Tìm kiếm tài liệu miễn phí

PR Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn

PR Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn trình bày mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu các yếu tố văn hóa ảnh hưởng PR Việt Nam. Tác giả sử dụng nghiên cứu định tính với phương pháp chính là phỏng vấn sâu hai mươi chín chuyên viên tư vấn PR và chuyên viên PR nội bộ, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài, đang làm việc ở các công ty tư vấn PR và doanh nghiệp, trong nước và nước ngoài tại Việt Nam,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

38

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM - SỐ 3 (36) 2014

PR VIỆT NAM: TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN
Ngày nhận bài : 28/03/2014
Ngày nhận lại : 29/04/2014
Ngày duyệt đăng : 05/05/2014

Vân Thị Hồng Loan1

TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu các yếu tố văn hóa ảnh hưởng PR Việt Nam.
Tác giả sử dụng nghiên cứu định tính với phương pháp chính là phỏng vấn sâu hai mươi
chín chuyên viên tư vấn PR và chuyên viên PR nội bộ, bao gồm cả người Việt Nam và
người nước ngoài, đang làm việc ở các công ty tư vấn PR và doanh nghiệp, trong nước
và nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu đã phát hiện ra “quan hệ”, “thể diện” (face)
và “quà cáp” (favor) tác động lên PR Việt Nam. PR Việt Nam sử dụng mô hình “chia
sẻ thông tin hai chiều” (the “two-way shared perspective”): về hình thức thì giống mô
hình “thông tin hai chiều” (the “symmetrical model”) của hai nhà lý thuyết người Mỹ
Grunig & Hunt (1984), nhưng về bản chất thì khác biệt. PR Việt Nam xem trọng mối
quan hệ giữa chuyên viên PR và nhà báo để đạt được hiệu quả truyền thông, trong khi
đó, về mặt lý thuyết thì PR tập trung vào mối quan hệ hai chiều giữa tổ chức và công
chúng. Nghiên cứu kết luận rằng lý thuyết PR, vốn thành công trong việc giải thích và
định hướng hoạt động PR ở các nước nhưng lại bị thách thức tại Việt Nam vì chưa mô
tả và phản ánh đầy đủ hiện trạng PR trong thực tiễn.
Từ khóa: Quan hệ công chúng, quan hệ, thể diện, quà cáp, mô hình thông tin hai chiều.
ABSTRACT
The study aims to find out what cultural factors influence public relations in Vietnam. The researcher uses a qualitative approach with the primary method of in-depth
interviews of twenty-nine PR practitioners and in-house PR practitioners, for both Vietnamese and people from other countries, at International and domestic PR consultancies, and at International and Vietnamese business companies. The exploratory research
found that peculiar cultural characteristics such as quan hệ, face and favor influence Vietnamese public relations. Vietnamese public relations uses a two-way shared perspective which appears similar to the symmetrical model proposed by Grunig & Hunt (1984)
but its practice is not so. Public relations in Vietnam highlights personal relationships
between PR practitioners and journalists to have effective public relations. Nevertheless, the PR theory shows that public relations focuses on relationships between organisations and publics. The research concludes that the current theory of public relations
is challenged in the culturally different setting because it has not fully described and
reflected the status of public relations in Vietnam.
Keywords: Public relations, personal relationships, face, favor, symmetrical model.

1 TS, Trường Đại học Mở TP.HCM.

KINH TẾ

1. GIỚI THIỆU
PR là từ viết tắt của Public Relations,
trước đây được dịch sang tiếng Việt là “Giao
tế” hay “Quan hệ quần chúng” nhưng hiện
nay được dịch là “Quan hệ công chúng”.
Thuật ngữ “Public Relations” được sử
dụng lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1897
(John, 1998). Trong khi nền công nghiệp
PR của thế giới đã phát triển mạnh mẽ từ
rất lâu ở các nước như Mỹ, Anh, Úc và
gần đây là ở các nước Châu Á như Hàn
Quốc, Trung Quốc, thì ở Việt Nam, lĩnh
vực này còn khá mới mẻ, và còn quá ít
nghiên cứu về nó. PR Việt Nam bắt đầu
hình thành sau khi Chính phủ thực hiện
chính sách Đổi mới. Sau 1986, nền kinh
tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước đã cho phép các công ty nước
ngoài vào Việt Nam để kinh doanh và đầu
tư. Đây chính là lý do cho sự xuất hiện của
PR chuyên nghiệp và nền công nghiệp PR
tại Việt Nam.
Bối cảnh Việt Nam và sự hình
thành của PR Việt Nam
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống
giặc ngoại xâm. Trong suốt chiều dài lịch
sử của mình, nhân dân Việt Nam đã chiến
đấu chống kẻ thù đến từ phương Bắc, rồi
đến từ phương Tây. Tuyên truyền, một
hình thức của thông tin truyền thông, đã
được sử dụng rộng rãi trong các thời kỳ
này, nhất là giai đoạn 1945-1975. Theo Bộ
Ngoại giao Việt Nam (2011), nhiều chiến
dịch tuyên truyền lớn được phát động
trong giai đoạn này như chiến dịch quyên
góp tiền bạc phục vụ chiến tranh, kêu gọi
thanh niên lên đường nhập ngũ hay phong
trào “Bình dân học vụ” (xóa mù chữ) được
Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng lần đầu
tiên vào năm 1945, và tiếp tục triển khai
vào những năm 1956-1958 ở Miền Bắc.
Trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam bị
chia cắt thành hai miền: Miền Bắc dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam
và Miền Nam bị sự chiếm đóng của Mỹ.
“Dân vận”, một hình thức khác của thông

39

tin truyền thông, được sử dụng phổ biến
tại Miền Bắc trong giai đoạn này. Mục
đích của “dân vận” là tuyên truyền, kêu
gọi nhân dân ủng hộ các chính sách của
Đảng và Nhà nước, nhằm xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân, tạo nguồn sức mạnh
cho Đảng và cách mạng đạt được thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa khái niệm về
“dân vận” như sau: “Dân vận là vận động
tất cả lực lượng của mỗi người dân, không
để sót một người dân nào, góp thành lực
lượng toàn dân, để thực hành những công
việc nên làm, những công việc chính phủ
và đoàn thể giao cho” (Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2004, trang 9). Ở
Miền Nam, các hoạt động PR được tìm
thấy tại đây hầu hết là các buổi họp báo về
chủ đề chiến tranh (Hallin, 1992). Người
Mỹ có thể đã mang kiến thức PR vào Việt
Nam, tuy nhiên còn rất ít hiểu biết về PR
trong giai đoạn này vì thiếu tài liệu và thiếu
nghiên cứu (Đinh Thị Thúy Hằng, 2008).
Nền kinh tế thị trường đã bắt đầu hình
thành từ sau Đổi Mới. Hai trong những kết
quả gặt hái được là sự thay đổi môi trường
kinh doanh và sự gia tăng đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam. Đổi Mới đã mở cánh
cửa kinh tế của Việt Nam, mời gọi các tập
đoàn nước ngoài vào kinh doanh, và vì
thế nền công nghiệp PR cũng manh nha
hình thành từ thời điểm này. Các công ty
quốc tế như Coca Cola, Unilever, Ogilvy
Public Relations (công ty tư vấn PR có trụ
sở chính đóng tại Mỹ) đã vào Việt Nam và
đã mang lý thuyết và kinh nghiệm PR mà
họ có được từ các thị trường khác vào Việt
Nam. Họ đã tin rằng lý thuyết đó là “quốc
tế” và chắc thích hợp cho thực tiễn PR ở
Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam bị ảnh hưởng bởi
nhiều nền văn hóa như văn hóa Đông Nam
Á, văn hóa Trung Hoa, văn hóa Nhật Bản,
văn hóa Pháp và văn hóa Mỹ, tuy nhiên
bị ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là văn hóa
Trung Hoa (Trần Ngọc Thêm, 2004). Văn
hóa Việt Nam bị ảnh hưởng bởi Khổng
giáo (Confucianism), vì thế các đặc trưng
như “quan hệ”, “thể diện” (face) và “quà

40

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM - SỐ 3 (36) 2014

cáp” (favor), vốn là các đặc điểm của văn
hóa Khổng Tử, đã thể hiện rõ nét trong nền
văn hóa Việt Nam. Gia đình truyền thống
của người Việt bao gồm nhiều thế hệ sống
quay quần với nhau trong làng xã. Vì thế,
văn hóa làng xã và các mối quan hệ giữa
những người trong cùng làng, cùng xã
luôn quan trọng hơn các mối quan hệ khác.
Quan hệ cá nhân hay mối quan hệ của một
nhóm người là một trong những đặc điểm
quan trọng cần thấu hiểu của văn hóa Việt
Nam. Đặc điểm này ảnh hưởng sâu sắc
đến thực tiễn PR Việt Nam và cũng như
đến thực tiễn kinh doanh tại Việt Nam.
Sau Đổi Mới, môn học đầu tiên về
PR đã được giảng dạy tại Trường Đại học
Mở Bán Công Thành phố Hồ Chí Minh
vào năm 1993 (Huỳnh Văn Tòng, 1994).
Giáo trình cho môn học này có tên là “Giao
tế nhân sự trong kinh doanh” của tác giả
Huỳnh Văn Tòng được xuất bản vào năm
1994 (Huỳnh Văn Tòng, 1994). Giữa năm
2004-2005, hai cuốn sách nước ngoài đầu
tiên về PR được dịch sang tiếng Việt là
“Quan hệ công chúng căn bản” của tác giả
Frank Jefkins and “Quảng cáo thoái vị và
PR lên ngôi” của tác giả Al Ries and Laura
Ries. Cuối năm 2006, một trong những hội
thảo khoa học đầu tiên về PR được tổ chức
tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Hà
Nội với tên gọi “Đào tạo cử nhân ngành
Quan hệ công chúng – những cơ hội và
thách thức” (Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, 2007). Hầu hết các diễn giả, bao
gồm giảng viên và chuyên viên PR tại
hội thảo này đều cho rằng PR Việt Nam
còn non trẻ; nhiều nhân viên làm công tác
PR còn nhầm lẫn PR với Marketing và
Quảng cáo, thậm chí nghĩ rằng PR chỉ là
công việc tổ chức sự kiện hay thiết lập mối
quan hệ với nhà báo. Lý do chính cho việc
hiểu sai này là Việt Nam chưa có trường
đại học đào tạo chuyên về PR. Thực tiễn
PR Việt Nam đang cần lý thuyết để định
hướng và dẫn đường. Như một kết quả,
sau hội thảo, chương trình đào tạo “Cử
nhân Quan hệ công chúng” được thiết kế
và đưa vào triển khai tại Học viện này.

Cuối năm 2010, chương trình Cử nhân
Truyền thông được giới thiệu tại Đại học
RMIT Việt Nam (RMIT Vietnam, 2011).
Tính đến thời điểm này, tháng 4 năm 2014,
bằng phương pháp thống kê, tác giả bài
báo này nhận thấy rằng chỉ có 6 trong 412
trường đại học và cao đẳng tại Việt Nam
cung cấp chương trình Cử nhân Quan hệ
công chúng. Theo nghiên cứu của Vân
Thị Hồng Loan (2013), lý do cho việc ít ỏi
này là Việt Nam thiếu hụt giảng viên được
đào tạo hàn lâm và có nghiên cứu về PR.
Nghiên cứu về PR Việt Nam vẫn còn đang
trong giai đoạn sơ khai: chỉ có vài nghiên
cứu được tiến hành khảo sát thực tiễn
PR Việt Nam như McKinney (2007) và
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010), nhưng
những nghiên cứu này vẫn chưa phân tích
thấu đáo sự khác biệt giữa lý thuyết PR và
thực tiễn PR Việt Nam.
Hiện trạng của nền công nghiệp
PR và vấn đề cần nghiên cứu
PUBCOM và Max Communications
là hai trong số các công ty trong nước
đầu tiên cung cấp dịch vụ tư vấn PR được
thành lập giữa thập kỷ 90 (McKinney,
2000). Bốn công ty PR quốc tế đầu tiên
đặt văn phòng tại Việt Nam là John Baily
& Associates (Australia), Ogilvy Public
Relations (thuộc công ty Ogilvy & Mather
chuyên về quảng cáo, marketing và PR, văn
phòng chính đóng tại Mỹ), Leo Activation
(thuộc tập đoàn Leo Burnett, Mỹ), and
JWT Vietnam (thuộc tập đoàn J. Walter
Thompson, Mỹ) (Vân Thị Hồng Loan,
2011). Khách hàng của các công ty quốc
tế này phần lớn là các tập đoàn kinh doanh
quốc tế tại Việt Nam như Nestlé and Dutch
Lady (doanh nghiệp về các sản phẩm sữa).
Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, các
tập đoàn kinh doanh này đã từ bỏ các công
ty PR quốc tế và chuyển sang các công ty
tư vấn PR trong nước vì chi phí dịch vụ
thấp và sự dễ dàng trong các thỏa thuận
kinh doanh. Một vài công ty PR quốc tế
phải chia tay thị trường Việt Nam như
John Baily & Associates (Australia) vì đã
thất bại trong việc cạnh tranh với các công

KINH TẾ

ty PR nội địa, có thể do họ chưa hiểu về
thị trường và văn hóa làm ăn tại Việt Nam.
Cộng tác với công ty nội địa có lẽ là giải
pháp tốt cho công ty PR quốc tế. Một trong
các công ty PR liên doanh đầu tiên tại Việt
Nam được thành lập vào năm 2009 là
T&A Ogilvy, kết quả của sự kết hợp giữa
công ty trong nước T&A Communications
và công ty nước ngoài Ogilvy & Mather
(WPP, 2009). Sự liên doanh gần đây nhất
vào năm 2012 là giữa công ty PR quốc tế
Edelman có văn phòng chính đặt tại Mỹ và
công ty tư vấn nội địa AVC.
Số lượng các công ty tư vấn PR tăng
lên rõ rệt trong những năm gần đây, đặc
biệt khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) năm 2007.
So với 11 công ty PR được thành lập vào
năm 2006 (McKinney, 2006) thì số lượng
các công ty cung cấp dịch vụ tư vấn PR
đã lên con số 300 vào năm 2008—số liệu
này được cung cấp bởi ông Nguyễn Thanh
Sơn, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực
PR tại Việt Nam và hiện đang là tổng giám
đốc công ty liên doanh T&A Ogilvy, khi
tác giả bài báo này phỏng vấn ông tại văn
phòng công ty. Do Việt Nam chưa có hiệp
hội PR (để quản lý các hoạt động PR), nên
số liệu mà ông Sơn cung cấp này chỉ mang
tính tham khảo. Theo số liệu của Tổng cục
thống kê Việt Nam (2011), đầu tư nước
ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2008, một
năm sau khi gia nhập WTO, tăng gấp 6 lần
so với năm 2006, lên đến 71 triệu đô la Mỹ.
Phần lớn các hoạt động PR tại Việt Nam
diễn ra ở các công ty nước ngoài (Stanton,
2009), do vậy con số tăng vọt về các công
ty PR thành lập năm 2008 (do ông Sơn
cung cấp) cho thấy nhu cầu của thị trường
về PR là có thật. Theo dữ liệu nghiên cứu
của công ty FTA Market Research (2010),
trong số 20 công ty PR được đánh giá là tốt
nhất hiện thời vì cung cấp các dịch vụ PR
có chất lượng, có đến 19 công ty là công ty
nội địa. Các công ty tư vấn PR nước ngoài
đặt văn phòng tại Việt Nam phần lớn đến
từ các nước như Mỹ và Australia (Vân Thị
Hồng Loan, 2011). Kết quả nghiên cứu

41

của FTA (2010) cho thấy rằng công ty PR
nội địa cung cấp dịch vụ PR phù hợp với
nhu cầu của thị trường hơn là các công ty
PR quốc tế tại Việt Nam. Kiến thức PR mà
các công ty quốc tế đã mang vào Việt Nam
có lẽ chưa phù hợp với đặc điểm của thị
trường này.
Như một kết quả, tác giả thiết lập
nghiên cứu này sau khi nhận thấy các
hiện tượng trên: sự đóng cửa hay phải
liên doanh của vài công ty PR nước ngoài
sau một thời gian dài đặt văn phòng kinh
doanh tại Việt Nam, và các công ty PR nội
địa hầu như chiếm toàn bộ thị phần PR
trong nước (FTA, 2010). Tác giả đặt câu
hỏi nghiên cứu rằng tại sao các công ty PR
nước ngoài, ví dụ như Mỹ và Australia,
vốn thành công ở các thị trường khác,
lại gặp khó khăn khi kinh doanh tại Việt
Nam? Nói một cách khác, tại sao lý thuyết
và phương pháp PR mà họ mang từ nước
họ lại không hiệu quả khi áp dụng vào bối
cảnh văn hóa Việt Nam? Tác giả muốn tìm
hiểu xem PR Việt Nam có bị tác động bởi
các yếu tố thuộc về văn hóa hay không, và
đó là các yếu tố nào?
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Lý do chọn nghiên cứu định tính
Nghiên cứu khảo sát thực tiễn PR
và các ảnh hưởng tác động lên nó đều có
thể sử dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng hay nghiên cứu định tính. Tuy nhiên,
những nghiên cứu định lượng trước đây về
vấn đề này cho thấy rằng nghiên cứu định
lượng rất hạn chế trong việc tìm ra các yếu
tố thuộc về văn hóa, vốn rất nhạy cảm, tác
động lên PR (Sriramesh, 2009; Stack &
Watson, 2007). Một số nghiên cứu về PR
Việt Nam trước đây như McKinney (2007)
và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010) đã sử
dụng phương pháp định lượng để nghiên
cứu PR Việt Nam đã không phát hiện ra
các yếu tố nhạy cảm, ví dụ như “thể diện”
tác động lên PR. Thêm vào đó, để có kết
quả nghiên cứu chính xác, phương pháp
định lượng phải sử dụng số lượng mẫu

42

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM - SỐ 3 (36) 2014

khảo sát lớn, tuy nhiên điều này khó khả
thi ở Việt Nam vì PR Việt Nam còn non
trẻ, và không có nhiều các chuyên viên PR
thực sự trong thực tiễn (McKinney, 2007;
Vân Thị Hồng Loan, 2013). Phần lớn các
chuyên viên PR hiện nay chưa được đào
tạo một cách bài bản, họ đến từ các lĩnh
vực khác như Marketing và quảng cáo nên
họ chưa hiểu nhiều về PR, thậm chí còn
hiểu nhầm PR là Marketing hay quảng cáo
(Vân Thị Hồng Loan, 2014). Nghiên cứu
định tính là tối ưu cho nghiên cứu về PR
Việt Nam trong giai đoạn non trẻ này, khi
còn quá ít nghiên cứu và hiểu biết về nó.
Phương pháp định tính cho phép nghiên
cứu này mô tả và khám phá cái gì đang thật
sự diễn ra trong thực tiễn PR (Wimmer &
Dominick, 2000). Phương pháp này cho
phép tìm câu trả lời làm thế nào mà chuyên
viên PR, đối tượng nghiên cứu, xử lý các
công việc và vấn đề PR hằng ngày của họ
trong sự tác động của môi trường văn hóa
xung quanh. Phương pháp định tính thích
hợp hơn khi nghiên cứu này muốn tìm hiểu
mối quan hệ phức tạp giữa chuyên viên PR
và nhà báo: mối quan hệ này theo mô hình
giao tiếp nào và có hay không sự cộng tác
của họ đã tác động lên lịch trình báo chí
(media agendas).
Thiết kế nghiên cứu
Tác giả chọn phỏng vấn 29 chuyên
viên PR bao gồm chuyên viên tư vấn PR
và chuyên viên PR nội bộ. Chuyên viên
tư vấn PR được chọn từ 4 công ty tư vấn
PR trong nước, 1 công ty PR liên doanh,
và 3 công ty tư vấn PR nước ngoài có
văn phòng đặt tại Việt Nam. Bốn công ty
PR trong nước được chọn từ danh sách
của FTA (2010)—khảo sát xếp loại công
ty PR được yêu thích nhất tại Việt Nam
trong năm 2010. Trong danh sách của FTA
(2010) có một công ty PR liên doanh cũng
được tác giả chọn để nghiên cứu. Chuyên
viên PR nội bộ thì được chọn từ 7 doanh
nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước
ngoài tại Việt Nam. Các công ty và doanh
nghiệp được chọn trong nghiên cứu này
đều có văn phòng kinh doanh tại Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong số 29 chuyên viên PR có 3
chuyên gia PR đến từ Mỹ, Australia và
Philippines. Thị trường PR Việt Nam còn
non trẻ nên vẫn chưa có nhiều các công ty
PR nước ngoài được thành lập và chuyên
viên PR người nước ngoài làm việc tại Việt
Nam (McKinney, 2007; Vân Thị Hồng
Loan, 2013). Tại mỗi công ty PR, hai đến
ba chuyên viên tư vấn được chọn để phỏng
vấn sâu. Nghiên cứu này đã phỏng vấn 8
tổng giám đốc công ty PR, gồm cả 3 người
nước ngoài, những người có kinh nghiệm
lâu năm trong lĩnh vực PR, am hiểu thị
trường PR trong nước và quốc tế. Ba
chuyên gia người nước ngoài này có kinh
nghiệm nhiều năm về PR tại thị trường Mỹ,
Australia, Thái Lan, Singapore, Malaysia
và Việt Nam. PR Việt Nam chỉ mới thành
lập khoảng 20 năm, do vậy những người
được chọn cho nghiên cứu này có kinh
nghiệm làm việc từ 5 năm trở lên. Tuy
nhiên, điều nổi bật của nghiên cứu này là
hơn một nữa danh sách người được chọn
phỏng vấn làm việc tại thị trường PR Việt
Nam từ những ngày đầu tiên, từ giữa thập
kỷ 90, nghĩa là họ đã làm việc, thậm chí
là thành lập công ty tư vấn PR từ khi nền
công nghiệp PR Việt Nam manh nha hình
thành. Dữ liệu nghiên cứu được cung cấp
từ những chuyên gia này rất quan trọng và
có giá trị vì nó cho thấy bức tranh thật sự
của thực tiễn PR Việt Nam, vấn đề mà các
nghiên cứu trước đây chưa phản ánh đầy
đủ.
Câu hỏi nghiên cứu được thiết kế
sau khi tìm hiểu tài liệu và các nghiên cứu
trước đây bao gồm tài liệu trong và ngoài
nước về vấn đề PR trong thực tiễn, và ảnh
hưởng của các yếu tố văn hóa lên PR. Tuy
vậy, các câu hỏi được thiết kế theo dạng
mở (semi-structured interviews), nghĩa là
cho phép người được phỏng vấn mở rộng
câu trả lời theo thực tiễn kinh nghiệm làm
việc của họ hơn là theo sự định dạng sẵn
của người thiết kế nghiên cứu (Lindlof &
Taylor, 2002). Điều này cho phép tác giả
tìm các vấn đề trong thực tiễn nhưng chưa

Tài liệu cùng danh mục PR - Truyền thông

Tầm quan trọng của PR trong thời suy thoái kinh tế

Trong tình trạng suy thoái kinh tế, các tập đoàn của Mỹ đang đồng loạt cắt giảm ngân sách đối với các hoạt động marketing và truyền thông.


Đảm bảo thành công khi ứng dụng CRM - (Phần 2)

– Bài viết tuần trước đã đưa ra ba lời khuyên của các chuyên gia, dựa trên những sai lầm phổ biến nhất của các doanh nghiệp đi trước khi bắt tay vào ứng dụng CRM: lãnh đạo không tham gia trực tiếp vào quá trình ứng dụng, các bộ phận không được điều chỉnh phù hợp, coi công nghệ là yếu tố tiên quyết.


PUBLIC REALATION

Hầu hết các cuộc gặp bắt đầu bằng những cái bắt tay thân thiện và kết thúc trong sự hiểu biết. Đó chính là hình ảnh về các nhân viên quan hệ công chúng (Public Relation - PR).


Tính hiệu quả của quảng cáo video trựctuyến?

Khoảng gần 2/3 chuyên gia quảng cáo (64%) cho biết họ đang chuyển ngân sách quảng cáo truyền hình sang quảng cáo video trực tuyến; 86% cho biết họ sẽ chuyển ít nhất một phần ngân sách quảng cáo truyền hình sang quảng cáo video trực tuyến. Ngân sách dành cho video trực tuyến cũng được chuyển từ quảng cáo tìm kiếm (28%), mạng xã hội(27%) và quảng cáo có .hồi đáp (26%). Dưới đây là một số kết quả trích từ báo cáo Quảng cáo Video Trực tuyến thường niên lần thứ 3*. .Cứ 3 trong 10 chuyên gia quảng cáo (28%) cho rằng ngân sách quảng cáo...


Các chiêu PR mới trong điện ảnh

TTCT - Làm thế nào để bán được vé? Đó luôn là câu hỏi số 1 của giới sản xuất bỏ vốn đầu tư một sản phẩm điện ảnh. Quảng cáo ầm ĩ ư? Dán poster đầy phố? Chiếu trailer (trích đoạn ngắn) lên mạng? Đã xuất hiện nhiều cách tiếp thị điện ảnh chuyên nghiệp khác hiệu quả hơn... Công nghiệp PR (quan hệ công chúng) đang thâm nhập mạnh vào công nghiệp tiếp thị điện ảnh chuyên nghiệp, đẩy vai trò quảng cáo xuống vị trí thứ hai......


Lecture Management information systems - Chater 3: Computer hardware

The learning objectives for chapter 3 include: Understand the history and evolution of computer hardware; identify the major types and uses of microcomputer, midrange, and mainframe computer systems; outline the major technologies and uses of computer peripherals for input, output, and storage;...


Mười lỗi PR lớn nhất

Mục đích của việc quan hệ công chúng PR là miêu tả sinh động công việc kinh doanh của công ty theo một hình thức và phong cách tốt nhất. Không giống như quảng cáo, PR không trả tiền cho các phương tiện thông tin đại chúng để giữ chỗ đăng quảng cáo.


Ebook Quan hệ công chúng: Biến công chúng thành

Cuốn Quan hệ công chúng: Biến công chúng thành "Fan" của doanh nghiệp được biên soạn dành cho các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ với mục đích trang bị những công cụ và kiến thức về định nghĩa, lợi ích, chương trình, hoạt động, kết hoạch và hiệu quả thực hiện.


Bài giảng Quản trị PR: Chương 4 - Đại học Thương mại

Bài giảng "Quản trị PR - Chương 4: Triển khai chương trình truyền thông PR" cung cấp cho người học các kiến thức: Quá trình truyền thông PR, các công cụ truyền thông PR, văn phong trong PR. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Advertising and PR campaign of Mobifone

Công ty VMS (VietNam Mobi telecom Service ) được thành lập năm 1993, là sự kết hợp giữa tập đoàn VNPT và tập đoàn Convik ( Thụy Điển )....


Tài liệu mới download

Biomaterials in Orthopedics
  • 29/01/2013
  • 11.039
  • 190
Bolt-tightening Handbook
  • 18/07/2012
  • 30.629
  • 265

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Thế nào là PR thật sự?
  • 09/01/2013
  • 71.548
  • 936

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu