Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giới hạn sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn nhìn từ góc độ kỹ thuật quản trị rủi ro chênh lệch đáo hạn

Nghiên cứu này phân tích các kỹ thuật thường được sử dụng ở các nước nhằm quản trị rủi ro chênh lệch đáo hạn giữa tài sản và nguồn vốn (Maturity mismatch - MM) là một loại rủi ro mang đặc trưng đương nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q2 - 2016

Giới hạn sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để
cho vay trung, dài hạn nhìn từ góc độ kỹ
thuật quản trị rủi ro chênh lệch đáo hạn


Hoàng Công Gia Khánh

Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM - Email: hcgk@uel.edu.vn
(Bài nhận ngày 31 tháng 3 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 28 tháng 4 năm 2016)

TÓM TẮT
Nghiên cứu này phân tích các kỹ thuật
thường được sử dụng ở các nước nhằm quản trị
rủi ro chênh lệch đáo hạn giữa tài sản và nguồn
vốn (Maturity mismatch - MM) là một loại rủi
ro mang đặc trưng đương nhiên trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng. Dựa trên nền tảng này,
nghiên cứu thực hiện đánh giá quy định hiện
đang áp dụng ở Việt Nam về việc giới hạn sử

dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài
hạn - kỹ thuật mà Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (NHNN) quy định nhằm giám sát chênh
lệch kỳ hạn - để đánh giá vai trò thật sự của quy
định này nhằm ra các khuyến nghị có liên quan
để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro MM ở Việt
Nam.

Từ khoá: Chênh lệch đáo hạn, Chuyển đổi kỳ hạn, Thanh khoản, Maturity mismatch, Maturity
transformation.

1. GIỚI THIỆU
Từ năm 1992, Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) đã ban hành Thông tư 10-NH5 ngày
06/7/1992 và Quyết định 107/QĐ-NH5 ngày
09/6/1992 quy định về đảm bảo an toàn trong
hoạt động của các TCTD (TCTD). Liên quan
đến thanh khoản, hai quy định này của NHNN
chỉ đề cập đến chỉ tiêu đảm bảo khả năng chi trả.
Quy định tỷ lệ giới hạn sử dụng nguồn vốn ngắn
hạn để cho vay trung, dài hạn (tỷ lệ giới hạn)
được đề cập đến lần đầu tiên trong Quyết định
297/1999/QĐ-NHNN5 ngày 25/8/1999. Từ đó
đến nay, tỷ lệ giới hạn được thay đổi nhiều lần.
Thực tế cho thấy, tại mỗi thời điểm NHNN điều
chỉnh tỷ lệ giới hạn luôn nhận được nhiều phản
ứng khác nhau từ phía các ngân hàng thương
mại, các nhà đầu tư, giới kinh doanh bất động
Trang 58

sản và thị trường chứng khoán. Gần đây nhất là
các quan điểm trái chiều giữa NHNN, Bộ Xây
dựng, Hiệp hội kinh doanh bất động sản, lãnh
đạo các ngân hàng thương mại, các nhà đầu tư
trên thị trường chứng khoán 1 khi vào tháng
2/2016 NHNN công bố dự thảo sửa đổi Thông
tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 (TT 36)
với các tỷ lệ dự kiến điều chỉnh ở bảng 1. Điều
này cho thấy, tỷ lệ giới hạn không chỉ ảnh
hưởng đơn thuần đến hoạt động quản trị rủi ro
thanh khoản của các ngân hàng thương mại mà
còn ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính.
Bảng 1 cho thấy tỷ lệ giới hạn thay đổi bình
quân 3 năm/lần với mức độ thay đổi khá lớn,
1

http://cafef.vn/tin-tuc-du-an/pho-chanh-thanh-tra-nhnnthong-tu-36-chi-la-yeu-to-rat-nho-voi-thi-truong-bds20160229154046103.chn

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q2 - 2016
nhất là ở năm 2014 tăng từ 30% lên đến 60% và
chỉ sau hơn một năm chính thức có hiệu lực, tỷ
lệ này dự kiến sẽ điều chỉnh giảm còn 40%.
Theo NHNN, việc sửa đổi TT 36 trong đó điều
chỉnh tỷ lệ giới hạn là nhằm cảnh báo, phòng
ngừa và kiểm soát tốt hơn các rủi ro tiềm ẩn và
đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ
chức tín dụng. Mục tiêu này là hoàn toàn đúng
đắn và cần thiết. Tuy nhiên, liệu rằng tỷ lệ giới
hạn có phải là chỉ tiêu tốt nhất để giám sát rủi ro
chênh lệch đáo hạn của các ngân hàng hay

không?. Thực tế ở các nước phát triển và các
nước trong khu vực giám sát rủi ro chênh lệch
đáo hạn bằng những chỉ tiêu nào? Và, liệu rằng
với tần suất thay đổi tỷ lệ giới hạn khá dày, mức
độ thay đổi lớn trong lúc chưa có được lý giải
thuyết phục về mức ấn định có đem lại sự ổn
định thanh khoản của các ngân hàng, góp phần
đảm bảo cho hoạt động tín dụng ổn định hay
không? Bài viết này sẽ góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề này dựa trên kinh nghiệm từ các
nước và các số liệu thực tế ở Việt Nam.

Bảng 1. Tỷ lệ giới hạn từ 1999 đến 2016
TT

Đối tượng áp dụng


297
T8/99


381
T4/03


457
T4/05

TT
15
T8/09

20%1

30%

40%

30%

1

Ngân hàng thương
mại

2

Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài

20%

30%

40%

30%

3

TCTD phi ngân hàng

25

25%2

30%

30%

TT
13
T5/10

TT 15
còn hiệu
lực

TT
36
T11/14

DT
sửa
TT36

60%

40%

60%

40%

200%

80%

Ghi chú: Chỉ mới tính tên gọi hoặc ý nghĩa các chỉ tiêu, chưa đề cập đến các khác biệt trong quy định cụ thể tính toán. 1Riêng
TCTD nhà nước: 25%; 2Riêng TCTD cổ phần phi NH: 20%.

Nguồn: Tác giả tổng hợp
2. NGUYÊN TẮC CHUNG TRONG QUẢN
TRỊ RỦI RO CHÊNH LỆCH ĐÁO HẠN
Hoạt động kinh doanh truyền thống có tính
chất cơ bản của ngân hàng là nhận tiền gửi rồi
cho vay để hưởng chênh lệch lãi suất. Tuy
nhiên, các khoản cho vay của ngân hàng thường
có thời gian đáo hạn dài hơn so với nguồn vốn
huy động. Không những thế, trong lúc các ngân
hàng không thể tuỳ tiện thu hồi các khoản cho
vay thì người gửi tiền lại có quyền được rút tiền
gửi bất cứ lúc. Nói khác đi, quá trình “vay ngắn
hạn, cho vay dài hạn” gọi là chuyển đổi kỳ hạn
(maturity transformation) hay chênh lệch đáo
hạn (maturity mismatch) là chức năng vốn có
của ngân hàng (Rajan and Bird, 2003). Với chức
năng này, các ngân hàng sẽ có thể rơi vào tình
trạng không đủ tiền mặt để chi trả cho nhu cầu

rút vốn của người gửi tiền. Như vậy, mặc dù là
chủ thể cung cấp thanh khoản cho nền kinh tế
nhưng vì chính hoạt động này, các ngân hàng đã
phải đối mặt với rủi ro thanh khoản và càng tạo
ra thanh khoản cho nền kinh tế thì ngân hàng
càng đối mặt với rủi ro thanh khoản (Diamond
and Dybvig, 1983). Vì lý do đó, giám sát và
quản trị trị rủi ro chênh lệch đáo hạn nói riêng
và rủi ro thanh khoản là một trong những mối
quan tâm hàng đầu của cơ quan quản lý và các
nhà quản trị ngân hàng để tránh xảy ra sự sụp đổ
ngân hàng.
Tuy nhiên, trong quá khứ, các nhà quản lý
đặt mối quan tâm hàng đầu đối với chất lượng
tài sản, ít chú ý hơn đến rủi ro hệ thống nên
chưa xây dựng đầy đủ các chỉ tiêu liên quan đến
rủi ro thanh khoản nói chung và rủi ro chênh

Trang 59

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q2 - 2016
lệch đáo hạn. Các quy định pháp lý ít đề cập đến
sự phân biệt nguồn tài trợ cho các tài sản. Điều
này vô hình chung khuyến khích các ngân hàng
thực hiện chiến lược tài trợ dựa chủ yếu vào
nguồn vốn ngắn hạn. Hậu quả là cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã xảy ra vào năm
2007. Khủng hoảng sẽ giảm nhẹ hoặc thậm chí
sẽ không xảy ra nếu các ngân hàng duy trì được
một bộ đệm đủ lớn các tài sản có tính thanh
khoản cao và có chất lượng để dễ dàng sử dụng
khi có những bất ổn xảy ra ngoài dự tính.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007
cho thấy khi khủng hoảng khởi phát, rất nhiều
ngân hàng dù duy trì được mức vốn tối thiểu
nhưng vẫn lâm vào tình trạng khó khăn do
không đảm bảo được khả năng thanh khoản của
mình. Bên cạnh đó, trong điều kiện bình thường,
các thị trường tài sản thường rất sôi động, nguồn
vốn có thể huy động dễ dàng với chi phí thấp.
Tuy nhiên, khi thị trường biến động, các ngân
hàng nhanh chóng mất khả năng thanh khoản và
tình trạng mất thanh khoản có thể kéo dài đáng
kể, dẫn đến khủng hoảng trong toàn hệ thống
ngân hàng. Nguyên nhân của các vấn đề về
thanh khoản được cho là do yếu kém của các
ngân hàng trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ
bản của quản trị rủi ro thanh khoản đặc biệt là
quản trị rủi ro chênh lệch kỳ hạn. Vì vậy, năm
2008, Ủy ban Basel đã ban hành tài liệu Các
nguyên tắc để quản trị và giám sát rủi ro thanh

Trang 60

khoản lành mạnh (Principles for sound liquidity
risk management and supervision) quy định chi
tiết về quản trị và giám sát rủi ro thanh khoản
với mục tiêu khuyến khích các ngân hàng áp
dụng các biện pháp quản trị rủi ro tốt hơn. Ngoài
Ủy ban Basel, cũng có rất nhiều các nghiên cứu
sâu hơn về chủ đề quản trị rủi ro chênh lệch đáo
hạn, rủi ro thanh khoản như nghiên cứu của
Farhi và Tirole (2012), Morris và Shin (2010),
Brunnermeier và Oehmke (2012), trước đó là
Brunnermeier,Markus.K., Crockett,Andrew, Go
odhart,Charles, Persaud, Avinash và Shin, Hyun
Song (2009) chỉ ra rằng việc giám sát các ngân
hàng không nên chỉ bằng các quy định vi mô mà
phải tăng cường các quy định vĩ mô để tính đến
các rủi ro chung của thị trường.
Bên cạnh các quy định định tính liên quan
đến các nguyên tắc chung tổ chức bộ máy giám
sát, quy trình và hệ thống đánh giá, việc quản trị
rủi ro thanh khoản còn phải đảm bảo tuân chủ
các quy định định lượng với hai kỹ thuật thông
dụng: phương pháp tài sản thanh khoản và
phương pháp dòng tiền phù hợp. Phương pháp
tài sản thanh khoản yêu cầu các ngân hàng phải
duy trì tài sản thanh khoản đảm bảo cho nhu cầu
thanh khoản của tiền gửi. Trong khi đó phương
pháp dòng tiền phù hợp dựa trên bậc thang đáo
hạn của dòng tiền để yêu cầu các ngân hàng phải
duy trì tỷ lệ giới hạn giữa dòng tiền vào và dòng
tiền ra trong cùng một khoảng thời gian.

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 19, SỐ Q2 - 2016

Dòng tiền vào
ở thời điểm t

Dòng tiền ra ở
thời điểm t

Dòng tiền vào
ở thời điểm
t+1

Tài sản thanh khoản

Tài sản không
thanh khoản

Tài sản thanh khoản có thể bán để
phù hợp với nhu cầu tiền mặt

Dòng tiền ra ở
thời điểm t+1

Tổng tài sản

Nhu cầu tiền mặt
Phương pháp dòng tiền phù hợp

Phương pháp tài sản thanh khoản

Hình 1. Hai phương pháp quản trị thanh khoản
Nguồn: Korean Institute of Finance, 2010
3. QUY ĐỊNH CỦA CÁC NƯỚC ĐỂ QUẢN
TRỊ RỦI RO CHÊNH LỆCH ĐÁO HẠN
Anh, Singapore: Chênh lệch đáo hạn là chỉ
tiêu cơ bản để cơ quan giám sát theo dõi trạng
thái thanh khoản của các ngân hàng. Theo đó, cơ
quan giám sát dựa trên phương pháp dòng tiền
phù hợp, yêu cầu các ngân hàng đảm bảo được
tỷ lệ dòng tiền tích luỹ ròng (theo từng bậc
thang đáo hạn) so với tổng tiền gửi trong 8 ngày
kế tiếp (Singapore: 7 ngày) và 30 ngày kế tiếp.
Hà Lan: Từ năm 2003, cơ quan giám sát
ngân hàng yêu cầu các ngân hàng phải đảm bảo
cân bằng thanh khoản lớn hơn 0 cho thời hạn 1
tuần và 1 tháng kế tiếp.

Quy định thanh khoản này có tính đến cả rủi
ro thị trường và rủi ro quỹ thanh khoản thông
qua việc hiệu chỉnh hoặc ấn định trọng số tài
sản, nợ, dòng tiền vào và dòng tiền ra.
Đức, Pháp: Cơ quan giám sát yêu cầu các
ngân hàng phải duy trì tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa
tài sản thanh khoản so với tổng nợ đến hạn trong
vòng một tháng.
Trung Quốc: Quy định tỷ lệ không thấp hơn
25% giữa tài sản thanh khoản và nợ thanh khoản
sau đó tăng lên 41,7% kể từ sau khủng hoảng tài
chính thế giới năm 2007 đồng thời bổ sung quy
định mức tối đa 75% tỷ lệ giữa cho vay với tiền
gửi.

- Thanh khoản sẵn có bao gồm tài sản thanh
khoản chất lượng cao sẵn có, dòng tiền vào dự
tính trong 1 tuần/1 tháng kế tiếp;

Như vậy, quy định cụ thể về các chỉ tiêu để
đảm bảo thanh khoản nói chung và chênh lệch
đáo hạn nói riêng có sự khác biệt giữa các quốc
gia tuy nhiên các yêu cầu này nhìn chung được
xây dựng theo cùng một logic theo nguyên tắc
đảm bảo tương xứng giữa dòng tiền vào hoặc tài
sản thanh khoản so với dòng tiền ra hoặc nợ
thanh khoản cho cùng một kỳ hạn.

- Thanh khoản yêu cầu bao gồm nợ thanh
khoản và dòng tiền ra dự tính trong 1 tuần/1
tháng kế tiếp.

Basel III: Về phương diện quốc tế, Basel III
đã bổ sung hai chỉ tiêu liên quan đến yêu cầu
thanh khoản là tỷ lệ đảm bảo thanh khoản

Cân bằng thanh khoản = (Thanh khoản sẵn
có – Thanh khoản yêu cầu)/Thanh khoản yêu
cầu.
Trong đó:

Trang 61

SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No Q2 - 2016
(Liquidity Coverage Ratio - LCR) nhằm tăng
cường khả năng chống chọi của các ngân hàng
thông qua các nguồn thanh khoản chất lượng
cao để vượt qua thời kỳ khó khăn trong ngắn
hạn và tỷ lệ quỹ ổn định ròng (Net Stable
Funding Ratio - NSFR) nhằm tăng cường khả
năng chống đỡ thanh khoản trong dài hạn của
các ngân hàng thông qua việc tạo thêm các động
cơ để các ngân hàng huy động vốn từ các nguồn
ổn định hơn, trên cơ sở ngân hàng vẫn tiếp tục
hoạt động bình thường.
LCR là tỷ lệ giữa tài sản thanh khoản chất
lượng cao so với dòng tiền ra ròng trong 30
ngày kế tiếp và Basel III yêu cầu LCR tối thiểu
phải đạt 100%. Tài sản thanh khoản chất lượng
cao là tài sản có thể chuyển đổi ngay lập tức
thành tiền mặt mà không bị mất hay bị mất rất ít
giá trị, được chia thành tài sản cấp 1 và tài sản
cấp 2. Tài sản cấp 1 có thể được thêm vào dự trữ
các tài sản thanh khoản chất lượng cao của ngân
hàng không giới hạn trong khi tài sản cấp 2 chỉ
được chiếm tối đa 40% dự trữ. Tổng dòng tiền
ra thuần được xác định bằng hiệu số giữa tổng
dòng tiền ra dự tính và tổng dòng tiền vào dự
tính. Dòng tiền ra được tính theo giả định rút
vốn (run - off) căn cứ vào bản chất của nó.
Chẳng hạn, các khoản tiền gửi của các khách
hàng được chia thành hai nhóm: nhóm ổn định
và nhóm kém ổn định hơn. Nhóm ổn định bao
gồm các khoản tiền gửi được Chính phủ bảo
hiểm hoặc bảo lãnh (vì vậy hiếm khi có sự rút
vốn bất thường) với tỷ lệ rút vốn giả định là 5%.
Nhóm kém ổn định hơn có tỷ lệ rút vốn là 10%.
Việc tính toán tổng dòng tiền vào dựa trên giả
định không có vỡ nợ xảy ra trong vòng 30 ngày.
Lượng dòng tiền vào để bù đắp dòng tiền ra
được giới hạn tối đa bằng 75% dòng tiền ra.
Điều này có nghĩa là các ngân hàng phải duy trì
tài sản thanh khoản chất lượng cao tối thiểu
bằng 25% dòng tiền ra bất kể dòng tiền mặt vào
là bao nhiêu.

Trang 62

Kỹ thuật xác định LCR cho thấy, các ngân
hàng sẽ tính toán được khả năng đáp ứng nhu
cầu thanh khoản cấp bách trong 30 ngày và khi
LCR đảm bảo quy định tối thiểu, các ngân hàng
sẽ có thể chống đỡ với tình trạng khủng hoảng
kéo dài 30 ngày mà không phải bán đi các tài
sản có tính thanh khoản thấp.
NSFR là tỷ lệ giữa lượng vốn huy động ổn
định sẵn có so với lượng vốn huy động ổn định
cần thiết với thời gian tính trong 1 năm (tức là
dài hạn so với 30 ngày của LCR) và Basel III
yêu cầu NSFR phải đạt tối thiểu 100%. Lượng
vốn huy động ổn định có sẵn là nguồn vốn dự
kiến sẽ ổn định trong một khoản thời gian nhất
định, thường trong 1 năm. Để xác định, các
ngân hàng phải xếp giá trị sổ sách của tất cả các
loại vốn và tài sản nợ vào một trong năm nhóm
(theo quy định của Uỷ ban Basel) theo kỳ hạn và
khả năng rút vốn. Lượng vốn huy động ổn định
cần thiết phụ thuộc vào (i). đặc điểm thanh
khoản và kỳ hạn còn lại của tài sản mà tổ chức
đó nắm giữ; và (ii). đặc điểm thanh khoản và kỳ
hạn còn lại của giá trị của các khoản mục ngoại
bảng.
Kỹ thuật xác định NSFR cho thấy khi đảm
bảo được tỷ lệ này, các ngân hàng sẽ hạn chế sự
phụ thuộc quá mức vào các nguồn vốn ngắn hạn
từ các kênh huy động chính và cũng giúp các
ngân hàng đánh giá chính xác hơn rủi ro thanh
khoản của các khoản mục nội, ngoại bảng.
Như vậy, Basel III sử dụng hỗn hợp cả
phương pháp dòng tiền phù hợp và phương pháp
tài sản thanh khoản. Với kỹ thuật xác định LCR
và NSFR, quy định này rõ ràng là bao quát và
đầy đủ hơn so với bất kỳ chỉ tiêu mà từng quốc
gia đã quy định trước đây.

Tài liệu cùng danh mục Ngân hàng - Tín dụng

Ebook Fundamental accounting principles (22nd edition): Part 1

(BQ) Part 1 book "Fundamental accounting principles" has contents: Accounting in business, analyzing and recording transactions, completing the accounting cycle, inventories and cost of sales, accounting information systems, cash and internal controls, accounting for receivables, accounting for partnerships,...and other contents.


Bài giảng lý thuyết tài chính tiền tệ - chương 6 - Tài chính doanh nghiệp

Hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính, gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhắm đạt đến mục tiêu nhất định.


Đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Đồng Nai - Tiếp cận từ hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas

Trong bài viết, các tác giả tiến hành phân tích, đánh giá mức độ đóng góp của các loại nguồn lực cho sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đồng Nai. Cụ thể là nghiên cứu sự đóng góp của vốn đầu tư nhà nước, vốn đầu tư tư nhân trong nước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp.


ĐỀ THI TUYỂN DỤNG NHÂN VIÊN Môn Kế toán Ngân Hàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ ĐỀ THI TUYỂN DỤNG NHÂN VIÊN NGÀNH NGÂN HÀNG


Kỹ năng phân tích báo cáo tài chính

Tài liệu "Kỹ năng phân tích báo cáo tài chính" trình bày những nội dung chính sau: Hệ thống báo cáo tài chính trong doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp, phân tích tài chính dự án đầu tư.


Cách huy động vốn ngoài ngân hàng của doanh nghiệp

Tham khảo tài liệu 'cách huy động vốn ngoài ngân hàng của doanh nghiệp', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Đề tài: Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại ngân hàng TMCP Quân đội)

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng thương mại (nghiên cứu tại ngân hàng tmcp quân đội)', tài chính - ngân hàng, ngân hàng - tín dụng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Ebook Personal finance (10th edition): Part 1

(BQ) Part 1 book "Personal finance" has contents: Financial aspects of career planning, financial services - savings plans and payment accounts, introduction to consumer credit, choosing a source of credit - the costs of credit alternatives, consumer purchasing strategies and legal protection,...and other contents.


Credit market depth and income inequality in Vietnam: A panel-data analysis

Credit market depth and income inequality in Vietnam: A panel-data analysis. Financial development could exert various effects on income distribution of a country. By employing Generalized Method of Moment, this paper aims at examining the impacts of credit market depth, one of most used financial development barometers, on income inequality in Vietnam.


Bài giảng môn Thanh Toán Quốc Tế

Bài giảng môn Thanh Toán Quốc Tế của giảng Viên Nguyễn Thanh Phương DH Ngoại Thương HN


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu