Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ thị trường tiền tệ trong bối cảnh mới

Bài viết Hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ thị trường tiền tệ trong bối cảnh mới trình bày thị trường tiền tệ là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, đóng vai trò tiếp nhận và truyền tải tác động hiệu ứng của các quyết định điều hành tiền tệ từ Ngân hàng Nhà nước đến cung, cầu của nền kinh tế,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ
HỖ TRỢ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ TRONG BỐI CẢNH MỚI
TS. HOÀNG XUÂN HÒA, ThS. TRẦN KIM ANH - Ban Kinh tế Trung ương

Thị trường tiền tệ là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, đóng vai trò tiếp nhận và
truyền tải tác động hiệu ứng của các quyết định điều hành tiền tệ từ Ngân hàng Nhà nước đến
cung, cầu của nền kinh tế. Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển khung pháp lý cho thị trường tiền
tệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và
điều tiết thị trường. Bài viết nghiên cứu khung pháp lý cho thị trường tiền tệ cũng như những kết
quả hạn chế, mà thị trường này đạt được, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật thị trường tiền tệ thời gian tới.
Từ khóa: Thị trường tiền tệ, liên ngân hàng, thị trường mở, lãi suất

Monetary market is a part of financial market,
it plays an important role in receiving and
conveying the effects of monetary decisions of the
Central Bank towards supply and demand of the
national economy. Therefore, improvement of legal
framework for monetary market has an extremely
important meaning for improving effectiveness of
monetary policies and market moderation. This
paper studies the legal framework for monetary
market as well as the results, limitations of
this market and then recommends solutions to
improve legal framework for monetary market in
the coming period.
Keywords: Monetary market, inter-bank, open
market, interest

Ngày nhận bài: 30/12/2016
Ngày chuyển phản biện: 31/12/2016
Ngày nhận phản biện: 5/1/2017
Ngày chấp nhận đăng: 6/1/2017

Những kết quả đạt được
Trong giai đoạn vừa qua, thị trường tiền tệ (TTTT)
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Điểm nổi
bật là khung pháp lý ngày một hoàn thiện. Các nội
dung cho hoạt động của TTTT về cơ bản đều đã
được luật hóa, cụ thể ở các mức độ khác nhau. Trên
cơ sở Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Luật Các
tổ chức tín dụng (TCTD), NHNN đã ban hành các
văn bản hướng dẫn như sửa đổi, bổ sung các cơ chế
56

để hỗ trợ cho điều hành chính sách tiền tệ (CSTT)
hiệu quả, phát triển TTTT; các cơ chế chính sách tín
dụng nhằm tháo gỡ các khó khăn vướng mắc trong
hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, hỗ trợ TCTD
cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo
hoạt động của TCTD an toàn, hiệu quả; các cơ chế,
chính sách tăng cường quản lý ngoại hối, góp phần
ổn định TTTT, ngoại hối...
Điển hình là ngay từ khi TTTT được hình thành,
NHNN đã chú trọng công tác tổ chức và điều hành
thị trường; ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật, quy định cụ thể đối với từng loại hình hoạt
động, như Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992;
Quyết định 132/QĐ-NH14 ngày 10/07/1993 về việc
thành lập thị trường liên ngân hàng; Quyết định
114/QĐ-NH14 về quy chế về tổ chức và hoạt động
của thị trường liên ngân hàng; Quyết định 190/
QĐ-NH14 ngày 6/10/1993 sửa đổi, bổ sung một số
nội dung của quy chế về tổ chức và hoạt động của
thị trường liên ngân hàng... Đây là những văn bản
quy phạm pháp luật đầu tiên là hành lang pháp lý
cơ bản để tạo lập, hình thành nên thị trường quan hệ
tín dụng giữa các TCTD. Giai đoạn này, thị trường
liên ngân hàng phát triển còn sơ khai, do các TCTD
chưa quen với hình thức giao dịch này và chưa có
sự tín nhiệm lẫn nhau nên quan hệ tín dụng giữa
các TCTD hầu như không phát sinh hoặc phải thông
qua trung gian là NHNN. Tuy nhiên, chỉ sau 10
năm, từ số lượng thành viên ít ỏi với doanh số hoạt
động không nhiều, thị trường đã có những bước
phát triển vượt bậc cả về số lượng thành viên tham
gia thị trường và doanh số giao dịch. Những thông

TÀI CHÍNH - Tháng 2/2017
tin phát ra từ thị trường đã trở thành tín hiệu quan
trọng, phản ánh tương đối rõ nét tình hình thanh
khoản của các thành viên trên thị trường liên ngân
hàng, là cơ sở để NHNN đưa ra những quyết định
chính sách phù hợp.
Để xây dựng khung pháp lý cho TTTT liên
ngân hàng phù hợp với hoạt động của các TCTD
trong điều kiện mới, đáp ứng yêu cầu quản lý,
ngày 15/10/2001, NHNN đã ban hành Quy chế
vay vốn giữa các TCTD kèm theo Quyết định
1310/2001/QĐ-NHNN. Theo đó, với những quy
định thông thoáng quy chế đã trao quyền tự chủ
cho các TCTD trong quan hệ vay vốn lẫn nhau,
tạo điều kiện cho thị trường liên ngân hàng phát
triển mạnh mẽ, sôi động.
Từ năm 2001 đến cuối năm 2011, TTTT Việt Nam
nói chung và thị trường cho vay - gửi tiền giữa các
TCTD có nhiều chuyển biến gắn liền với những
thay đổi mạnh mẽ của kinh tế trong nước và thế
giới. Năm 2012, NHNN ban hành Thông tư 21/2012/
TT-NHNN ngày 18/6/2012 quy định hoạt động cho
vay, đi vay, mua, bán giấy tờ có giá giữa các TCTD,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, Thông tư
21/2012/TT-NHNN cho phép các TCTD, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được giao dịch lẫn nhau với
thời hạn giao dịch dưới 1 năm. Đây là những quy
định mới, chặt chẽ hơn, phù hợp với bản chất giao
dịch vốn ngắn hạn trên TTTT liên ngân hàng và quy
định của Luật Các TCTD 2010 nhằm quản lý hoạt
động liên ngân hàng được an toàn, hiệu quả. Sau
khi Thông tư 21/2012/TT-NHNN có hiệu lực, thị
trường có một số biến động nhất định nhưng đến
nay thị trường đã hoạt động ổn định trở lại.
Thực tế cho thấy, từ khi được hình thành đến
nay, quy mô giao dịch của thị trường liên ngân hàng
ngày càng tăng và thị trường đang tiến gần hơn với
các thông lệ quốc tế. Doanh số hoạt động của thị
trường cho vay, gửi tiền liên ngân hàng có sự tăng
DIỄN BIẾN GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG
GIAI ĐOẠN 2012-2016 (Tỷ đồng)

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

trưởng rõ rệt qua các năm. Năm 2000, khi thị trường
liên ngân hàng mới được hình thành, tổng doanh số
giao dịch cho vay, gửi tiền giữa các TCTD trên thị
trường chỉ vào khoảng 280 tỷ đồng thì đến 2016 con
số này đã lên tới 5,047 triệu tỷ đồng, giao dịch bình
quân là 20.602 tỷ đồng/ngày.
Cùng với quá trình hoàn thiện hành lang pháp
lý của hoạt động cho vay liên ngân hàng, hành lang
pháp lý cho hoạt động của thị trường mua, bán giấy
tờ có giá cũng dần được hoàn thiện. Để đáp ứng yêu
cầu quản lý và sự phát triển của thị trường, đặc biệt
là thị trường thứ cấp, từ những năm 2000, NHNN
đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp
luật như Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN ngày
15/10/2004 về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái
chiết khấu giấy tờ có giá của TCTD đối với khách
hàng. Đối với hoạt động mua, bán giấy tờ có giá
giữa các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
trên TTTT liên ngân hàng, NHNN ban hành Thông
tư 21/TT-NHNN thay thế các quy định về hoạt động
này tại các văn bản trước đây nhằm quản lý thống
nhất và chặt chẽ hơn nữa hoạt động này.
Khung khổ pháp lý phục vụ cho điều hành
nghiệp vụ thị trường mở (OMO) tiếp tục thực hiện
theo nền tảng trước đây. Nhờ đó, hoạt động thị
trường mở thời gian qua đã giải quyết tốt về thanh
khoản cho hệ thống các TCTD, góp phần ổn định
TTTT; trung hòa kịp thời lượng tiền mua ngoại tệ
để kiểm soát lạm phát, bình ổn tỷ giá, từng bước
giúp NHNN chuyển dần từ điều hành theo khối
lượng sang điều hành theo giá (lãi suất). Minh
chứng là thị trường mở đã có sự tăng trưởng, phát
triển không ngừng về doanh số giao dịch cũng như
số lượng thành viên thị trường; Khối lượng giao
dịch thị trường mở theo đó cũng tăng mạnh qua
các năm; Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được
thực hiện linh hoạt qua các kênh trọng tâm nhằm
duy trì lãi suất liên ngân hàng trong biên độ phù
hợp để hỗ trợ ổn định tỷ giá nhưng vẫn cân đối
tạo điều kiện giảm lãi suất. Tháng 12/2016, lãi suất
huy động tăng thêm khoảng 0,1-0,4% tùy từng kỳ
hạn tại một số ngân hàng thương mại; thị trường
liên ngân hàng, lãi suất các kỳ hạn qua đêm, một
tuần, hai tuần đã duy trì xu hướng tăng trong
tháng 12/2016 cao nhất là 5,5%/năm. Điều này
phản ánh tình trạng không dư thừa trong thanh
khoản của hệ thống ngân hàng. Tín dụng tăng
trưởng trong khi nhu cầu thanh toán của doanh
nghiệp và nhu cầu chi tiêu của người dân tăng cao
đã khiến cán cân vốn có xu hướng nghiêng về phía
cầu trong những tháng cuối năm. Trước diễn biến
mới này, NHNN đã dừng hoạt động tín phiếu và
57

tiếp tục bơm ròng vốn ra thị trường qua nghiệp
vụ OMO. Mức lãi suất cho vay qua thị trường
mở của NHNN hiện là 5%, tương đương với mức
lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Như vậy,
bằng việc kết hợp các công cụ khác của CSTT đã
tác động đến sự tăng trưởng ổn định mức cung
tiền và tín dụng. TTTT đã phát triển ổn định hơn,
đóng vai trò quan trọng trong điều tiết cung, cầu
về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống của
các chủ thể kinh tế, đặc biệt là thực hiện chức năng
cân đối, điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng,
góp phần hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại
(NHTM) đảm bảo khả năng thanh toán, hoạt động
an toàn và hiệu quả...
Mặc dù NHNN đã nỗ lực trong việc triển khai
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền
tệ và ngân hàng nhưng trên thực tế, vẫn có một số
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành chậm
so với yêu cầu, ảnh hưởng đến tính đồng bộ, thống
nhất của hệ thống pháp luật về tiền tệ và ngân hàng,
đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thể
tham gia thị trường. Các hoạt động mua, bán có kỳ
hạn giữa các tổ chức tài chính ở Việt Nam còn tương
đối ít. Phần lớn các giao dịch này được thực hiện
giữa TCTD và các công ty chứng khoán, hoặc giữa
các TCTD với nhau (trong đó chủ yếu là giao dịch
giữa các TCTD), các doanh nghiệp chưa quan tâm
đến hoạt động này do lãi suất trái phiếu chính phủ
còn thấp, chưa hấp dẫn. Quản lý điều hòa nguồn
vốn trong các TCTD chưa tốt, vẫn còn tình trạng
dễ dẫn đến suy giảm, khi thừa khi thiếu. Sự liên
kết giữa các TCTD chưa thực sự hiệu quả, khả năng
chống đỡ với khủng hoảng. Tính thời vụ của TTTT
Việt Nam còn khá cao. Cấu trúc vi mô của TTTT
cũng chưa hoàn thiện, thị trường còn thiếu những tổ
chức trung gian, những nhà tạo lập thị trường. Việc
thiếu nhà tạo lập thị trường là một nguyên nhân làm
cho giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp chưa
trở nên sôi động.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên là
do: Thị trường vốn kém phát triển; Hoạt động tín
dụng chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế; Sự phối hợp
giữa các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách,
giữa CSTT với chính sách tài khóa, chính sách thương
mại, chính sách đầu tư và các chính sách kinh tế vĩ
mô khác còn thiếu đồng bộ và chưa hiệu quả.
Ngay cả hệ thống TCTD, tuy phát triển nhanh
nhưng mạng lưới phân bổ không đồng đều, tập
trung chủ yếu tại khu vực thành thị, còn mỏng tại
địa bàn nông thôn, các tỉnh miền núi, biên giới,
vùng sâu, vùng xa, dẫn tới khó khăn trong việc tiếp
58

cận tín dụng và dịch vụ ngân hàng tại các vùng này.
Năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của
đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển.

Một số đề xuất, kiến nghị
Về lãi suất và tỷ giá

Tăng tính chủ động, linh hoạt trong điều hành
đồng bộ các công cụ CSTT nhằm ổn định TTTT
ngoại hối, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, đồng
thời, hỗ trợ TCTD cung ứng vốn hiệu quả cho nền
kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.
Bên cạnh đó, điều hành tỷ giá linh hoạt phối hợp
chặt chẽ với chính sách lãi suất theo sát diễn biến
của thị trường ngoại hối, để hỗ trợ tích cực đối với
xuất nhập khẩu và các hoạt động đối ngoại khác của
nền kinh tế.
Về chủ thể thực thi thể chế

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Cần hoàn
thiện hệ thống pháp luật ngân hàng, đảm bảo đồng
bộ với hệ thống pháp luật các ngành khác, phù hợp
với các cam kết và thông lệ quốc tế. Đồng thời, phát
triển TTTT, thị trường ngoại hối, trong đó tập trung:
Nâng cao vai trò của TTTT, trung tâm là thị trường
liên ngân hàng, hiệu quả điều tiết thị trường và
truyền dẫn CSTT; phát triển TTTT gắn với sự phát
triển của thị trường vốn; phát triển thị trường ngoại
hối với lộ trình thích hợp; Tăng cường cung cấp các
công cụ thanh khoản bằng nội tệ và ngoại tệ cho
TTTT, thúc đẩy phát triển một TTTT hiệu quả và
cạnh tranh, có chiều sâu và có tính thanh khoản cao.
Bên cạnh đó, NHNN cần nâng cao vai trò định
hướng, dẫn dắt thị trường, chủ động trước những
biến động của thị trường, nâng cao hiệu quả công
tác dự báo, thống kê; Tiếp tục sử dụng các công cụ
và chính sách linh hoạt, hiệu quả để điều hành TTTT,
ngân hàng và ngoại hối nhằm đạt được những mục
tiêu đã đề ra.
Ngoài ra, tăng cường việc lành mạnh hoá các
TCTD. Trong đó, tập trung xử lý nợ xấu là nhiệm vụ
cấp bách hiện nay nhằm tăng khả năng chi trả cũng
như tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng;
Tiếp tục chỉ đạo, nâng cao hiệu quả điều hành CSTT
và hoạt động ngân hàng, đổi mới và hoàn thiện cơ
chế điều hành, các công cụ CSTT theo nguyên tắc
định hướng thị trường, phù hợp với thông lệ quốc
tế và điều kiện phát triển của thị trường tài chính
trong nước.
Cùng với đó, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với
các chính sách kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế, đặc

TÀI CHÍNH - Tháng 2/2017
biệt sự phối hợp giữa CSTT và chính sách tài khóa.
Phát triển thị trường vốn cung ứng nguồn vốn dài
hạn cho nền kinh tế để TTTT phát triển theo đúng
bản chất là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn; Củng
cố, chấn chỉnh hoạt động của các TCTD, tập trung
phát triển các hoạt động kinh doanh chính và loại
bỏ các lĩnh vực kinh doanh rủi ro, kém hiệu quả;
từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các
NHTM theo hướng chuyên môn hóa dựa trên cơ sở
lợi thế cạnh tranh, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng;
nâng cao tính ổn định và bền vững của các TCTD;
Triển khai các quy trình, nghiệp vụ tiên tiến, chính
sách kinh doanh lành mạnh; áp dụng có hiệu quả
các phương thức quản trị điều hành theo thông lệ,
chuẩn mực quốc tế và quy định của pháp luật...
Đối với các TCTD
Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu hệ thống các TCTD
trong đó chú trọng vào việc tăng cường năng lực tài
chính, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tạo cơ
sở vững chắc cho sự phát triển của thị trường; Đầu
tư, trang bị, phát triển các công nghệ, bảo đảm đầy
đủ điều kiện để giao dịch thị trường được thuận lợi,
chính xác; Đánh giá đúng thực trạng các TCTD qua
công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, xác định
các khâu yếu kém, tiềm ẩn nhiều rủi ro, thực hiện
các biện pháp kiểm soát và tái cơ cấu phù hợp; Đẩy
nhanh tiến trình xử lý nợ xấu; Tổ chức triển khai có
hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý tài sản của
các TCTD Việt Nam dưới sự chỉ đạo của NHNN.
Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao năng lực về vốn
thông qua các hình thức phát hành cổ phiếu qua thị
trường chứng khoán; Phát triển hạ tầng kỹ thuật,
ứng dụng công nghệ mới; Nâng cao chất lượng
quản trị, điều hành, quản trị rủi ro, thiết lập hệ
thống cảnh báo, an toàn trong hoạt động, đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực; Thực hiện công tác
kiểm tra, thanh tra và chế độ báo cáo thường xuyên.
Đối với cơ chế theo dõi và giám sát đảm bảo việc
thực hiện thể chế
(i) Cần đổi mới hoạt động thanh tra thông qua
việc ban hành Chương trình công tác, kế hoạch
thanh tra trong toàn hệ thống. Các cuộc thanh tra
tập trung chú trọng vào các nội dung trọng điểm
như: Vốn điều lệ, cổ đông, cổ phần, cổ phiếu, cấp tín
dụng cho cổ đông lớn và người có liên quan; hoạt
động cấp tín dụng và hoạt động đầu tư tài chính;
Hoạt động ủy thác đầu tư, các khoản phải thu, góp
vốn, mua cổ phần; Việc chấp hành các tỷ lệ bảo đảm
an toàn trong hoạt động của TCTD, lãi suất, kinh
doanh; Hoạt động của các công ty con (nếu có)...
(ii) Từng bước đổi mới phương pháp thanh tra.
Cụ thể là từng bước kết hợp thanh tra việc chấp

hành chính sách, pháp luật với thanh tra rủi ro nhằm
đảm bảo an toàn trong hoạt động của hệ thống các
TCTD; Chú trọng công tác khảo sát, chuẩn bị thanh
tra; Phối hợp công tác thanh tra với giám sát, kiểm
toán nhằm khai thác thông tin, hỗ trợ nhiều công tác
thanh tra tại chỗ và làm cơ sở xây dựng Kế hoạch
thanh tra chi tiết đối với từng TCTD...
Đối với công tác giám sát, trước mắt, cần thu hẹp
các chuẩn mực trong nước với chuẩn quốc tế (hoàn
tất Basel II, tiến tới Basel III). Xây dựng và áp dụng
các chỉ tiêu giám sát và ngưỡng cảnh báo an toàn
vĩ mô, các mô hình định lượng và các quy chuẩn,
chỉ tiêu giám sát các ngân hàng. Công tác thanh tra,
giám sát ngân hàng cũng đang dần được đổi mới
theo hướng công khai, minh bạch hóa thông tin về
xử phạt các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngân
hàng thông qua việc đăng tải thông tin về việc xử
lý những vụ sai phạm của các TCTD trên website
chính thức của NHNN.
(iii) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ
ngành Ngân hàng theo hướng hiện đại, tiếp cận
nhanh và ứng dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến.
Thiết lập cơ sở hạ tầng công nghệ kỹ thuật cho hoạt
động của TTTT;
Hoàn thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng về thanh
toán; Chuẩn bị điều kiện để nâng cấp, mở rộng hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia
theo hướng hiện đại, an toàn và hiệu quả, ngang
tầm trình độ phát triển của thế giới; Khuyến khích
các TCTD đầu tư phát triển, đổi mới công nghệ, bảo
đảm tính đồng bộ, an toàn, bảo mật, tương thích với
các chuẩn mực công nghệ chung và đủ khả năng
tích hợp với hệ thống công nghệ của ngành.
Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu
khoa học, nâng cao chất lượng các cơ sở nghiên cứu
khoa học công nghệ ngành Ngân hàng, gắn kết chặt
chẽ giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực
tiễn; Phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin tín
dụng; nâng cao năng lực của Trung tâm thông tin
tín dụng quốc gia; Cho phép phát triển thêm các tổ
chức thông tin tín dụng thuộc các thành phần kinh
tế khác phù hợp với các quy định pháp luật; Nâng
cao chất lượng công tác xếp hạng tín nhiệm đối với
các TCTD...
Tài liệu tham khảo:
1. TS. Hà Thị Sáu. “ Điều hành linh hoạt thị trường OMO, góp phần kiểm soát
lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”. Số 143, tháng 4/2014, Tạp chí
khoa học và đào tạo ngân hàng, Học viện Ngân hàng;
2. NHNN, Báo cáo thường niên các năm 2011-2016;
3. Báo cáo của NHNN về điều hành CSTT 2016 và định hướng giải pháp điều
hành 2017.
59

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Bài giảng Luật hiến pháp - Vũ Quang Hưng

Bài giảng Luật hiến pháp trình bày về khái niệm luật hiến pháp, phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp Việt Nam, quan hệ xã hội trên các lĩnh vực, nguồn gốc, bản chất Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) nội dung và giá trị pháp lý của Hiến pháp... Mời bạn đọc tham khảo.


Ebook Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình: Phần 1

Cuốn sách “Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình” mong muốn sẽ góp phần cung cấp cho bạn đọc hiểu thêm về các chế định này, cũng như quan tâm đến pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta. Sách gồm 2 phần, mời các bạn cùng tham khảo phần 1 sau đây.


Bài giảng Luật đất đai - Bài 7

Bài 7 Thanh tra đất đai, xử lý hành vi vi phạm pháp luật đất đai, giải quyết tranh chấp và khiếu nại, tố cáo về đất đai thuộc bài giảng luật đất đai nhằm trình bày về thanh tra đất đai, xử lý vi phạm pháp luật đất đai, giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện hành chính về đất đai.


Ebook Luật phòng cháy và chữa cháy: Phần 1 – NXB Chính trị Quốc gia

Phần 1 của cuốn sách “Luật phòng cháy và chữa cháy” trình bày nội dung Lệnh  số 08/L-CTN ngày 12 tháng 7 của chủ tịch nước về việc công bố lệnh phòng cháy chữa cháy, những quy định chung của Lệnh phòng cháy chữa cháy, phòng cháy, chữa cháy… Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.  


Đề cương bài giảng Cách viết bản án dân sự sơ thẩm - ThS. Trần Minh Tiến

Đề cương bài giảng Cách viết bản án dân sự sơ thẩm do ThS. Trần Minh Tiến thực hiện bao gồm những nội dung về khái quát bản án dân sự; những nguyên tắc chỉ đạo trong viết bản án dân sự; kỹ năng viết bản án dân sự sơ thẩm. Đề cương bài giảng hữu ích với các bạn chuyên ngành Luật và những ngành có liên quan.


Thuyết tư pháp tích cực: Khái niệm, biểu hiện và những điều tranh cãi

Bài viết cung cấp những tri thức khoa học xoay quanh Thuyết Tư pháp tích cực trên những phương diện: khái niệm, biểu hiện và những điều gây tranh cãi. Qua đó, tác giả lý giải bối cảnh ra đời của Thuyết Tư pháp tích cực và những gợi mở của quan niệm này đối với khoa học pháp lý.


Ebook Tìm hiểu pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: Phần 2

Để đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, Nhà xuất bản Dân trí đã ấn hành cuốn sách "Tìm hiểu pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính", do Luật gia Ngọc Linh tuyển chọn sau đây. Sách gồm 2 phần, sau đây là phần 2.


Bài giảng Logistics kinh doanh thương mại

Chương 2: Quy hoạch mạng lưới. Nội dung chính: Vai trò và các loại hình cơ sở logistics KDTM; Các quy luật phát triển mạng lưới; Quy hoạch hệ thống kho hàng hóa; Quy hoạch các cơ sở cửa hàng bán lẻ.Tổng quan Logistics KDTM. Nội dung: Giới thiệu Logistics KD (Tư tưởng, lịch sử, khái niệm, bản chất); Nội dung hoạt động Logistics; Mục tiêu - nhiệm vụ; Tối ưu hóa dịch vụ Logistics; Đối...


Bài giảng Những quy định pháp lý về tài chính - ngân sách - PGS.TS. Đặng Văn Thanh

Bài giảng Những quy định pháp lý về tài chính - ngân sách của PGS.TS. Đặng Văn Thanh cung cấp cho các bạn những kiến thức về tài chính, pháp luật về ngân sách Nhà nước, ngân sách và quỹ ngân sách Nhà nước, quy định hệ thống ngân sách Nhà nước, tiêu chí - định mức - phân bổ và chi ngân sách,... Mời các bạn tham khảo.


English Vocabulary In Use Law

This book is in copyright. Subject to statutory exception and to the provisions of relevant collective licensing agreements, no reproduction of any part may take place without the written permission of Cambridge University Press.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

TRADE CONTACT ( ART 1-7)
  • 13/12/2009
  • 47.112
  • 294

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu