Tìm kiếm tài liệu miễn phí

So sánh hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam theo cách tiếp cận tham số và phi tham số

Mục tiêu của bài viết này là so sánh hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ (KHTT) tại Việt Nam theo cách tiếp cận tham số và phi tham số trong giai đoạn từ tháng 1/2002 đến tháng 12/2014.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016

So sánh hệ thống cảnh báo sớm khủng
hoảng tiền tệ tại Việt Nam theo cách tiếp
cận tham số và phi tham số


Nguyễn Thị Mỹ Phượng

Trường Đại học Công nghiệp TP HCM - Email: nguyenthimyphuongdhcn@gmail.com
(Bài nhận ngày 11 tháng 3 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 17 tháng 5 năm 2016)

TÓM TẮT
Mục tiêu của bài viết này là so sánh hiệu
quả của hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng
tiền tệ (KHTT) tại Việt Nam theo cách tiếp cận
tham số và phi tham số trong giai đoạn từ tháng
1/2002 đến tháng 12/2014. Kết quả nghiên cứu
cho thấy phương pháp tham số đạt hiệu quả cao

hơn so với phương pháp phi tham số trong cảnh
báo sớm KHTT tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tác
giả cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng
cường cảnh báo sớm KHTT tại Việt Nam trong
tương lai.

Từ khóa: khủng hoảng tiền tệ, cảnh báo sớm, tham số, phi tham số

1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, tại các quốc gia
trên thế giới đã liên tục xảy ra những cuộc
khủng hoảng tiền tệ (KHTT) như khủng hoảng
hệ thống tiền tệ Châu Âu 1992 - 1993, khủng
hoảng Mexico 1994 - 1995, khủng hoảng Thái
Lan 1997 - 1998. Một đặc trưng của các cuộc
khủng hoảng này là chúng không chỉ xảy ra
trong phạm vi biên giới quốc gia mà đang lan
truyền sang các nước khác một cách nhanh
chóng và mạnh mẽ làm thiệt hại sản lượng quốc
gia nghiêm trọng cùng với tổn thất tài khóa nặng
nề do giải quyết hậu quả khủng hoảng. Điều này
đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu, các tổ chức tài
chính quốc tế và các ngân hàng Trung ương nỗ
lực để dự đoán chúng bằng cách xây dựng và
phát triển các hệ thống cảnh báo sớm (Early
Warning Systems - EWS) cho mục đích phòng
ngừa KHTT.

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chủ
đề này thông qua việc sử dụng hai cách tiếp cận
chủ yếu gồm cách tiếp cận phi tham số
(Kaminsky, Lizondo và Reinhart 1998;
Kaminsky và Reinhart 1999; Edison 2003,
Comelli 2013) và cách tiếp cận tham số (Berg và
Patillo 1999; Comelli 2013, Comelli 2014,
Rahman 2014). Tại Việt Nam từ sau 2008, các
nghiên cứu về EWS KHTT đã bắt đầu được chú
trọng như nghiên cứu của Lê Thị Thùy Vân
(2015) sử dụng cách tiếp cận phi tham số;
nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2011), Phạm
Thị Hoàng Anh (2015) sử dụng cách tiếp cận
tham số. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa:
(i) đề cập đến sự tác động của chỉ số giá chứng
khoán tổng hợp đến xác suất KHTT tại Việt
Nam; (ii) tính đến tác động của khu vực ngân
hàng đến xác suất KHTT tại Việt Nam; (iii)
chưa so sánh hiệu quả của EWS KHTT tại Việt
Nam theo cách tiếp cận tham số và phi tham số.

Trang 71

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
Bên cạnh đó, Việt Nam ngày càng hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới, ngày càng đối
mặt với những bất ổn, rủi ro, đặc biệt trong lĩnh
vực tài chính do tác động của quá trình tự do
hóa. Những lý do này tạo nên những khoảng
trống trong nghiên cứu mà tác giả kỳ vọng lấp
đầy.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG
HOẢNG TIỀN TỆ VÀ CẢNH BÁO KHỦNG
HOẢNG TIỀN TỆ
2.1. Định nghĩa khủng hoảng tiền tệ
Kaminsky, Lizondo và Reinhart (1998) cho
rằng KHTT là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn
công đầu cơ vào đồng nội tệ dẫn đến sự thâm
hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm mất giá
nhanh chóng đồng nội tệ. Goldstein, Kaminsky
và Reinhart (2000) nhấn mạnh KHTT xảy ra
khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá
đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp Chính
phủ phải bảo vệ đồng nội tệ bằng cách tăng lãi
suất hay chi ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại
hối. Trong khi đó Krznar (2004) chỉ ra rằng
KHTT là tình trạng mất giá danh nghĩa đồng nội
tệ trong khoảng thời gian ngắn hoặc giảm sút
đáng kể dự trữ ngoại hối quốc gia. KHTT xảy ra
có thể dẫn đến khủng hoảng ngân hàng vì khi tỷ
giá hối đoái bị định giá cao, sự sụt giảm giá tài
sản và chứng khoán, vốn tháo chạy có thể đẩy
ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán, đóng cửa ngân hàng, khủng hoảng
ngân hàng mang tính hệ thống nếu khu vực ngân
hàng đã có một tỷ lệ cao các khoản nợ bằng
ngoại tệ (Yiu, Ho và Jin, 2009).
Như vậy, KHTT nhìn chung có thể hiểu là sự
mất giá nhanh chóng đồng nội tệ chỉ trong một
thời gian ngắn hoặc trường hợp Chính phủ phải
bảo vệ đồng nội tệ khi các cuộc tấn công đầu cơ
tiền tệ xảy ra bằng cách tăng lãi suất hay chi ra
một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối làm giảm
sút đáng kể nguồn dự trữ ngoại hối quốc gia.

Trang 72

2.2. Các lý thuyết về cảnh báo khủng
hoảng tiền tệ
Tính đến nay, có bốn thế hệ lý thuyết về
cảnh báo KHTT đều cố gắng để giải thích một
cách cụ thể các cuộc KHTT đã xảy ra:
Krugman (1979) đã xây dựng l thuyết cảnh
báo KHTT thế hệ thứ nhất giải thích các cuộc
KHTT như là kết quả của sự mâu thuẫn cơ bản
trong các chính sách vĩ mô. Các cuộc KHTT đã
được dự báo trước bởi sự suy giảm trong các
yếu tố kinh tế vĩ mô nền tảng. Lý thuyết này sau
đó được Flood và Garber (1984) cải tiến nhờ
vào kết quả quan sát từ các cuộc khủng hoảng ở
rgentina 1981 và Mexico 1982.
Cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ Châu Âu
1992 - 1993 xảy ra gắn với sự ra đời của lý
thuyết cảnh báo KHTT thế hệ thứ hai. Lý thuyết
này được Obstfeld (1994, 1996) xây dựng và
phát triển. Đây là l thuyết khủng hoảng tự phát
sinh (self - fulfilling), xuất phát và lây lan từ yếu
tố kỳ vọng của nhà đầu cơ và hành vi “đám
đông” trong bối cảnh các quốc gia có mức độ
yếu kém về tài chính và vĩ mô vừa phải. Trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, khi một quốc
gia phá giá đồng tiền sẽ làm giảm lợi thế cạnh
tranh ngoại thương của các nước khác trong khu
vực buộc các nước khác cũng phải phá giá đồng
tiền, tạo nên một sự lan truyền mạnh mẽ của
khủng hoảng (Eichengreen, Rose và Wyplosz,
1996).
Cuộc khủng hoảng tài chính (KHTC) Châu
xuất phát từ Thái an năm 1997 gắn với sự ra
đời của lý thuyết cảnh báo KHTT thế hệ thứ ba.
Lý thuyết này được giải thích bởi Yoshitomi và
Ohno (1999), Kaminsky và Reinhart (1999), đặc
trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn
trong cán cân thanh toán quốc tế. Khủng hoảng
tài khoản vốn thường dẫn đến khủng hoảng kép:
KHTT và khủng hoảng ngân hàng.
Breuer (2004) cho rằng ngoài các yếu tố
kinh tế vĩ mô căn bản hay yếu tố phi kinh tế như

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q3 - 2016
yếu tố tâm lý, kỳ vọng gắn kết, hành vi đám
đông, tính lan truyền..., các yếu tố thể chế như
cũng là những yếu tố góp phần hay ngăn ngừa
KHTT. Theo đó, l thuyết cảnh báo KHTT thế
hệ thứ tư là phản ánh của sự kết hợp này. Sự
phát triển của lý thuyết cảnh báo KHTT thế hệ
thứ tư đang diễn ra. Tuy nhiên, trong thực tế
việc mô hình hóa lý thuyết KHTT thế hệ thứ tư
rất khó thực hiện do chưa có đầy đủ nguồn dữ
liệu vì rất khó lượng hóa.
2.3. Hệ thống cảnh báo sớm khủng hoảng
tiền tệ
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
cho thấy EWS KHTT là mô hình được xây dựng
dựa trên các chỉ tiêu (kinh tế vĩ mô, thể chế,
chính trị...) có khả năng cảnh báo sớm KHTT
trong một quốc gia theo một chuỗi thời gian xác
định, từ đó đưa ra ước lượng về xác xuất xảy ra
một cuộc KHTT trong tương lai, giúp Chính phủ
và các cơ quan chức năng đưa ra những gợi ý
chính sách và hành động nhằm phòng ngừa hoặc

giảm thiểu khả năng xảy ra một cuộc KHTT
trong tương lai, ảnh hưởng đến sự ổn định của
hệ thống tài chính và gây ra những hậu quả nặng
nề cho nền kinh tế. Một EWS KHTT đòi hỏi cần
có ba yếu tố chủ yếu là: (i) xác định các giai
đoạn KHTT; (ii) xác định một tập hợp biến giải
thích (các chỉ số cảnh báo sớm KHTT) và (iii)
một mô hình kinh tế lượng để tạo ra các cảnh
báo sớm về KHTT.
Xác định giai đoạn khủng hoảng tiền tệ
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
xác định các giai đoạn KHTT qua chỉ số áp lực
thị trường ngoại hối (Exchange Market Pressure
- EMP). EMP lần đầu được giới thiệu qua ý
tưởng về mô hình tiền tệ của Girton và Roper
(1977) và được hoàn thiện qua nghiên cứu của
Eichengreen, Rose và Wysplosz (1996). Chỉ số
EMP là bình quân gia quyền của sự thay đổi tỷ
giá hối đoái danh nghĩa (NER), lãi suất thực (r),
dự trữ ngoại hối (res).

 NER i,t  NER i,t 1 
  ω r ri,t  ri,t 1   ω res
EMPi,t  ωNER 

NER i,t 1


Trong đó ω là trọng số tính cho thay đổi
i
tương ứng của các chỉ tiêu i (NER, r, res) được
tính là giá trị nghịch đảo của độ lệch chuẩn của
sự thay đổi chính biến i.
Xác định các chỉ số cảnh báo sớm khủng
hoảng tiền tệ
Việc xác định các chỉ số cảnh báo KHTT
được dựa trên các thế hệ lý thuyết về cảnh báo
KHTT. Các nghiên cứu của Kaminsky, Lizondo
và Reinhart (1998), Kaminsky và Reinhart
(1999), Berg và Pattillo (1999), Edison (2003),
Comelli (2013) và Comelli (2014) về EWS
KHTT đã chỉ ra hệ thống các chỉ số dùng để
cảnh báo KHTT gồm bốn nhóm: (i) nhóm các
chỉ số thuộc khu vực bên ngoài (tài khoản vãng
lai và tài khoản vốn); (ii) nhóm các chỉ số thuộc

 res i,t  res i,t 1 




res i,t 1



khu vực tài chính; (iii) nhóm các chỉ số thuộc
khu vực công và khu vực sản xuất trong nước và
(iv) nhóm các chỉ số về kinh tế toàn cầu.
Các mô hình kinh tế lượng sử dụng trong
cảnh báo sớm khủng hoảng tiền tệ
Các nghiên cứu trước về EWS KHTT trên
thế giới hầu hết đều sử dụng hai cách tiếp cận
gồm mô hình phi tham số Signal và mô hình
tham số Logit/Probit.
Mô hình phi tham số Signal
Mô hình Signal là một mô hình phi tham số,
được xây dựng tiên phong bởi Kaminsky,
Lizondo và Reinhart (1998); Kaminsky và
Reinhart (1999). Mô hình này dựa trên sự theo
dõi biến động của các biến số kinh tế vĩ mô

Trang 73

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q3 - 2016
nhằm phát hiện sự thay đổi bất thường của các
biến số này và tính toán tác động của chúng đến
khả năng xảy ra KHTT. Khi những chỉ số này
vượt khỏi mức ngưỡng cho phép thì chúng lập
tức phát tín hiệu cảnh báo KHTT. Theo đó, xác
suất KHTT được tính bằng bình quân gia quyền
của các tín hiệu khủng hoảng do tập hợp các
biến số kinh tế vĩ mô phát ra. Như vậy, để thiết
lập tín hiệu phát ra báo hiệu một cuộc khủng
hoảng, vấn đề trọng tâm là cần thiết lập một
mức ngưỡng phù hợp. Để xác định giá trị
ngưỡng của mỗi chỉ số và để đo hiệu suất các
chỉ số đó, cần thiết phải xác định cửa sổ tín hiệu.
Cửa sổ tín hiệu là thời kì mà từng chỉ số được
dự kiến sẽ thể hiện khả năng dự báo trước cuộc
KHTT. Kaminsky, Reinhart và Lizondo (1998)
và Kaminsky và Reinhart (1999) thiết lập cửa sổ

tín hiệu cho cuộc KHTT là 24 tháng. Chỉ số
cảnh báo tổng hợp khủng hoảng được tính theo
công thức:
St 

n

1


j 1

St , j

j

Trong đó: St,j là tín hiệu phát ra của biến thứ
j tại thời điểm t; n là số biến được theo dõi; St,j =
1 (có khủng hoảng) nếu biến j tại thời điểm t
vượt qua ngưỡng khả thi; St,j = 0 (không có
khủng hoảng) trong trường hợp còn lại;  j là
tỷ lệ nhiễu tín hiệu của biến dự báo thứ j:
j 

B / A  B
C /(C  D)

Kết quả của mỗi chỉ số có thể được xem xét
bởi hai ma trận được đưa ra trong Bảng 1 như
sau:

Bảng 1. Ma trận của chỉ số tín hiệu
Khủng hoảng
(Trong vòng 24 tháng)

Không có khủng hoảng
(Trong vòng 24 tháng)

Tín hiệu được phát

A

B

Tín hiệu không được phát

C

D

`

Nguồn: Kaminsky, Reinhart và Lizondo (1998)
Xác suất của một cuộc khủng hoảng có điều
kiện trên tín hiệu được phát:
P (Khủng hoảng | S) = /( + B), nghĩa là:
P (KHt,t+h|S1

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Interest-Rate Risk Management Section 3010.1

It is difficult to discern exposures from institutions’ reported credit market posi- tions. Indeed, common data sources such as annual reports and regulatory filings record accounting measures on a large and diverse number of credit market instruments. Ac- counting measures are not necessarily comparable across positions. For example, the economic value of two loans with the same book value but different maturities will react quite differently to changes in interest rates. At the same time, many instruments are close substitutes and thus entail essentially the same market risk. For example, a 10 year government bond and a 9 year high-grade mortgage bond will tend to respond similarly to...


Giáo trình phân tích một số loại nghiệp vụ mới trong kinh doanh ngân hàng quản lý ngân quỹ p1

Tham khảo tài liệu 'giáo trình phân tích một số loại nghiệp vụ mới trong kinh doanh ngân hàng quản lý ngân quỹ p1', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG- CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

3.5.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật TC- NH Nhanh chóng bình ổn giá cả, hạn chế lạm phát Chủ động đối phó với ảnh hưởng bất lợi từ những cuộc khủng hoảng của các NH Châu Âu trong thời gian vừa qua. Tạo điều kiện liên kết thẻ giữa các NH


Khó khăn và thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc vận dụng các quy định về tỷ lệ an toàn vốn theo tinh thần hiệp ước Basel III

Bài viết Khó khăn và thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc vận dụng các quy định về tỷ lệ an toàn vốn theo tinh thần hiệp ước Basel III làm rõ về hiệp ước Basel III, vận dụng của hệ thống NHTM VN như thế nào đối với hiệp ước Basel I, II, III và một số nội dung khác.


“Mốt” ngân hàng đa năng

Trở thành một ngân hàng đa năng không những là mục tiêu, mà còn là “mốt” của các ngân hàng hiện nay. Theo đó, bên cạnh việc mở rộng mạng lưới, phát triển sản phẩm dịch vụ (tức là theo chiều sâu), các ngân hàng còn tập trung mở rộng ngành nghề kinh doanh thông qua các công ty trực thuộc. Trở thành tập đoàn tài chính đa năng có lẽ vẫn là mục tiêu chưa đạt được, nhưng trở thành ngân hàng đa năng thì đã thành hiện thực với rất nhiều ngân hàng.......


Bài giảng Nghiệp vụ ngân hàng thương mại: Chương 1 – Nguyễn Văn Vũ An

Bài giảng Nghiệp vụ ngân hàng thương mại: Chương 1 trình bày các nội dung: Bản chất của nghiệp vụ ngân hàng, chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng thương mại, tổ chức bộ máy ngân hàng thương mại, thu nhập  - chi phí và lợi nhuận, các mặt hoạt động của ngân hàng thương mại. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Đồng Nhân dân tệ tham gia vào giỏ tiền quốc tế và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam

Bài viết Đồng Nhân dân tệ tham gia vào giỏ tiền quốc tế và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam đưa ra một số cơ sở lý thuyết, thực trạng giao dịch thanh toán bằng NDT trên thế giới, tác động của NDT tới Việt Nam khi nó tham gia vào giỏ tiền quốc tế.


Nghiệp vụ cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê.Bên cho thuê mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và chuyền giao cho bên thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê.


Lecture Financial reporting for managers: A value-creation perspective - Chapter 8

Chapter 8 - Long-term producing assets and investments in equity securities. The following will be discussed in this chapter: Investments in long-term producing assets; accounting for producing assets: an overview; acquisition: what costs to capitalize; post-acquisition expenditures; cost allocation; estimating useful life and salvage value; cost allocation methods;...


Ebook Applied numerical methods (4th edition): Part 2

(BQ) Part 2 book "Applied numerical methods" has contents: Linear regression, fourier analysis, polynomial interpolation, splines and piecewise interpolation, numerical integration formulas, numerical integration of functions, numerical differentiation, boundary value problems,...and other contents.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
  • 14/01/2013
  • 80.690
  • 615
NGÂN HÀNG PHẢI NHẬP CUỘC
  • 03/10/2012
  • 88.398
  • 973
Chiết khấu chứng từ có giá
  • 24/08/2010
  • 22.607
  • 955

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu