách quan nên
việc chăn nuôi bị thất bại, người vay không có
khả năng trả nợ. Khi Ngân hàng khởi kiện, ngoài

B. Thực trạng công tác kiểm sát thụ lí vụ án kinh
doanh, thương mại của Tòa án và ý kiến đề xuất
Thụ lí vụ án kinh doanh, thương mại đúng tính
chất vụ việc, đúng thẩm quyền xét xử luôn là
vấn đề được đặc biệt quan tâm trong hoạt động
tư pháp của Tòa án. Phân định tranh chấp kinh
6

Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTCTANDTC ngày 31/8/2016 của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối
cao và Tòa án Nhân dân Tối cao quy định việc phối hợp
giữa Viện Kiểm sát Nhân dân và Tòa án Nhân dân trong
việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự

44

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 28, THÁNG 12 NĂM 2017

việc bị buộc phải trả vốn vay, lãi vay, bị đơn
phải chịu án phí vụ án kinh doanh, thương mại
là 3.000.000 đồng7 . Trong vụ án này, nếu như
Tòa án xác định và thụ lí loại tranh chấp dân
sự thì bị đơn chỉ phải chịu án phí dân sự theo
quy định là 300.000 đồng [Danh mục án phí,
lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội]. Từ thực tế trên, qua
phân tích quy định của pháp luật, nhóm tác giả
thấy rằng đương sự trong quan hệ tranh chấp
nêu trên vừa không đảm bảo về chủ thể phải
có đăng kí hộ kinh doanh, vừa không thỏa mãn
về tiêu chí lợi nhuận. Tòa án cấp huyện tại tỉnh
Vĩnh Long áp dụng Nghị quyết số 01/2005/NQHĐTP xác định tranh chấp hợp đồng tín dụng
giữa một bên là Ngân hàng Chính sách Xã hội
với một bên hộ gia đình nghèo là tranh chấp kinh
doanh, thương mại là không đúng với tinh thần
quy định tại Khoản 1, Điều 30, BLTTDS năm
2015 “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng
kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận”. VKSND tỉnh Vĩnh Long đã có văn bản
kiến nghị đối với ngành Tòa án tỉnh Vĩnh Long về
nội dung này. Tuy nhiên, Tòa án vận dụng quy
định tại Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP không
chấp nhận kiến nghị của Viện Kiểm sát, và thực
tế hiện nay, Tòa án hai cấp tại tỉnh Vĩnh Long
vẫn xác định quan hệ tranh chấp nêu trên là loại
tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa kinh tế.

KINH TẾ - XÃ HỘI

C. Thực trạng công tác kiểm sát hoạt động xác
minh, thu thập chứng cứ của Tòa án và ý kiến
đề xuất
Thực tế công tác thực hiện quyền “yêu cầu
Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá
trình giải quyết vụ việc dân sự” theo quy định
tại Khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015 của
VKSND tỉnh Vĩnh Long cho thấy: trong hoạt
động thu thập, xác minh chứng cứ của Thẩm
phán, BLTTDS năm 2015 không quy định Thẩm
phán phải thông báo cho VKSND cùng cấp biết.
Do đó, giai đoạn trước khi Thẩm phán ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử thì Viện Kiểm sát không
thể thực hiện được quyền yêu cầu Tòa án thu thập,
xác minh tài liệu chứng cứ. Cụ thể: 1) Đối với
những vụ án có Viện Kiểm sát tham gia phiên
tòa: khi Thẩm phán chuyển hồ sơ vụ án cùng
quyết định đưa vụ án ra xét xử cho VKSND,
nếu kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ đánh giá tài
liệu, chứng cứ chưa đảm bảo cho xét xử thì thực
hiện quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập
chứng cứ. Nhưng, quyết định đưa vụ án ra xét
xử đã được Thẩm phán ấn định ngày giờ cụ thể
mở phiên tòa, vậy nên, nếu như đến ngày xét xử
mà Tòa án không thu thập, xác minh được chứng
cứ theo yêu cầu của VKSND thì Tòa án vẫn tiến
hành xét xử, do không có căn cứ pháp luật để Hội
đồng xét xử hoãn hoặc tạm ngừng phiên tòa; 2)
Đối với những vụ án Viện Kiểm sát không tham
gia phiên tòa sơ thẩm: VKSND chỉ tiến hành việc
kiểm sát thông qua bản án, quyết định, mà không
trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án nên không thể
nào xác định được tài liệu, chứng cứ Tòa án thu
thập đã đầy đủ hay chưa. Do vậy, quyền yêu cầu
của kiểm sát viên về xác minh, thu thập chứng
cứ là không thể thực hiện được trên thực tế.
Ý kiến đề xuất: Để bảo đảm công tác kiểm
sát, hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ trong
quá trình giải quyết vụ án của Tòa án đạt hiệu
quả cao, Khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015
cần bổ sung quy định theo hướng Tòa án phải
thông báo cho VKSND cùng cấp biết kết quả thu
thập chứng cứ theo yêu cầu của VKSND trước
khi quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với quy
định về kiểm sát viên có quyền yêu cầu Tòa án
xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự. Để thống nhất, phù hợp
với các quy định khác của BLTTDS năm 2015,

Ý kiến đề xuất: Theo ý kiến của nhóm tác giả,
VKSNDTC và TANDTC cần phối hợp ban hành
quy định cụ thể hướng dẫn Tòa án địa phương
thụ lí vụ việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa dân sự trong trường hợp cụ thể này.
Vì hướng dẫn tại Điểm b, Tiểu mục 1.1, Mục 1,
Phần I, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày
31/3/2005, về mặt lí luận đã vượt quá phạm vi
quy định tại Điều 29 BLTTDS năm 2004, hiện
nay là Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015, và
cũng không phù hợp với quan hệ xã hội thực tế.

7
Bản án số 25/KDTM-ST ngày 08/6/2017 của Tòa án
Nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

45

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Bạo lực trẻ em dưới góc nhìn pháp lý và tác động của bạo lực đối với sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ em

Bài viết Bạo lực trẻ em dưới góc nhìn pháp lý và tác động của bạo lực đối với sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ em trình bày bạo lực trẻ em đang là vấn nạn cần được toàn xã hội quan tâm. Chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em là sự nghiệp lớn của các quốc gia, là trách nhiệm của gia đình và của cả cộng đồng. Hiện nay, tình trạng bạo lực trẻ em không những không có xu hướng thuyên giảm mà ngày càng gia tăng,... Mời các bạn cùng tham khảo.


Quyền sở hữu trí tuệ - THÔNG ĐIỆP CỦA THÀNH LONG: HÀNG GIẢ LỢI BẤT CẬP HẠI

Làm hàng giả là một nghề có tốc độ tăng trưởng mạnh, với thị phần toàn cầu đạt 500 tỉ đô-la. Những nguồn tin của ngành công nghiệp ước tính việc sản xuất hàng giả trên toàn thế giới trong 10 năm qua đã tăng 1700%. Nhưng khía cạnh đáng ngạc nhiên nhất trong tốc độ tăng trưởng này lại không phải là con số mà là sự đa dạng của các ngành vốn đã trở thành điểm nóng đối với hàng giả. ...


Bài giảng Các nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em

Bài giảng Các nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em được biên soạn nhằm giúp các bạn hiểu sâu hơn về các nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em và diễn giải được ý nghĩa và mục đích của các nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em.


Ebook Hỏi đáp về đăng ký và quản lý hộ khẩu hộ tịch: Phần 1 - NXB Công an nhân dân

Ebook "Hỏi đáp về đăng ký và quản lý hộ khẩu hộ tịch" có cấu trúc hai phần. Phần 1 là hỏi đáp về quản lý và đăng ký hộ khẩu. Nội dung phần 1 đã trả lời rất nhiều câu hỏi thắc mắc thường gặp. Mời các bạn tham khảo để nắm bắt nội cung chi tiết.


Pháp luật và hương ước trong quản lý xã hội nông thôn: đánh giá từ phía người dân

Trên cơ sở phân tích thực trạng người dân ở nông thôn thực hiện quyền được bàn bạc, quyền được giám sát, đồng thời phân tích sự tồn tại của hương ước xét từ cái nhìn của người dân và không gian pháp luật ở vùng nông thôn, bài viết chỉ rõ sự cần thiết tạo ra những cơ hội để có thêm sự tương tác, bổ trợ giữa hệ thống pháp luật và hương ước cũng như cần nhận diện cơ chế đích thực, con người cụ thể từ cộng đồng đóng vai trò chủ chốt trong quản lý xã hội.


Chuyên đề Xây dựng, điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất

Chuyên đề Xây dựng, điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất nhằm làm rõ các vấn đề trong luật đất đai quy định về xây dựng, điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.


Bài giảng Pháp luật kinh doanh: Pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Nội dung chính của chuyên đề này gồm có các vẫn đề sau: Khái luận về phá sản và pháp luật về phá sản, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp,... Mời các bạn tham khảo.


Pháp luật đại cương

Một số quan điểm phi mácxít về nguồn gốc nhà nước 1.1. Thuyết thần học: Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, Nhà nước là do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Do vậy, Nhà nước là do lực lượng siên nhiên và đương nhiên quyền lực Nhà nước là vĩnh cửu, bất biến và sự phục tùng quyền lực này là cần thiết và tất yếu. 1.2. Thuyết gia trưởng: các nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng chứng minh rằng...


Trắc nghiệm – Lý luận pháp luật – Phần 1

Câu 9. Theo Hiến pháp Việt Nam 1992, Thủ tướng Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam: A. Do nhân dân bầu B. Do Quốc hội bầu theo sự giới thiệu của Chủ tịch nước C. Do Chủ tịch nước giới thiệu D. Do Chính phủ bầu = B. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Thủ tướng phải là đại biểu Quốc hội


Đề thi môn luật tố tụng dân sự (kèm lời giải) - Đề 8

Anh A và chị B làm lễ cưới năm 1986 trên cơ sở hoàn toàn t ự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị B về chung sống với gia đình bố mẹ anh A tại phường P, quận H, nhưng chưa chuyển hộ khẩu về. Thời gian đầu hai người chung sống hạnh phúc, …


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

BÀI 3: LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
  • 15/06/2013
  • 49.566
  • 241

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu