Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Một cách tiếp cận để đánh giá hiệu quả quản lý của các khu bảo tồn biển ở Việt Nam hiện nay

Mặc dù khu bảo tồn biển (KBTB) đã tồn tại ở Việt Nam hơn 10 năm nay và đã có một vài đánh giá độc lập về khía cạnh sinh học hay xã hội, tuy nhiên vẫn còn rất thiếu các đánh giá toàn diện về hiệu quả quản lý của KBTB. Bài báo này sẽ cung cấp một hệ thống các chỉ số được xây dựng bởi Pomeroy và các cs (2004) cho việc đánh giá KBTB. Ưu điểm của hệ thống chỉ số này là có thể đánh giá toàn diện hiệu quả quản lý KBTB cả trên phương diện khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Kỹ thuật tính toán các chỉ số cũng tương đối đơn giản, dễ tiếp cận. Các chỉ số về sinh học và kinh tế xã hội sẽ được trình bày và thảo luận cho trường hợp các KBTB ở Việt Nam. Ngoài ra, việc áp dụng các chỉ số này để đánh giá KBTB vịnh Nha Trang sẽ được cung cấp như là một ví dụ minh họa cho kỹ thuật đánh giá.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2014

THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC

MỘT CÁCH TIẾP CẬN ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CỦA CÁC KHU BẢO TỒN BIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
AN APPROACH TO ASSESS MANAGEMENT EFFECTIVENESS
OF MARINE PROTECTED AREAS IN VIETNAM
Quách Thị Khánh Ngọc1
Ngày nhận bài: 21/4/2014; Ngày phản biện thông qua: 24/5/2014; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014

TÓM TẮT
Mặc dù khu bảo tồn biển (KBTB) đã tồn tại ở Việt Nam hơn 10 năm nay và đã có một vài đánh giá độc lập về khía
cạnh sinh học hay xã hội, tuy nhiên vẫn còn rất thiếu các đánh giá toàn diện về hiệu quả quản lý của KBTB. Bài báo này sẽ
cung cấp một hệ thống các chỉ số được xây dựng bởi Pomeroy và các cs (2004) cho việc đánh giá KBTB. Ưu điểm của hệ
thống chỉ số này là có thể đánh giá toàn diện hiệu quả quản lý KBTB cả trên phương diện khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội. Kỹ thuật tính toán các chỉ số cũng tương đối đơn giản, dễ tiếp cận. Các chỉ số về sinh học và kinh tế xã hội sẽ được
trình bày và thảo luận cho trường hợp các KBTB ở Việt Nam. Ngoài ra, việc áp dụng các chỉ số này để đánh giá KBTB vịnh
Nha Trang sẽ được cung cấp như là một ví dụ minh họa cho kỹ thuật đánh giá.
Từ khóa: chỉ số, đánh giá hiệu quả quản lý, khu bảo tồn biển, Việt Nam

ABSTRACT
Although marine protected areas have existed in Vietnam for more than ten years and there are some separate
assessments of biological or social perspectives, few comprehensive evaluations of the management effectiveness have
been carried out. This paper presents some easily accessible ecological, economic and social indicators for marine
protected areas and discusses them for the case of the Nha Trang Bay marine protected area as an example by putting
together data from a number of different sources.
Keywords: indicator, assess management effectiveness, marine protect area, Vietnam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong gần 3 thập kỷ qua, đã có hàng ngàn
KBTB được thành lập ở khắp nơi trên thế giới. Bên
cạnh những KBTB thành công, vẫn còn rất nhiều
KBTB thất bại trong việc đạt được các kết quả mong
đợi do gặp phải các khó khăn về việc chấp hành
các quy định liên quan đến KBTB hoặc từ những
thách thức liên quan đến việc quản lý (Wells and
Dahl-Taccon, 2006a). Để xây dựng được các chiến
lược quản lý phù hợp, việc đánh giá hiệu quả quản
lý KBTB là vô cùng cần thiết. Theo Tổ chức Bảo tồn
thiên nhiên thế giới (IUCN), đánh giá hiệu quả quản
lý được xác định là việc đánh giá xem các KBTB
được quản lý tốt đến mức độ nào? Thể hiện cụ thể
hơn của việc đánh giá chính là việc xem xét các
KBTB có gìn giữ được các giá trị và đạt được các
mục tiêu đã đề ra hay không.

1

KBTB được thành lập với nhiều mục tiêu khác
nhau từ mục tiêu bảo tồn độ đa dạng sinh học, bảo
vệ trữ lượng của các đàn cá thương phẩm, cải thiện
sinh kế cho cộng đồng, đến các mục tiêu tạo ra giá
trị du lịch và giáo dục hoặc giải quyết mâu thuẫn
giữa các đối tượng hữu quan. Việc đánh giá các
KBTB vì vậy cũng chính là việc xem xét các mục
tiêu của KBTB có đạt được hay không và đạt được
bằng cách nào?
KBTB đầu tiên ở Việt Nam là KBTB vịnh Nha
Trang được thành lập vào năm 2001. Cho đến nay
Việt Nam đã có thêm nhiều KBTB được thành lập
ở nhiều vùng miền khác nhau trải từ Bắc vào Nam.
Mục tiêu chính của các KBTB ở Việt Nam thường
nhằm vào việc bảo tồn độ đa dạng sinh học và cải
thiện sinh kế. Tuy nhiên mặc dù KBTB đã tồn tại ở
Việt Nam hơn 10 năm nay và đã có một vài đánh

TS. Quách Thị Khánh Ngọc: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang

54 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
giá độc lập về mặt sinh học hoặc xã hội, vẫn chưa
có một đánh giá toàn diện nào về hiệu quả quản
lý của KBTB được thực hiện mà nguyên nhân chủ
yếu có thể hiểu là do còn thiếu các chuyên gia ở địa
phương nơi KBTB được thành lập và thiếu cả một
hệ thống các chỉ số để làm cơ sở cho việc đánh giá.
Mục tiêu chính của bài báo này là nhằm để cung cấp
phương pháp đánh giá bằng hệ thống các chỉ số và
các yêu cầu số liệu cho việc đánh giá KBTB, chú
trọng đến các KBTB ở Việt Nam. Trường hợp của
KBTB vịnh Nha Trang sẽ được phân tích để minh
họa cho kỹ thuật đánh giá.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên thế giới đã có một vài phương pháp đánh
giá hiệu quả quản lý của KBTB được xây dựng: Hiệu
quả quản lý di sản văn hóa thế giới (Worle heritagt
managemens wffectivenesk workbook (Hockings et
al., 2004)); Khu bảo tồn biển của bạn hoạt động như
thế nào (How Is Your MPA Doing (Pomeroy et al.,
2004)); Mô hình bảo tồn thiên nhiên 5-S (The Nature
Conservancy 5-S framework (The Nature
Conservancy 2000)); Đánh giá sự tiến triển bằng thẻ
cân bằng của World Bank (World Bank Scorecard to

Số 3/2014
Assess Progress (Staub and Hatziolos 2004)); và
Hướng dẫn báo cáo KBTB và hệ thống đo lường
(MPA Report Guide and Rating System (Wells and
Dahl-Taccon, 2006b)). Mối quan tâm chính của
những người thực hiện việc đánh giá là làm sao để
chọn ra một phương pháp đánh giá phù hợp. Việc
lựa chọn này tùy thuộc vào mục tiêu và phạm vi
của việc đánh giá; các nguồn lực sẵn có cho việc
đánh giá, sự sẵn có của các số liệu và khả năng thu
thập thêm các số liệu mới. Trong nghiên cứu này
phương pháp đánh giá được dựa trên cách tiếp cận
của Pomeroy và các cs (2004). Cách tiếp cận này
được lựa chọn vì nó bao gồm một hệ thống các chỉ
số khác nhau và cung cấp những kỹ thuật tương đối
đơn giản để đo lường các chỉ số này.
Những chỉ số được trình bày trong bảng 1 dựa
trên bộ chỉ số của Pomeroy và các cộng sự (2004).
Riêng chỉ số “Chi phí và thu nhập của các tàu khai
thác bị ảnh hưởng bởi KBTB” được bổ sung bởi
tác giả vì theo quan điểm của tác giả chỉ số này sẽ
cung cấp thông tin về sự ảnh hưởng của KBTB đến
ngư dân, một trong những đối tượng thường bị ảnh
hưởng nhiều nhất từ KBTB.

Bảng 1. Các chỉ số có thể sử dụng để đánh giá các KBTB ở Việt Nam
Kiến thức về khoa học tự nhiên

Kiến thức về khoa học xã hội

Độ phong phú của loài

Nhận thức về sự sẵn có của các loại cá

Thành phần và cấu trúc của quần xã

Thu nhập của hộ gia đình

Cường lực khai thác và sản lượng khai thác trên
một đơn vị cường lực

Cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình
Mâu thuẫn giữa những người sử dụng nguồn lợi
Chi phí và thu nhập của các tàu khai thác bị ảnh
hưởng bởi KBTB

1. Các kiến thức về khoa học tự nhiên
1.1. Độ phong phú của các loài
Độ phong phú của loài là một chỉ số có thể đại
diện cho số lượng của các sinh vật trong quần thể.
Chỉ số này đo lường số cá thể ở một khu vực nhất
định. Theo như Pomeroy và các cs (2004), chỉ số
này nên được nghiên cứu vì 2 lý do: i) Mục tiêu
của rất nhiều KBTB thường gắn với việc bảo vệ trữ
lượng của một số loài mục tiêu, chỉ số này sẽ phản
ánh các loài mục tiêu được bảo vệ và duy trì như thế
nào; ii) Sự cải thiện và sự phát triển bền vững của
các loài mục tiêu trong KBTB có thể chỉ ra hiệu quả
quản lý của KBTB.
1.2. Thành phần và cấu trúc của quần xã
Cấu trúc của một quần xã có thể được mô tả
như là sự phong phú tương đối của tất cả các loài
trong quần xã. Việc đánh giá chỉ số này giúp các nhà

quản lý hiểu được môi trường trong khu vực cần
nghiên cứu và xem xét tính hiệu quả của việc quản
lý KBTB. Các nhà quản lý sau đó có thể thiết lập kế
hoạch quản lý phù hợp với các điều kiện thay đổi.
1.3. Cường lực khai thác và sản lượng khai thác trên
một đơn vị cường lực
Số liệu về cường lực khai thác và sản lượng
khai thác trước và trong thời gian bảo tồn có thể
giúp các nhà quản lý hiểu rõ về hiệu quả của các
KBTB. Các số liệu này có thể giúp giải thích sự khác
biệt phát sinh giữa các khu vực được bảo vệ và khu
vực không được bảo vệ cũng như sự khác biệt về
áp lực đánh bắt trước và trong quá trình bảo tồn.
Các dữ liệu sau đây nên được thu thập (Pomeroy
et al., 2004): (1) Các loại ngư cụ, công suất động
cơ, độ dài của tàu và số thủy thủ trên tàu; (2) Ngư
trường đánh bắt (biến động theo mùa của các

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 55

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
ngư trường đánh bắt, sự hạn chế ở các ngư trường
đánh bắt); (3) Tổng thời gian cần thiết để di chuyển
đến ngư trường đánh bắt (số ngày trên biển/ tháng
hoặc năm); (4) Thành phần của sản lượng đánh bắt;
(5) Giá trị và sản lượng đánh bắt; (6) Thu nhập của
ngư dân (ví dụ, thu nhập và chi phí hàng ngày).
2. Các kiến thức về khoa học xã hội
2.1. Nhận thức về sự sẵn có của các loài cá
Thông tin này phải được thu thập từ các ngư
dân để tìm hiểu nhận thức của ngư dân về sự sẵn
có của các loài mục tiêu và các loài khác xung
quanh KBTB. Số liệu thu thập được có thể giúp
kiểm tra các câu hỏi sau đây: i) Việc quản lý KBTB
có đạt được mục tiêu làm tăng sản lượng đánh bắt?
ii) Sự phong phú của quần thể và cơ cấu của quần
thể đã thay đổi như thế nào?
2.2. Thu nhập hộ gia đình
Số liệu về các nguồn thu nhập, tầm quan trọng
của từng nguồn thu nhập, các kiểu sinh kế khác
nhau và tầm quan trọng của từng hoạt động sinh kế
đối với từng hộ gia đình cần được thu thập. Thông
tin này giúp các nhà quản lý hiểu việc hình thành
các KBTB ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của hộ
gia đình một cách tích cực hay tiêu cực, làm thế
nào để tạo ra sinh kế thích hợp cho cộng đồng và
mức độ mà cộng đồng phụ thuộc vào các nguồn
tài nguyên.
2.3. Cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình
Thông tin về ngành nghề của các thành viên
trong hộ gia đình có thể giúp các nhà quản lý hiểu
cơ cấu nghề nghiệp thay đổi như thế nào do sự
hình thành của KBTB, và xác định bất kỳ sự thay
đổi trong tỷ lệ của số hộ gia đình phụ thuộc vào các
nguồn tài nguyên biển cho sinh kế của họ.
2.4. Mâu thuẫn giữa những người sử dụng tài nguyên
Nguồn tài nguyên biển được khai thác bởi nhiều
đối tượng khác nhau. Khi dân số ở các vùng ven
biển tăng lên và việc tiếp cận với các nguồn tài
nguyên biển không bị giới hạn, các xung đột giữa
những người sử dụng tài nguyên có thể tăng lên.
Việc thành lập KBTB cũng tạo ra những xung đột
liên quan. Những xung đột đó có thể tồn tại giữa
ngư dân và những người nuôi trồng thủy sản hoặc
giữa việc khai thác thủy sản và phát triển du lịch.
2.5. Chi phí và thu nhập của các tàu đánh bắt bị ảnh
hưởng bởi KBTB
Thông tin về chi phí và thu nhập của các tàu
đánh bắt trước và sau khi thành lập các KBTB; thời
gian và khoảng cách cho việc di chuyển từ cảng
cá đến ngư trường, các hành vi của các ngư dân

56 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Số 3/2014
liên quan đến việc lựa chọn ngư trường là những
thông tin quan trọng cho các nhà quản lý. Dựa trên
thông tin này, chúng ta có thể hiểu thêm về tác động
của KBTB đến ngư dân. Việc thành lập KBTB có
tăng thu nhập cho ngư dân hay nó chỉ làm gia tăng
chi phí hoạt động cho ngư dân.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Để làm rõ hơn cách sử dụng các chỉ số để đánh
giá KBTB, trong bài báo này trường hợp của KBTB
vịnh Nha Trang được sử dụng để làm ví dụ. Thông
tin cho quá trình đánh giá được thu thập từ các báo
cáo và các tài liệu khác của KBTB vịnh Nha Trang.
Các thông tin này sẽ được lựa chọn phù hợp với
các chỉ số sinh học và kinh tế xã hội. KBTB vịnh Nha
Trang được thành lập với hai mục tiêu chính: i) Bảo
tồn sự đa dạng sinh học có tầm quan trọng quốc tế
và đang bị đe dọa và ii) Cải thiện sinh kế cho cộng
đồng địa phương, và hợp tác với các bên liên quan
khác để bảo vệ và quản lý một cách hiệu quả độ
đa dạng sinh học như là một mô hình mẫu cho việc
quản lý các KBTB ở Việt Nam. Việc đánh giá KBTB
vịnh Nha Trang do vậy cũng sẽ tập trung vào những
mục tiêu này.
1. Thông tin về KBTB vịnh Nha Trang
KBTB vịnh Nha Trang có độ đa dạng sinh học
cao nhất ở Việt Nam bao gồm 9 hòn đảo và mặt
nước xung quanh trong vịnh Nha Trang. Theo điều
tra ban đầu trong khu vực này, có 350 loài san hô,
250 loài cá, 122 loài động vật giáp xác, 112 loài động
vật thân mềm, 69 loài rong biển và 27 loài động vật
da gai (Võ Sĩ Tuấn et al., 2005). Năm 2002, các đề
án phân vùng trong KBTB vịnh Nha Trang được xây
dựng. Đề án này phân chia KBTB vịnh Nha Trang
thành ba vùng: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển
tiếp. Khu vực xung quanh đảo Hòn Mun được xác
định là vùng lõi.
2. Đánh giá KBTB vịnh Nha Trang dưới giác độ
của khoa học tự nhiên
2.1. Độ phong phú của các loài cá trong KBTB vịnh
Nha Trang
Sự phong phú của tất cả các loài cá với kích
thước khác nhau được điều tra hàng năm ở KBTB
vịnh Nha Trang từ năm 2002 đến năm 2005 (hình 1).
Sự phong phú của các loài cá tăng ngay lập tức hai
năm sau khi KBTB được thành lập. Tuy nhiên, sự
phong phú bắt đầu giảm trong hai năm tiếp theo. Kết
quả này đặt ra câu hỏi về sự cần thiết phải quản lý
và giám sát hiệu quả hơn KBTB này.

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2014

Hình 2. Độ phong phú bình quân của các loài cá ở KBTB vịnh Nha Trang (+ sd) trên 100 m2

(Nguồn: Võ Sĩ Tuấn và cs, 2005)

thể hiện rõ ràng Pomacentridae là họ cá đóng góp
Sự phong phú của tất cả các loài cũng được
phần lớn nhất cho độ phong phú của các loại cá tại
đo lường nhằm để so sánh giữa vùng lõi và những
KBTB vịnh Nha Trang.
vùng bên ngoài (vùng đệm, vùng chuyển tiếp). Theo
KBTB vịnh Nha Trang bao gồm 9 đảo nên các
như Võ Sĩ Tuấn và các cs (2005), sự khác biệt về độ
hoạt động quản lý và giám sát chưa được tập trung
phong phú giữa vùng lõi và những vùng không thuộc
một cách thích hợp cho toàn bộ khu vực (Võ Sĩ Tuấn et
vùng lõi không có ý nghĩa thống kê. Điều này cũng có
al., 2005.). Ở một số nơi, ngư dân vẫn thường xuyên
nghĩa rằng cho đến năm 2005 không có bằng chứng
tiếp cận để khai thác ngay ở các khu vực mà các quy
về hiệu ứng tràn ở KBTB vịnh Nha Trang.
định nghiêm cấm hoặc hạn chế đánh bắt đã được xây
2.2. Thành phần của cá
dựng. Xu hướng suy giảm của một số họ cá trong giai
Bảng 2 thể hiện độ phong phú của 10 họ cá chủ
đoạn 2002 - 2005 chỉ ra rằng để đạt được sự quản lý
yếu ở KBTB vịnh Nha Trang. Các số liệu từ bảng
hiệu quả cho KBTB vịnh Nha Trang, việc giám sát và
này không làm rõ được việc quản lý KBTB vịnh
quản lý cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa để
Nha Trang cho đến năm 2005 có bảo đảm sự gia
giảm thiểu tác động tiềm tàng từ hoạt động khai thác.
tăng trong độ phong phú. Tuy nhiên bảng 2 cũng đã
Bảng 2. Độ phong phú của một vài họ cá ở KBTB vịnh Nha Trang giai đoạn 2002 - 2005
Các họ cá

Pomacentridae
Labridae
Scaridae
Acanthuridae
Chaetodontidae
Siganidae
Pomacanthidae
Serranidae
Haemulidae
Lutjianidae
Tổng cộng

2002

2003

2004

2005

4301
565
682
559
319
173
29
24
14
0
6666

5125
1054
705
545
262
38
46
58
0
3
7836

4950
1128
493
459
213
22
59
23
7
1
7355

3607
765
435
169
142
0
110
24
1
0
5253

(Nguồn: Võ Sĩ Tuấn và cs, 2005)

2.3. Cường lực khai thác và sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực (CPUE)
Hầu hết các tàu thuyền hoạt động xung quanh KBTB vịnh Nha Trang là các tàu quy mô nhỏ. Các dữ liệu thu
thập trong năm 2005 cũng dựa trên các mẫu khảo sát tương tự như năm 2002 (Hồ Văn Trung Thu et al., 2005).

Hình 3. Phân loại tàu thuyền hoạt động xung quanh KBTB theo chiều dài tàu và công suất tàu

(Nguồn: Hồ Văn Trung Thu và cs, 2005)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 57

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản

Số 3/2014
vây cá cơm), chỉ số CPUE tăng lên trong giai đoạn
2002 - 2005. Tuy nhiên, đối với các ngư cụ khác,
CPUE có xu hướng giảm. Điều này cũng có nghĩa
cần phải có thêm dữ liệu theo chuỗi thời gian để
tính toán chính xác hơn các chỉ số CPUE trong khu
vực này.

Công suất của các tàu có xu hướng tăng sau khi
KBTB vịnh Nha Trang được thành lập, trong khi tỷ lệ
các tàu có chiều dài lớn hơn 10 m lại giảm xuống.
Đối với chỉ số CPUE, dữ liệu CPUE trong bảng
2 không đưa ra dấu hiệu rõ ràng về tác động của
KBTB. Đối với một số ngư cụ đánh bắt (pha xúc và

Bảng 3. Chỉ số CPUE của một vài ngư cụ khai thác xung quanh KBTB vịnh Nha Trang (2002 - 2005)
Các loại ngư cụ

Pha xúc
Lưới cước (rê 3 lớp)
Vây trũ rút (vây cá cơm)
Mành cá
Mành tôm hùm giống
Câu tay
Lặn

CPUE (kg/h)
2002 - 2003

2004 - 2005

12.19
1.08
5.15
3.59
2.34
0.58
0.52

16.93
0.75
39.26
2.88
0.58
0.49
0,43 kg/h và 0,15 cá thể/h

(Nguồn: Hồ Bá Đỉnh và cs, 2005)

3. Đánh giá KBTB vịnh Nha Trang dưới giác độ của khoa học xã hội
3.1. Nhận thức về khuynh hướng của sản lượng khai thác
Do không có thông tin liên quan đến nhận thức của
ngư dân về sự sẵn có của các loại cá, nhận thức về
khuynh hướng của sản lượng đánh bắt trước và sau khi
thành lập KBTB được trình bày ở đây. Thông tin này có
thể phản ánh một phần trữ lượng của nguồn lợi cá hoặc
sự sẵn có của các đàn cá theo nhận thức của ngư dân.
Hình 5 cho thấy, khoảng 69% ngư dân được hỏi
Hình 5. Nhận thức của ngư dân về khuynh hướng
tin rằng sản lượng đánh bắt trong năm 2009 đã giảm
của sản lượng khai thác so với trước khi thành lập KBTB
so với trước khi lập KBTB, 17,28% người cho rằng
vịnh Nha Trang
(Nguồn: Dương Thị Kim Lan, 2009)
sản lượng đánh bắt được xung quanh KBTB tăng lên,
8,64% nghĩ rằng sản lượng đánh bắt không đổi và 4.94% không có ý kiến về vấn đề này.
Nguyên nhân của sự sụt giảm sản lượng đánh bắt đã được điều tra mà nguyên nhân chính là do có nhiều
ngư dân sống ở các khu vực khác với các tàu đánh bắt hiện đại hơn cũng hoạt động xung quanh khu bảo tồn.
Việc cấm các tàu đánh bắt trong vùng lõi và sự thay đổi trong môi trường biển cũng dẫn đến sự suy giảm đáng
kể trong sản lượng đánh bắt (Dương Thị Kim Lan, 2009).
3.2. Thay đổi nghề nghiệp
Hình 6 và 7 thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của cả người vợ và người chồng trong các hộ
gia đình ở vịnh Nha Trang. Tỷ lệ của người chồng tham gia vào hoạt động khai thác thủy sản đã giảm từ 79,8%
xuống 76%. Tỷ lệ những người vợ làm nội trợ cũng giảm từ 79% xuống còn 67,5%. Điều đó cũng chứng tỏ rằng
chương trình tạo thu nhập thay thế đã có thể giúp thay đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình xung quanh
KBTB và tác động tích cực cho cộng đồng, từ đó hỗ trợ cho việc quản lý KBTB một cách có hiệu quả.

Hình 6. Sự thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của người chồng trong các hộ gia đình xung quanh KBTB vịnh Nha Trang

(Nguồn: Hồ Văn Trung Thu et al., 2005)

58 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Tài liệu cùng danh mục Tiêu chuẩn - Qui chuẩn

TCVN 9016:2011

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 9016:2011 RAU TƯƠI – PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU TRÊN RUỘNG SẢN XUẤT Fresh vegetables – Sampling method on the field Lời nói đầu TCVN 9016:2011 do Viện nghiên cứu rau quả biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.


Tiêu chuẩn nhà nước TCVN 319:1969

Tiêu chuẩn nhà nước TCVN 319:1969 quy định các phương pháp tính chuyển khối lượng của các lô hàng đang được bảo quản hay giao đi của những vật liệu và sản phẩm thấm ướt có độ ẩm lớn hơn hay nhỏ hơn độ ẩm đã được các tiêu chuẩn hay các văn bản kỹ thuật khác quy định, bắt buộc những người sản xuất và tiêu thụ khi giao nhận các vật liệu và sản phẩm đó với nhau phải tính toán, đồng thời cũng để tính toán sự thay đổi khối lượng của những vật liệu và sản phẩm đó trong thời kỳ bảo quản.


Rượu mùi – Qui định kỹ thuật

Theo " Qui chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu" ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ - TTg.


Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4311:1986

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4311:1986 về Than dùng cho nhà máy nhiệt điện Phả Lại - Yêu cầu kỹ thuật áp dụng cho than Hồng gai - Cẩm phả và Mạo khê dùng cho lò hơi than phun của nhà máy điện Phả lại. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.


Tiêu chuẩn tcvn 5576 : 1991 Nhóm H

Tiêu chuẩn việt nam tcvn 5576 : 1991 Nhóm H Hệ thống cấp thoát nước – Quy phạm quản lí kĩ thuật Water supply and drainage systems – Rules for technical management 1. Quy định chung 1.1. Tiêu chuẩn này áp dụng để quản lí kĩ thuật hệ thống cấp thoát nước đô thị. Ngoài tiêu chuẩn này còn phải tuân theo các tiêu chuẩn hiện hành có liên quan. 1.2. Nhiệm vụ của công tác quản lí kĩ thuật hệ thống cấp thoát nước đô thị là thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đảm bảo vận hành khai thác các công trình cấp...


22 TCN 249-98 - Phần 2

Tham khảo tài liệu '22 tcn 249-98 - phần 2', kinh tế - quản lý, tiêu chuẩn - qui chuẩn phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Tiêu chuẩn Việt Nam- Qui phạm phân cấp và đóng tàu biển vỏ thép- Phần 8: Tàu lặn

Qui phạm phân cấp và đóng tàu biển vỏ thép- Phần 8: Tàu lặn


Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 169:2001

Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 169:2001 về Cá nước ngọt - Cá hương các loài: Tai tượng, tra và ba sa - Yêu cầu kỹ thuật quy định chỉ tiêu chất lượng của cá hương 3 loài sau đây: Tai tượng Osphronemus gouramy (Lacèpede, 1802); tra Pangasianodon hypophthalmus ( Sauvage, 1878); ba sa Pangasius bocourti ( Sauvage, 1880).


TCN 12-2002

1. QUI ĐỊNH CHUNG 1.1. Tiêu chuẩn này qui định về yêu cầu vật liệu đá, vữa, kỹ thuật thi công, kiểm tra và nghiệm thu kết cấu xây, lát đá trong công trình thuỷ lợi. 2. TIÊU CHUẨN TRÍCH DẪN - 14 TCN 80 - 2001: Vữa thuỷ công - Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử; - 14 TCN 104 - 1999: Phụ gia hoá học cho bêtông và vữa - Yêu cầu kỹ thuật; - 14 TCN 107 - 1999: Phụ gia hoá học cho bêtông và vữa - Phương pháp thử; - 14 TCN 105 - 1999: Phụ gia khoáng hoạt...


Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4264:1994

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4264:1994 về Quạt điện sinh hoạt - Yêu cầu an toàn và phương pháp thử áp dụng cho quạt điện sinh hoạt (quạt bàn, quạt đứng, quạt trần v.v…) dùng cho điện xoay chiều một pha có điện áp danh định không vượt quá 250 V và qui định yêu cầu an toàn và phương pháp thử.


Tài liệu mới download

QCVN 04:2009/BTNMT
  • 26/12/2017
  • 36.020
  • 624

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 88-2006
  • 13/11/2015
  • 77.377
  • 101
TCXD 156 1986
  • 20/07/2010
  • 82.016
  • 250
TCVN 5984 1995
  • 25/07/2010
  • 18.998
  • 989

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu