Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

Bài viết Pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam trình bày: Pháp luật đó có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ cạnh tranh, bảo đảm trật tự thị trường, bảo vệ quyền cạnh tranh tự do bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,... Mời các bạn cùng tham khảo



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Pháp luật về kiểm soát
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
Nguyễn Thị Trâm1
1

Học viện Chính trị Khu vực II.
Email: tramnt@hcma2.edu.vn
Nhận ngày 22 tháng 7 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 11 năm 2017.

Tóm tắt: Ở Việt Nam, pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ra đời cùng Luật Cạnh
tranh năm 2004. Pháp luật đó có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ cạnh tranh, bảo đảm trật tự thị
trường, bảo vệ quyền cạnh tranh tự do bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh cũng còn những hạn chế, gây ảnh hưởng đến quá trình thực hiện kiểm soát thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, đó là: các quy định về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
(TTHCCT) vẫn chưa đầy đủ; quy định về cấm TTHCCT còn nhiều hạn chế; quy định về xử lý vi
phạm pháp luật chưa phân định rõ hình thức xử lý; quy định về miễn trừ thiếu tính bao quát.
Từ khóa: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Luật Cạnh tranh 2004, pháp luật.
Phân loại ngành: Luật học
Abstract: In Vietnam, the law to control competition restriction agreement was started with the
Competition Law in 2004. The law has had positive effects in protecting competition, ensuring the
market order, protecting the right to freedom and equality in competition and the legitimate rights
and interests of business entities, as well as protecting consumers' interests. However, the law
controlling the competition restriction agreement does have limitations, which affect the process of
controlling such agreement in Vietnam. The limitations include the incomplete regulation on the
behaviours of such agreement, the inadequacies in the stipulations on the ban against the
agreement, with the regulation on handling breaches remaining unclear, and regulation on
exemptions not sufficiently covering.
Keywords: Competition restriction agreement, the 2004 Competition Law, law.
Subject classification: Jurisprudence

43

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

1. Đặt vấn đề
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT là hệ
thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh trong việc
kiểm soát các thỏa thuận làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường.
Luật Cạnh tranh được coi là “hiến pháp”
của nền kinh tế thị trường. Cùng với pháp
luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường và kiểm soát tập
trung kinh tế, pháp luật về TTHCCT là
một trong ba trụ cột của pháp luật về kiểm
soát hành vi hạn chế cạnh tranh. Ở Việt
Nam, Luật Cạnh tranh 2004 là văn bản luật
đầu tiên quy định một cách khá đầy đủ về
kiểm soát TTHCCT. Bài viết làm rõ quá
trình ra đời, phát triển cũng như các hiệu
quả mà pháp luật về kiểm soát TTHCCT
mang lại, đồng thời chỉ ra những hạn chế,
bất cập của pháp luật gây ảnh hưởng đến
quá trình thực thi kiểm soát TTHCCT.

2. Quy định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT ở Việt Nam
Trong lĩnh vực pháp luật kinh tế, pháp luật
cạnh tranh ở Việt Nam ra đời khá muộn.
Văn bản luật đầu tiên trực tiếp ghi nhận và
bảo vệ quyền tự do cạnh tranh là Luật
Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, Luật
Thương mại 1997 chỉ điều chỉnh các hành
vi được pháp luật coi là các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh (như bán phá giá,
đầu cơ, gièm pha thương nhân khác...). Luật
Các tổ chức tín dụng 1997 cũng ghi nhận
“Các tổ chức hoạt động ngân hàng được
hợp tác và cạnh tranh hợp pháp” tại Điều 16
nhưng tương tự như Luật Thương mại
1997. Các hành vi luật nghiêm cấm cũng là
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Vào thời điểm này, những quy định về kiểm
44

soát hành vi hạn chế cạnh tranh vẫn còn
hoàn toàn xa lạ với pháp luật Việt Nam.
Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH
có thể được xem là văn bản quy phạm pháp
luật đầu tiên quy định về kiểm soát
TTHCCT khi cấm các tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh “Cấu kết với tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh khác để liên kết
độc quyền về giá, gây thiệt hại đến lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi
ích của Nhà nước” (Điều 28, Khoản 1). Đây
là các hành vi thỏa thuận ấn định giá sau
này đã được Luật Cạnh tranh 2004 điều
chỉnh. Tuy nhiên, quy định trong Pháp lệnh
Giá chỉ là một điều khoản nhỏ nên chưa đủ
hình thành chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT.
Xuất phát từ những yêu cầu khách quan
của đời sống kinh tế xã hội, cũng là từ yêu
cầu hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế thị
trường nhằm gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), đến năm 2003, Chính phủ
chính thức giao Bộ Thương mại chủ trì xây
dựng Dự thảo Luật Cạnh tranh và ngày
03/12/2004, Quốc hội khóa XI đã thông qua
Luật Cạnh tranh 2004. Đây là văn bản luật
chính thức và đầy đủ nhất về pháp luật cạnh
tranh, gồm cả luật nội dung và luật hình
thức, điều chỉnh hành vi cạnh tranh không
lành mạnh và hạn chế cạnh tranh. Với sự ra
đời của Luật Cạnh tranh 2004, pháp luật về
kiểm soát TTHCCT được hình thành tương
đối đầy đủ, có vị trí luật chung; các văn bản
luật khác (như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật
Đấu thầu, Luật Giá, Luật Chứng khoán…)
có quy định về kiểm soát TTHCCT trong
các lĩnh vực cụ thể là luật chuyên ngành.
Năm 2015, với tinh thần cần phải quy
định tội phạm đối với những hành vi nguy
hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học,
công nghệ và hội nhập quốc tế, Bộ luật
Hình sự (sửa đổi) đã bổ sung một điều luật

Nguyễn Thị Trâm

mới “Tội vi phạm các quy định về cạnh
tranh” với mức phạt tiền có thể lên tới 3 tỷ
đồng, mức phạt tù có thể lên tới 05 năm,
cùng với các hình phạt bổ sung. Khi Bộ luật
Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành vào ngày
01/01/2018, lần đầu tiên Việt Nam sẽ áp
dụng biện pháp hình sự với các TTHCCT vi
phạm pháp luật nhằm tăng hiệu quả kiểm
soát TTHCCT.
Bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam
thời gian qua (đặc biệt khi Việt Nam hội
nhập sâu, rộng hơn với nền kinh tế thế giới)
đã có nhiều thay đổi. Tình hình đó đã tác
động đến một số nội dung của Luật Cạnh
tranh và làm cho nó không còn phù hợp
nữa. Do vậy, Quốc hội khóa XIV đã quyết
định sửa đổi Luật Cạnh tranh 2004, với
nhiều nội dung liên quan đến kiểm soát
TTHCCT. Văn bản luật dự thảo dự kiến sẽ
được thông qua vào tháng 5 năm 2018.
Trong tương lai gần, pháp luật về kiểm soát
TTHCCT sẽ tiếp tục có những bước phát
triển mới.

3. Những thành tựu của pháp luật về
kiểm soát TTHCCT của Việt Nam
Thứ nhất, sự hình thành chế định pháp luật
về kiểm soát TTHCCT đánh dấu lần đầu
tiên Việt Nam có được một chế định pháp
luật tương đối toàn diện gồm cả luật nội
dung và luật hình thức về kiểm soát
TTHCCT. Vị thế pháp lý của Việt Nam
trong lĩnh vực này là khá cao so với các
nước trong khu vực ASEAN; chỉ đứng sau
Thái Lan, Indonesia và ngang với
Singapore. Chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT của Việt Nam đã thể hiện được
tinh thần bảo vệ cạnh tranh tự do, lành
mạnh; về cơ bản tương đồng với pháp luật
cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới;
đáp ứng phần nào yêu cầu hội nhập quốc tế
của Việt Nam.

Thứ hai, chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT của Việt Nam được xây dựng
hợp lý, lôgíc theo cấu trúc quy định hành
vi/cấm/miễn trừ. Các quy định về TTHCCT
(bao gồm các hành vi TTHCCT bị cấm và
các quy định về miễn trừ đối với TTHCCT)
được thiết kế tại Luật Cạnh tranh 2004
thành ba điều khoản (Điều 8, Điều 9 và
Điều 10) nối tiếp nhau. Quy định về xử lý
vi phạm và quy định về trình tự, thủ tục
điều tra và xử lý vụ việc TTHCCT được
thiết kế ở chương V (Điều tra, xử lý vụ việc
cạnh tranh). Đây là một cấu trúc hợp lý,
chặt chẽ, tạo điều kiện tiếp cận nội dung
của chế định một cách dễ dàng.
Thứ ba, chế định pháp luật về kiểm soát
TTHCCT Việt Nam đã điều chỉnh tương
đối đầy đủ các quan hệ phát sinh từ hành
vi TTHCCT. Chế định pháp luật đó xác
định được các hành vi TTHCCT và bản
chất của TTHCCT. Khoản 3, Điều 3 Luật
Cạnh tranh 2004; đã giải thích rõ ràng rằng
“hành vi hạn chế cạnh tranh” là hành vi
của doanh nghiệp “làm giảm, làm sai lệch,
cản trở cạnh tranh trên thị trường”. Luật
Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn
thi hành cũng đã định hình về một loại
hành vi mới mà trước đó chưa từng được
điều chỉnh, về cơ bản đã xác định được
những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần
kiểm soát trên thị trường2. Chế định pháp
luật đó đã xây dựng được “khung pháp lý”
cơ bản về kiểm soát TTHCCT. Khung đó
bao gồm: các quy định kiểm soát TTHCCT
(theo hai nhóm: nhóm bị cấm tuyệt đối và
nhóm bị cấm có điều kiện); các quy định
về xử lý vi phạm rất đa dạng (với các biện
pháp xử lý như cảnh cáo, phạt tiền, phạt bổ
sung, cùng các biện pháp khắc phục hậu
quả với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng);
các quy định về miễn trừ đối với TTHCCT
vi phạm pháp luật. Có thể thấy, khung
pháp lý này bước đầu đáp ứng yêu cầu
kiểm soát TTHCCT. Trên thực tế, cơ quan
45

Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 - 2018

quản lý cạnh tranh cũng đã áp dụng chế
định pháp lý trên để xử lý vụ việc thỏa
thuận ấn định giá của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010 và vụ
việc thỏa thuận ấn định mức phí bảo hiểm
học sinh tại Khánh Hòa vào năm 2013.
Thứ tư, Luật Cạnh tranh 2004 và các văn
bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp
lý để xây dựng và tổ chức hoạt động đối với
Hội đồng cạnh tranh và Cục Quản lý cạnh
tranh (các cơ quan thực hiện pháp luật về
kiểm soát TTHCCT). Trên thực tế, hoạt
động của các cơ quan này đã đạt được
những thành tích đáng ghi nhận.

4. Những hạn chế của pháp luật về kiểm
soát TTHCCT của Việt Nam
Trong hơn mười năm thực thi, pháp luật về
kiểm soát TTHCCT đã đạt được nhiều
thành quả, nhưng nó đã và đang bộc lộ
những hạn chế nhất định.
Một là, các quy định về hành vi
TTHCCT hiện nay vẫn chưa đầy đủ, chưa
làm rõ chủ thể tham gia TTHCCT và chưa
bao quát hết các dạng thức TTHCCT trong
thực tiễn.
Xác định một TTHCCT cần phải có ít
nhất hai yếu tố; đó là “thỏa thuận”. và
“hạn chế cạnh tranh”. Pháp luật hiện hành
đã làm rõ về “hạn chế cạnh tranh” tại
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004,
nhưng đã bỏ sót yếu tố “thỏa thuận”. Pháp
luật cần làm rõ rằng một TTHCCT có hay
không có sự thống nhất ý chí giữa các bên,
cùng các phương thức thể hiện sự thống
nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa
thuận đó (chẳng hạn là cam kết, thống nhất
cùng hành động, hay là những cử chỉ ngụ ý
thể hiện dưới bất kể hình thức nào). Mặc
dù pháp luật Việt Nam cũng như nhiều
quốc gia khác cấm bất kỳ hình thức thông
đồng làm sai lệch cạnh tranh, “nhưng (nó)
46

không làm mất đi quyền của các chủ thể
kinh doanh được thích nghi với một cách
thông minh với các hành vi hiện tại và
tương lai của đối thủ cạnh tranh của họ”3.
Trường hợp doanh nghiệp có các “hành vi
tương đồng”, “hành vi song song” nhằm
thích nghi với hành vi cạnh tranh của đối
thủ, nhưng không có sự thống nhất ý chí
giữa các bên, thì trường hợp đó không thể
có TTHCCT. Do đó, xác định có hay
không sự thống nhất giữa các đối thủ kinh
doanh là vấn đề rất quan trọng mà pháp
luật về kiểm soát TTHCCT của Việt Nam
cần lưu ý.
Quy định về hành vi TTHCCT hiện nay
cũng chưa làm rõ chủ thể tham gia
TTHCCT. Kinh tế học đã xác định chủ thể
tham gia TTHCCT là các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường, TTHCCT là trò chơi của
các doanh nghiệp trong thị trường độc
quyền nhóm hợp tác với nhau để có đủ sức
mạnh chi phối thị trường [4, tr.48]. Luật
Cạnh tranh 2004 quy định về đối tượng áp
dụng là các doanh nghiệp và hiệp hội ngành
nghề hoạt động ở Việt Nam. Như vậy, luật
vẫn thiếu sự rõ ràng về thuộc tính chủ thể
TTHCCT là “các đối thủ cạnh tranh”.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành với
quy định cụ thể 8 dạng TTHCCT đã làm
thu hẹp phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
Cách xây dựng quy định về hành vi
TTHCCT vừa cứng nhắc, vừa hẹp của pháp
luật Việt Nam hoàn toàn không theo kịp
thực tiễn, bỏ sót những TTHCCT, gây tác
dụng tiêu cực, gây khó khăn cho cơ quan
thực thi pháp luật. Hướng hoàn thiện là cần
quy định các “tiêu chí” để xác định
TTHCCT chứ không quy định liệt kê hành
vi cụ thể.
Hai là, các quy định về cấm TTHCCT
còn nhiều hạn chế; quy định coi nhóm
TTHCCT bị cấm có điều kiện sử dụng thị
phần là cơ sở duy nhất để xác định điều
kiện cấm là quy định chưa hợp lý; quy định

Nguyễn Thị Trâm

về nhóm TTHCCT bị cấm tuyệt đối bất cập
và không tương thích với pháp luật nhiều
quốc gia trên thế giới.
Những TTHCCT bị cấm tuyệt đối
(những thỏa thuận mang bản chất hạn chế
cạnh tranh “mà không phải có thêm sự bổ
sung nào khác”) thường áp dụng với các
TTHCCT nghiêm trọng như thỏa thuận ấn
định giá hàng hóa một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm
soát sản lượng, thỏa thuận phân chia thị
trường, khu vực, khách hàng và thông đồng
đấu thầu [2, tr.13]. Trong các TTHCCT
thuộc nhóm bị cấm tuyệt đối của pháp luật
Việt Nam không có thỏa thuận ấn định giá,
thỏa thuận hạn chế sản lượng hoặc hạn
ngạch, thỏa thuận phân chia thị trường.
Trong điều kiện riêng của nền kinh tế thị
trường Việt Nam, những thỏa thuận ngăn
cản, kìm hãm, loại bỏ mang lại tác hại
nghiêm trọng, nên cần được cấm tuyệt đối.
Nhưng cũng cần xem xét đánh giá những
TTHCCT thuộc nhóm nghiêm trọng. Kinh
tế học coi thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh
tranh về giá là một trong những TTHCCT
nghiêm trọng. “Sở dĩ như vậy vì giá cả là
một trong những yếu tố cơ bản của thị
trường” [4, tr.55], thỏa thuận ấn định giá
luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh,
ngoài gây tác hại nghiêm trọng cho nền
kinh tế còn tác hại lớn đến người tiêu dùng.
Chế định pháp luật về kiểm soát TTHCCT
của Việt Nam không cấm tuyệt đối những
TTHCCT này; điều đó sẽ làm pháp luật
Việt Nam thiếu tương đồng với thế giới,
gây bất cập trong thực thi đối với những
thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận hạn chế
sản lượng hoặc hạn ngạch, thỏa thuận phân
chia thị trường xuyên biên giới đang rất phổ
biến hiện nay.
Đối với nhóm bị cấm có điều kiện, pháp
luật Việt Nam quy định rằng điều kiện duy
nhất là mức thị phần kết hợp trên thị trường
liên quan từ 30% trở lên của nhóm doanh

nghiệp tham gia thỏa thuận. Đây là một
điểm đặc biệt của pháp luật cạnh tranh Việt
Nam. Để xác định sức mạnh thị trường của
một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh
nghiệp, cơ quan cạnh tranh thường phải tiến
hành những nghiên cứu toàn diện và phức
tạp dựa trên việc phân tích rất nhiều yếu tố
như cấu trúc thị trường, thị phần, tỷ lệ tập
trung, rào cản gia nhập thị trường, rào cản
mở rộng thị trường... Mức thị phần kết hợp
trên thị trường liên quan chỉ là một trong
những yếu tố phản ánh sức mạnh chi phối
thị trường của nhóm doanh nghiệp tham gia
thỏa thuận, không đánh giá hoàn toàn được
khả năng gây hạn chế cạnh tranh. Bên cạnh
đó, trong nền kinh tế, mỗi ngành lại có đặc
điểm thị trường riêng, có thể có những thị
trường mà ngưỡng thị phần kết hợp tới 30%
vẫn chưa đủ tạo hệ quả tác động đến thị
trường. Do đó pháp luật kiểm soát
TTHCCT Việt Nam sử dụng thị phần là cơ
sở duy nhất để cấm TTHCCT là bất cập.
Quy định chung về một ngưỡng thị phần
kết hợp 30% cho tất cả các thị trường, các
ngành nghề, lĩnh vực cũng là bất cập. Việt
Nam nên có hướng tiếp cận thỏa đáng hơn,
đi vào bản chất của TTHCCT, đó là cân
nhắc giữa hậu quả hạn chế cạnh tranh với
tác dụng thúc đẩy cạnh tranh để xác định
điều kiện cấm, hơn là hướng tiếp cận nặng
về hình thức như hiện nay.
Ba là, các quy định về xử lý vi phạm
pháp luật chưa phân định rõ hình thức xử lý
đối với từng nhóm TTHCCT bị cấm; căn cứ
để xác định mức phạt chưa chính xác; những
quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
chưa đầy đủ.
Pháp luật về kiểm soát TTHCCT của
Việt Nam dù quy định có hai nhóm (bị
cấm tuyệt đối và bị cấm có điều kiện),
nhưng lại chỉ quy định một hình thức xử lý
(nếu vi phạm).
Hình phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền,
trong đó phạt tiền được xác định theo mức
47

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Định nghĩa luật môi trường

2. ĐỊNH NGHĨA LUẬT MT LUẬT MT LÀ MỘT LĨNH VỰC PHÁP LUẬT GỒM TỔNG HỢP CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI PHÁT SINH TRỰC TIẾP TRONG HỌAT ĐỘNG KHAI THÁC, QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ CÁC YẾU TỐ MT. 3. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT MT LÀ NHỮNG HỆ XÃ HỘI PHÁT SINH TRỰC TIẾP TRONG HỌAT ĐỘNG KHAI THÁC, QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ CÁC YẾU TỐ MT.


Kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế

Để thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong các vụ việc tranh chấp thừa kế, Luật sư cần chú ý một số đặc thù riêng biệt trong tranh chấp thừa kế. 1. Đặc điểm về các vụ việc về tranh chấp thừa kế: Đặc điểm thứ nhất: Đây là quan hệ tranh chấp liên quan đến những người thân thích, ruột thịt trong gia đình, dòng tộc.


Bài giảng Luật quốc tế - GV. Nguyễn Ngọc Duy Mỹ

Bài giảng Luật quốc tế là chương trình 2 tín chỉ do thạc sĩ Nguyễn Ngọc Duy Mỹ biên soạn. Nội dung của bài giảng trình bày những vấn đề chung về hệ thống luật quốc tế như khái niệm luật quốc tế, mối quan hệ giữa luật quốc tế và pháp luật quốc gia, các chủ thể của luật quốc tế. Bên cạch đó giáo trình còn đề cập đến nguồn gốc, các nguyên tắc cơ bản, tranh chấp và các phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế. Ngoài những vấn đề chung, bài giảng còn đề cập đến luật quốc tế trong các vấn đề chuyên ngành. Cụ thể là các vấn đề: Luật về lãnh thổ, luật biển quốc tế, luật ngoại giao và lãnh sự.


Lecture Business law with UCC applications (13/e): Chapter 24 - Brown, Sukys

Chapter 24 - Labor law. After completing this chapter, students will be able to: Relate the historical context in which unions developed, outline the congressional - judicial tug-of-war in union history, list the basic aims of labor unions, explain the nature of the 21st century crisis in labor law,...


Phân tích tính công bằng trong Luật biển quốc tế

Tại công ước Luật biển năm 1982 có sự ghi nhận nguyên tắc công bằng ở những khía cạnh sau: Một là, những quốc gia không có biển hoặc bất lợi về biển vẫn có quyền về biển và đại dương. Thừa nhận những quyền của các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý được sử dụng biển cả như những quốc gia có biển ở phạm vi mà luật biển cho phép và có nghĩa vụ không làm tổn hại đến quyền sử dụng biển của những quốc gia khác. Với quy định...


Một số câu hỏi về luật đất đai

Tại sao Nhà nước Việt Nam qui định mức sử dụng đất nông nghiệp đối với từng vùng? Hiện nay nhà nước ta khuyến khích phát triển kinh tế trang trại thì việc qui định hạn mức sử dụng đất có hạn chế gì không?


Ebook Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác: Phần 2

Nối tiếp nội dung của phần 1 cuốn sách "Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác", phần 2 trình bày các nội dung: Hiến, lấy mô, bộ phận trên cơ thể người sống; hiến, lấy mô, bộ phận trên cơ thể người chết và hiến, lấy xác; ghép mô, bộ phận cơ thể người;... Mời các bạn cùng tham khảo.


Giải thích bộ quy tắc Colreg 72 part 2

Trong thời gian dài, gồm cả khoảng thời gian phồn thịnh của vua Bizantine, Bộ luật Radosky vẫn là văn bản luật cơ bản đối với người đi biển và các nhà buôn. Cùng với việc phát triển của thương mại quốc tế, tại một số cảng, nhất là các cảng ở những vùng tương ứng với khu vực Pháp và Tây Ban Nha hiện nay, người ta đã đưa ra các luật lệ của địa phương mình và sau đó thống nhất lại thành một bộ luật có tên là “Consolidate Mar” và được áp dụng ở phía tây...


Bài giảng Kỹ năng đọc - nghe - hỏi - Học viện tư pháp

Bài giảng Kỹ năng đọc - nghe - hỏi nhằm yêu cầu bài học rèn luyện kỹ năng đọc, kỹ năng nghe tích cực, kỹ năng đặt câu hỏi đây là các kỹ năng quan trọng và thiết yếu trong hoạt động nghề luật sư, các phương diện đọc của luật sư, xác định mục đích đọc, phương pháp đọc.


Kiến thức chung thi công chức 2012

Câu 1: Vị trí pháp lí, chức năng, hình thức hoạt động chủ yếu của Hội đồng nhân dân? * Vị trí pháp lí: Được quy định tại Điều 119 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và Uỷ ban nhân dân năm (UBND) năm 2003: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". *...


Tài liệu mới download

Quyết định số 741/QĐ-BYT
  • 22/12/2017
  • 63.522
  • 905

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu