Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu ở Việt Nam

Bài viết chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu ở Việt Nam hiện hành và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định này.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 72-80

Quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường
đối với xăng dầu ở Việt Nam
Nguyễn Thị Huệ*
Khoa Luật, Trường Đại học Công Đoàn, 169 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 15 tháng 7 năm 2016
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 8 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 9 năm 2016

Tóm tắt: Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu đã được áp dụng ở Việt Nam từ 1/1/2012 trên
cơ sở luật Thuế bảo vệ môi trường 2010 với mục đích điều tiết hành vi tiêu dùng, kinh doanh xăng
dầu để góp phần bảo vệ môi trường và xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam đồng thời tăng thu
cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, sau 4 năm thực hiện, các quy định pháp luật về thuế bảo vệ
môi trường đối với xăng dầu chưa phát huy được hiệu quả trong bảo vệ môi trường. Bài viết chỉ ra
những bất cập trong các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu ở Việt
Nam hiện hành và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định này.
Từ khoá: Thuế bảo vệ môi trường; thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu; công cụ kinh tế trong
quản lý môi trường.

98 USD/người vào năm 1999, đã tăng lên 400
USD/người vào năm 2000 và năm 2010 là 1200
USD/người; năm 2015 GDP bình quân đầu
người đạt khoảng 2200 USD/người” [1]. Bên
cạnh những tác động tích cực thì sự phát triển
kinh tế cũng kéo theo những tác động tiêu cực
đối với đời sống, văn hoá, xã hội, đặc biệt là đối
với môi trường. Trong số những vấn đề về môi
trường mà Việt Nam đang phải đối mặt thì ô
nhiễm môi trường là vấn đề đặc biệt nghiêm
trọng, ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất.
Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững,
Việt Nam cũng như các quốc gia phải thực hiện
rất nhiều kế hoạch, chiến lược, phải sử dụng rất
nhiều công cụ khác nhau để quản lý, bảo vệ môi
trường như công cụ khoa học – công nghệ;
tuyên truyền giáo dục, công cụ pháp lý mang
tính mệnh lệnh – kiểm soát (CAC- Command
and Control) và đặc biệt là các công cụ kinh tế
(hay còn gọi là công cụ thị trường). Theo nhiều

1. Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu
là một trong những công cụ kinh tế quan
trọng nhằm bảo vệ môi trường và góp phần
xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt Nam∗
1.1. Áp dụng thuế bảo vệ môi trường là phù hợp
với xu hướng sử dụng các công cụ kinh tế trong
quản lý môi trường ở trên thế giới
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt
được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế,
xoá đói giảm nghèo, đời sống của người dân
được nâng cao rõ rệt. Số liệu thống kê cho thấy,
“GDP của Việt Nam đã liên tục tăng trưởng
nhanh trong hơn 20 năm qua, với tốc độ tăng
bình quân khoảng 7%/năm, cao vào bậc nhất
thế giới. Từ một nước có thu nhập thấp khoảng

_______


ĐT.: 84-987603996
Email: huenguyen.193@gmail.com

72

N.T. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 72-80

chuyên gia “so với công cụ chỉ huy và kiểm
soát (CAC) là công cụ chính sách trong quản lý
môi trường bao gồm “chỉ huy” tức là đặt ra tiêu
chuẩn – mức độ ô nhiễm tối đa có thể cho phép
và “kiểm soát” tức là sự giám sát và thực thi các
tiêu chuẩn thì các công cụ kinh tế có những ưu
điểm vượt trội hơn” [2, tr29]. Nguyên nhân là
do các biện pháp CAC mang tính mệnh lệnh
hành chính, bắt buộc các chủ thể phải hành
động hoặc không hành động theo ý chí áp đặt
của nhà nước, trong khi “con người hành động
phải có mục đích mang lại lợi ích cho bản thân.
Đánh vào lợi ích thì sẽ có thể điều chỉnh được
hành vi. Đây là cách chúng ta áp dụng nhiều
nhất hiện nay. Tuy nhiên, phạt nặng nhiều khi
chưa chắc đã giải quyết được vấn đề, đặc biệt là
trong điều kiện năng lực của các cơ quan bảo vệ
và thực thi pháp luật còn hạn chế. Phạt nặng
trong điều kiện như vậy chỉ khuyến khích việc
che dấu vi phạm và làm cho vấn đề trầm trọng
thêm” [3, tr23]. Còn các công cụ kinh tế trong
quản lý môi trường lại được xây dựng và vận
hành dựa vào các quy luật thị trường, hướng tới
tác động vào lợi ích kinh tế của các chủ thể
nhằm làm cho các chủ thể bị tác động sẽ vì lợi
ích kinh tế của mình mà tự nguyện thực hiện
các hành vi có lợi cho môi trường.
Việc tăng cường áp dụng các công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường là xu thế chung của
nhiều quốc gia trên thế giới. Đã có nhiều văn
kiện pháp lý quốc tế đề cập và yêu cầu các quốc
gia phải tăng cường áp dụng các công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường như nguyên tắc số
16 của Tuyên bố Rio tại Hội nghị của Liên hợp
quốc về môi trường và phát triển năm 19921.
Việt Nam cùng gần 200 quốc gia khác đã tham
gia Hội nghị, kí kết Tuyên bố Rio và sau đó đã
có rất nhiều nỗ lực để thực hiện toàn bộ các
nguyên tắc của Tuyên bố Rio 1992, trong đó có
nguyên tắc số 16.

_______
1

“Các nhà lãnh đạo các quốc gia cần đẩy mạnh việc nội
luật hóa các chi phí môi trường và áp dụng các công cụ
kinh tế dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu
phí tổn về các chi phí ô nhiễm do mình tạo ra với sự quan
tâm đúng mức đối với quyền lợi chung của cộng đồng và
không ảnh hưởng xấu đến hoạt động thương mại và đầu tư
quốc tế” - Nguyên tắc số 16 của Tuyên bố Rio năm 1992

73

Đến nay, hầu hết các quốc gia đều đã xây
dựng và ban hành các quy định pháp luật điều
chỉnh về các công cụ kinh tế khác nhau trong
quản lý môi trường. “Theo kết quả nghiên cứu
của Opshoor và Vos (2 nhà kinh tế học của
OECD đã tiến hành khảo sát tổng quát về tình
hình sử dụng công cụ khuyến khích kinh tế của
6 nước Italia, Thuỵ Điển; Mỹ; Pháp; Đức; Hà
Lan), tổng cộng 85 công cụ loại này đã được áp
dụng, trung bình có 14 công cụ cho mỗi quốc
gia” [4]. Trong đó, thuế bảo vệ môi trường đối
với xăng dầu là một trong những công cụ kinh
tế quan trọng, mang lại những lợi ích to lớn
trong bảo vệ môi trường và đang được áp dụng
tại nhiều quốc gia như các nước Liên minh châu
Âu; Nhật Bản; Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái
Lan, Singapore…
Thực hiện đúng nội dung nguyên tắc số 16
của Tuyên bố Rio 1992, Việt Nam cũng coi
việc “đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong
quản lý môi trường” là một trong tám giải pháp
quan trọng nhằm thực hiện Chiến lược Bảo vệ
môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020. Trên thực tế, Việt Nam
đã và đang triển khai thực hiện một số các công
cụ kinh tế trong quản lý môi trường như thuế
bảo vệ môi trường; Phí bảo vệ môi trường; Ký
quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong khai thác
khoáng sản; Ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập
khẩu; Nhãn sinh thái; Hỗ trợ/trợ cấp về môi
trường… Trong đó Thuế bảo vệ môi trường
(BVMT) là một trong những công cụ kinh tế
quan trọng được triển khai thực hiện từ năm
2012 đến nay, trên cơ sở luật Thuế BVMT 2010
(có hiệu lực từ 1/1/2012).
1.2. Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu
góp phần bảo vệ môi trường và xây dựng nền
kinh tế xanh ở Việt Nam
Điều 2, Khoản 1, Luật Thuế BVMT 2010
quy định: “Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế
gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây
gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác
động xấu đến môi trường”. Tuy nhiên, giống
như các quốc gia khác, Việt Nam chỉ lựa chọn
một số hàng hoá, sản phẩm để thu thuế BVMT,
trong đó, xăng dầu là đối tượng quan trọng

74

N.T. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 72-80

nhất, được xếp vị trí đầu tiên trong danh sách 8
nhóm hàng hoá, sản phẩm chịu thuế (Điều 3,
Luật thuế BVMT 2010). Lí do được đưa ra
nhằm giải thích cho việc đưa xăng dầu vào
nhóm hàng hoá, sản phẩm chịu thuế là do mức
độ và khả năng gây tác động xấu tới môi trường
của xăng dầu khi sử dụng là rất lớn. Xăng dầu
là một trong những loại nhiên liệu hoá thạch
được sử dụng rất thường xuyên trong sản xuất
cũng như tiêu dùng ở Việt Nam và trên thế giới.
Lượng xăng dầu tiêu thụ của Việt Nam trong
những năm gần đây luôn tăng nhanh, “ước tính
xăng dầu tiêu thụ trong nước năm 2015 đạt
khoảng 17-17,5 triệu m3/tấn các loại, tăng
khoảng 12-15% so với năm 2014” [5]. Bên
cạnh đó, xăng dầu khi bị đốt cháy sẽ thải ra khí
CO2 là nguyên nhân chính dẫn đến sự nóng lên
của trái đất, gây ra nhiều tác động xấu tới môi
trường của Việt Nam cũng như toàn cầu vì vậy
việc hạn chế tiêu dùng xăng dầu là rất cần thiết
và đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi
trường. Như vậy có thể nói, thuế BVMT với
xăng dầu là một trong những công cụ kinh tế
trong quản lý môi trường rất quan trọng mà
Việt Nam đang thực hiện nhằm bảo vệ môi
trường. Thuế BVMT đối với xăng dầu đã nội
hoá chi phí BVMT vào giá bán sản phẩm xăng
dầu chịu thuế để người tiêu dùng – người gây ô
nhiễm phải gánh chịu những chi phí đó theo
đúng tinh thần của nguyên tắc số 16 trong
Tuyên bố Rio 1992, đồng thời giúp thực hiện
một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp
luật BVMT là “người gây ô nhiễm phải trả
tiền” (PPP).
Mục tiêu chính của thuế BVMT đối với
xăng dầu không phải là nhằm tăng thu cho ngân
sách nhà nước mà nhằm làm tăng giá thành của
các sản phẩm xăng dầu, từ đó dựa vào quy luật
giá cả của thị trường để khuyến khích, định
hướng để người tiêu dùng tự thay đổi thói quen
tiêu dùng, giảm thiểu tiêu thụ các sản phẩm
xăng dầu hoá thạch và chuyển đổi sang sử dụng
các sản phẩm nhiên liệu thay thế thân thiện hơn
với môi trường như xăng sinh học hoặc sử dụng
các phương tiện giao thông công cộng hoặc các
phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu
sạch… do có giá thành rẻ hơn so với sử dụng

xăng dầu hoá thạch. Từ đó thông qua quy luật
cung cầu của thị trường để tác động các chủ thể
sản xuất, kinh doanh xăng dầu chuyển đổi hoặc
tăng cường kinh doanh các sản phẩm nhiên liệu
thân thiện hơn với môi trường, cũng như
khuyến khích giao thông công cộng phát triển.
Bên cạnh đó, thuế BVMT đối với xăng dầu
cũng được xác định là một trong những giải
pháp quan trọng nhằm thực hiện Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 –
2020 và tầm nhìn đến năm 2050 do Chính phủ
ban hành. Chiến lược này đã khẳng định để đạt
được mục tiêu tăng trưởng xanh, Việt Nam
cần“áp dụng các công cụ thị trường nhằm thúc
đẩy thay đổi cơ cấu và nâng cao hiệu quả sử
dụng năng lượng, khuyến khích sử dụng các
loại nhiên liệu sạch, hỗ trợ phát triển năng
lượng tái tạo, có lộ trình xóa bỏ bao cấp đối với
nhiên liệu hóa thạch, đảm bảo nguyên tắc cạnh
tranh, minh bạch, hiệu quả”; “Áp dụng một số
công cụ kinh tế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
và phí BVMT để điều chỉnh những hành vi
tiêu dùng không hợp lý, trước hết đối với
những sản phẩm có hại cho sức khỏe, văn hóa
và môi trường”.
Như vậy có thể thấy, việc áp dụng thuế
BVMT đối với xăng dầu của Việt Nam là phù
hợp với xu hướng tăng cường sử dụng các công
cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên thế
giới, không chỉ góp phần làm tăng thu cho ngân
sách nhà nước mà quan trọng hơn là giúp bảo
vệ môi trường và góp phần xây dựng nền kinh
tế xanh ở Việt Nam.
2. Những yêu cầu đặt ra nhằm đảm bảo thuế
bảo vệ môi trường đối với xăng dầu phát huy
được vai trò trong điều tiết hành vi tiêu dùng
và kinh doanh xăng dầu
Để thuế BVMT đối với xăng dầu - với tư
cách là một công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường phát huy được hiệu quả trong điều tiết
hành vi tiêu dùng, kinh doanh, tác giả cho rằng
trước tiên cần thấy được sự khác nhau về bản
chất của các công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường với các công cụ CAC. Trong quản lý

N.T. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 72-80

môi trường, nếu sử dụng CAC thì nhà nước chỉ
cần đảm bảo sự chặt chẽ ở 2 bước là ra mệnh
lệnh và kiểm soát việc thực hiện là có thể đảm
bảo cho các quy định đó được thực hiện hiệu
quả. Nhưng khi nhà nước sử dụng các công cụ
kinh tế trong quản lý môi trường - những công
cụ được vận hành dựa vào các quy luật thị
trường thì hiệu quả lại phụ thuộc vào sự chủ
động, tự nguyện thay đổi hành vi của người tiêu
dùng. Do vậy, để công cụ này đạt hiệu quả, nhà
nước cần phải để thiết lập được thị trường và có
biện pháp thúc đẩy để cho thị trường đó vận
hành theo đúng những quy luật vốn có của nó
nhưng vẫn phải đảm bảo theo đúng mục tiêu đã
đặt ra.
Như vậy, khi sử dụng thuế bảo vệ môi
trường đối với xăng dầu và muốn công cụ này
phát huy được vai trò trong điều tiết, hạn chế
hành vi tiêu dùng, kinh doanh xăng dầu của
người tiêu dùng và doanh nghiệp thông qua các
quy luật giá - cả và cung - cầu của thị trường
thì trước tiên nhà nước cần tạo được một thị
trường trong đó xăng dầu hoá thạch có đối thủ
cạnh tranh là các sản phẩm xăng sinh học E5,
E10… hoặc người tiêu dùng có thể lựa chọn các
giải pháp thay thế khác như các phương tiện
giao thông công cộng, các phương tiện sử dụng
năng lượng sạch… Điều này là rất quan trọng
bởi nếu không thì nhà nước có tăng thuế BVMT
cao đến đâu thì cũng không mang lại hiệu quả
trong bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, để thị trường này được vận hành
theo đúng mục tiêu, định hướng đã đề ra, nhà
nước cần phải có những biện pháp phù hợp với
tâm lý người tiêu dùng thì mới có thể thúc đẩy
họ thay đổi hành vi tiêu dùng của mình. Theo
GS.TS Nguyễn Đăng Dung, khoa học hành vi
đã chỉ ra “thường có 7 yếu tố tác động lên hành
vi của con người: i. Quy tắc/Pháp luật; ii. Cơ
hội; iii. Năng lực; iv. Thông tin; v. Lợi ích; vi.
Quy trình; vii. Niềm tin” [3,tr21], đồng tình với
quan điểm trên tác giả cho rằng, muốn đảm bảo
cho thuế BVMT đối với xăng dầu được thực
hiện đúng mục tiêu và mang lại hiệu quả
trong BVMT thì nhà nước cần đảm bảo 7 yêu
cầu sau:

75

- Xây dựng được hệ thống quy định pháp
luật thuế BVMT đối với xăng dầu công bằng,
minh bạch với mức thuế phù hợp với mức độ
gây tác động xấu tới môi trường và điều kiện
kinh tế của người chịu thuế
- Người dân phải có cơ hội được tiếp cận dễ
dàng với các sản phẩm thay thế xăng hoá thạch
và các giải pháp thay thế khác. Vì trong khoa
học hành vi, cơ hội cũng là một trong những
yếu tố chi phối hành vi của con người do vậy,
“để điều chỉnh hành vi của con người, chúng ta
có thể tạo điều kiện cho các hành vi liên quan
có thể xảy ra hoặc làm ngược lại để hạn chế
chúng” [3,tr22].
- Đảm bảo mức thuế BVMT đối với xăng
dầu phù hợp với năng lực tài chính, điều kiện
kinh tế của chủ thể chịu thuế. Điều này là rất
quan trọng bởi xăng dầu là mặt hàng quan
trọng, thiết yếu trong đời sống của người dân
cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của
các doanh nghiệp. Việc thu thuế BVMT đối với
xăng dầu dẫn đến sự tăng giá của xăng dầu, có
thể gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của
người dân đặc biệt là những người có thu nhập
thấp và các doanh nghiệp.
- Tuyên truyền để người dân biết được mục
tiêu của thu thuế BVMT đối với xăng dầu,
những sản phẩm, giải pháp thay thế và lợi ích
khi sử dụng sản phẩm, giải pháp thay thế vì
“hành vi của con người có liên quan và phụ
thuộc vào thông tin mà con người nắm bắt”
[3,tr22].
- Cho người tiêu dùng và doanh nghiệp thấy
được những lợi ích đối với kinh tế/môi trường
khi họ hạn chế sử dụng xăng dầu hoá thạch,
tăng cường sử dụng các sản phẩm hoặc các giải
pháp thay thế. Tuy nhiên, đó không chỉ là
những lợi ích mang tính định tính, chung chung
như sẽ góp phần BVMT; đảm bảo sự phát triển
bền vững của đất nước; thúc đẩy đổi mới công
nghệ… mà còn là những lợi ích ngắn hạn và
định lượng như giá cả vì đây chính là yếu tố quyết
định trước hết hành vi của người tiêu dùng.
- Xây dựng được lộ trình chuyển đổi từ
xăng hoá thạch sang các sản phẩm nhiên liệu
thay thế và đưa các giải pháp thay thế đến gần

76

N.T. Huệ / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 72-80

hơn với người tiêu dùng. Thói quen tiêu dùng
xăng hoá thạch và sử dụng phương tiện cá nhân
như ô tô, xe máy đã hình thành từ lâu nên việc
thay đổi thói quen này là không dễ dàng. Nhà
nước phải xây dựng được một lộ trình, thực
hiện một cách đồng bộ với sự tham gia của
nhiều chủ thể như các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu; báo chí, truyền thông; các cơ quan
quản lý địa phương; các doanh nghiệp sản xuất
xe máy, ô tô; các doanh nghiệp sản xuất
ethanol, doanh nghiệp kinh doanh vận tải; các
nhà khoa học; người tiêu dùng…
- Cam kết, đảm bảo chất lượng và sự tiện
lợi của các sản phẩm, giải pháp thay thế để tạo
dựng và duy trì niềm tin của người tiêu dùng
vào các sản phẩm, các giải pháp đó vì “lòng tin
có thể dẫn dắt hành động của con
người”[3,tr23].
Như vậy có thể thấy, để đảm bảo cho thuế
BVMT đối với xăng dầu phát huy được hiệu
quả trong điều tiết hành vi tiêu dùng, kinh
doanh xăng dầu thì nhà nước chắc chắn sẽ phải
thực hiện đồng bộ rất nhiều giải pháp khác
nhau. Tuy nhiên, nếu thành công, thì thuế
BVMT đối với xăng dầu sẽ mang lại hiệu quả
rất cao trong bảo vệ môi trường giống một số
các quốc gia như Canada, Thái Lan… đã đạt
được từ công cụ này.
3. Bất cập của pháp luật thuế bảo vệ môi
trường đối với xăng dầu ở Việt Nam hiện nay
Thuế BVMT đối với xăng dầu ở Việt Nam
hiện nay được thực hiện trên cơ sở luật Thuế
BVMT 2010 và các văn bản hướng dẫn như
Nghị định số 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
thuế BVMT; Thông tư số 32/VBHN-BTC ngày
14/7/2014 của Bộ tài chính về hướng dẫn thi
hành nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày
8/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế
BVMT; Nghị quyết 888a/2015/UBTVQH13 về
biểu thuế bảo vệ môi trường…
Trên cơ sở đối chiếu với những yêu cầu đặt
ra để đảm bảo hiệu quả của thuế BVMT đối với

xăng dầu đã chỉ ra ở trên, tác giả cho rằng, Việt
Nam đã bước đầu tạo lập được thị trường, trong
đó xăng dầu hoá thạch đã có đối thủ cạnh tranh
là xăng sinh học E5, dự kiến đến đầu năm 2017
thị trường sẽ có thêm xăng sinh học E10. Đồng
thời, Việt Nam đã và đang thiết lập, hoàn thiện
nâng cao chất lượng của các giải pháp thay thế
như phát triển hệ thống giao thông công cộng
và khuyến khích các phương tiện giao thông sử
dụng nhiên liệu sạch… Bên cạnh đó, Việt Nam
đã làm khá tốt 4 yêu cầu rất quan trọng, tạo nền
tảng tốt để đảm bảo hiệu quả của thuế BVMT
đối với xăng dầu: i) Xây dựng được luật thuế
BVMT 2010 tương đối rõ ràng, minh bạch; ii)
Đảm bảo người dân có cơ hội được tiếp cận dễ
dàng với các sản phẩm thay thế như xăng sinh
học, các phương tiện giao thông công cộng; các
phương tiện sử dụng năng lượng sạch iii) Mức
thuế đặt ra phù hợp và không gây tác động xấu
đến đời sống kinh tế của người dân; iv) Bước
đầu đã xây dựng được lộ trình đưa xăng sinh
học E5 đến gần hơn với người tiêu dùng cũng
như phát triển hệ thống phương tiện giao thông
công cộng nhằm đáp ứng nhu cầu của người
dân. Tuy nhiên, các quy định pháp luật và việc
thực hiện vẫn còn còn một số bất cập là nguyên
nhân dẫn đến thuế BVMT đối với xăng dầu mới
chỉ mang lại hiệu quả trong tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước chứ chưa phát huy được
hiệu quả trong điều tiết hành vi tiêu dùng và
kinh doanh xăng dầu.
3.1. Quy định về đối tượng thu thuế chưa phù
hợp khi xác định cả phần xăng hoá thạch trong
xăng sinh học E5 là đối tượng chịu thuế bảo vệ
môi trường
Xăng sinh học E5 là xăng được pha trộn
giữa 5% nhiên liệu sinh học etanol và 95% là
xăng hoá thạch (xăng khoáng). Xăng E5 được
coi là một trong những loại xăng sinh học thân
thiện với môi trường. Xăng E5 đã và đang được
sử dụng ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam
do có hàm lượng khí thải gây ô nhiễm môi
trường thấp hơn nhiều so với xăng hoá thạch
Ron92 thông thường, đặc biệt là CO (đến 44%),
Hydrocarbon (đến 25%) và NOx (đến 10%).

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Ebook Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU về Sở hữu trí tuệ

Ebook Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU về Sở hữu trí tuệ được biên soạn với các nội dung: Tổng hợp kết quả rà soát, bảng tổng hợp kết quả rà soát, bảng rà soát chi tiết. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.


Ebook Văn bản pháp quy về quản lý khoa học xã hội và nhân văn: Phần 2

Nối tiếp nội dung của phần 1 cuốn sách "Văn bản pháp quy về quản lý khoa học xã hội và nhân văn" do NXB Lý luận Chính trị ấn hành, phần 2 giới thiệu tới người đọc các nội dung của Quyết định đánh giá, nghiệm thu đề tài khoa học xã hội và nhân văn cấp nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo.


Giáo trình luật cạnh tranh - TS. Tăng Văn Nghĩa

Lịch sử xây dựng và thực thi luật và chính sách cạnh tranh trên thế giới đã chứng minh rằng cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực thi Luật Cạnh tranh. Từng quốc gia, tuỳ vào điều kiện chính trị – xã hội cụ thể của mình mà xây dựng một mô hình cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh phù hợp


European Master in Law and Economics (EMLE): Programme report Transnational European evaluation project (TEEP II)

The Education Division of ICAR has been guiding and coordinating agricultural education in the country. With the establishment and growth of State Agricultural Universities, revision of courses and curricula in agricultural and allied sciences has been taken up periodically through Deans' committees. The third Deans' Committee in the series on agricultural education (1995) recommended constitution of separate committee by the ICAR for revision of post graduate curricula in view of emerging areas, advancement of science and human resource needs in 21st century. Accordingly, the Accreditation Board of ICAR constituted 16 Broad Subject Matter Area (BSMA) Committees for restructuring of post graduate course curricula and other related issues....


PHÁP LUẬT THUẾ THU VÀOHÀNG HÓADỊCH VỤ

1.1 Khái niệm - Thuế thu vào HH – DV: thuế gián thu, đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ đang lưu thông hợp pháp trên thị trường PL thuế thu vào HH – DV? Thuế thu vào HH – DV gồm: thuế XK – NK, thuế TTĐB, thuế GTGT


Bài giảng môn học Luật hành chính 2: Chương 1 - Nguyễn Hữu Lạc

Bài giảng "Luật hành chính 2 - Chương 1: Nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước" cung cấp cho người học các kiến thức: Nội dung, hình thức quản lý nhà nước; phương pháp quản lý hành chính nhà nước. Mời các bạn cùng tham khảo.


Tài liệu ôn tập thi tuyển công chức hành chính 2013

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay được hình thành trong tiến trình cách mạng lâu đời từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó là nhà nước Cộng Hòa Dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Hệ thống chính trị mang tính chất dân chủ nhân dân...


150 Harmonic maps, conservation laws and moving frames Second edition

The contemplation of the atlas of an airline company always offers us something puzzling: the trajectories of the airplanes look curved, which goes against our basic intuition, according to which the shortest path is a straight line. One of the reasons for this paradox is nothing but a simple geometrical fact: on the one hand our earth is round and on the other hand the shortest path on a sphere is an arc of great circle: a curve whose projection on a geographical map rarely coincides with a straight line. Actually, choosing the trajectories of airplanes is a simple illustration of a classical variational problem in differential geometry: finding...


Giáo trình quản trị khách sạn, nhà hàng - Những điều cơ bản về Cocktails

Cocktail – Nét Văn hoá đa quốc gia Khi ban hành luật cấm rượu được ban hành ở Mỹ, chắc những nhà làm luật chẳng ngờ rằng họ đã tạo điều kiện cho một loại đồ uống hoàn toàn mới ra đời. Mới cả về cách làm ra nó, cách uống nó. Hương vị mới và cả hình dáng cũng mới. Do lệnh cấm khá gắt gao, người ta phải tìm mọi cách để “hóa trang” cho tiệc rượu và những ly rượu. Còn gì hợp lý hơn là cầm trên tay một ly rượu nhưng trông lại như một...


Sự tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc nguồn luật trong dòng họ Civil Law

Sự tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc nguồn luật trong dòng họ Civil Law và dòng họ Common Law Dòng họ Civil Law và Common Law có cấu trúc nguồn luật tương tự nhau (đều gồm các thành tố: luật thành văn, án lệ, tiền lệ pháp, các học thuyết pháp luật, lẽ phải tự nhiên…). Tuy vậy ta có thể nhận diện chúng qua một điểm khác biệt rõ nét, đó là sự coi trọng Luật thành văn với tư cách là nguồn luật chính của Civil Law trong khi Common Law lại thừa nhận và ưu tiên...


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

THE RISE OF OPEN SOURCE LICENSING
  • 23/03/2013
  • 30.467
  • 226

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu