Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may thành phố Cần Thơ

Bài viết Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may thành phố Cần Thơ trình bày đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may thành phố Cần Thơ dựa trên phân tích cung cầu các sản phẩm hỗ trợ dệt may. Từ 37 doanh nghiệp và hộ kinh doanh ngành dệt may được khảo sát tại các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, bằng cách sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả cùng với thang đo Likert 5 mức độ,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 164-174

DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.020

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY THÀNH
PHỐ CẦN THƠ
Nguyễn Minh Đãm, Võ Thành Danh* và Trương Thị Thúy Hằng
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Võ Thành Danh (vtdanh@ctu.edu.vn)
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 14/07/2017
Ngày nhận bài sửa: 15/09/2017
Ngày duyệt đăng: 28/02/2018

Title:
The development of textile
supporting industry at Cantho
City
Từ khóa:
Công nghiệp dệt may, công
nghiệp hỗ trợ
Keywords:
Supporting industry, textile
industry

ABSTRACT
The paper aimed to evaluate the development of the textile supporting
industry at Cantho city via supply and demand analyses of textile products.
Based on a sample of thirty-seven textile enterprises and small companies
at Ninh kieu, Binh Thuy, Cai Rang districts and using statistical
descriptive analyses with 5-scale Likert, the results showed that there were
constraints in supply of supporting textile products. It also revealed that
the supporting textile industry was not seperately to the textile industry.
That was, the textile supporting industry was not existed yet. The textile
technology was still dependent on outsiders at the low technology level.
The degree of afford on the supply and technology requirement of textile
supporting products were evaluated at frequent and high level
respectively. Besides, paper proposed policy recommendations to push the
development of the textile supporting industry such as development of
regional cooperation, technology reforms, training, credit support, and
private sector development.
TÓM TẮT
Bài viết đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
thành phố Cần Thơ dựa trên phân tích cung cầu các sản phẩm hỗ trợ dệt
may. Từ 37 doanh nghiệp và hộ kinh doanh ngành dệt may được khảo sát
tại các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, bằng cách sử dụng phương
pháp phân tích thống kê mô tả cùng với thang đo Likert 5 mức độ, kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng có những khó khăn về nguồn cung ứng sản phẩm
hỗ trợ dệt may. Kết quả cũng chỉ ra rằng ngành công nghiệp hỗ trợ dệt
may chưa được hình thành độc lập với ngành dệt may. Đó là, ngành công
nghiệp hỗ trợ dệt may chưa hình thành rõ nét. Công nghệ dệt may phần
nhiều vẫn phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài và trình độ công nghệ chủ
yếu là bán tự động và thủ công. Mức độ đáp ứng về nguồn cung cấp và
công nghệ của sản phẩm hỗ trợ được đánh giá ở mức độ thường xuyên, từ
trung bình đến cao. Bài viết cũng trình bày một số đề xuất chính sách nhằm
phát triển ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may như là:thúc đẩy
liên kết vùng, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và các chính
sách về hỗ trợ tín dụng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phát triển kinh tế
tư nhân.

Trích dẫn: Nguyễn Minh Đãm, Võ Thành Danh và Trương Thị Thúy Hằng, 2018. Giải pháp phát triển công
nghiệp hỗ trợ ngành dệt may thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
54(1D): 164-174.

164

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

1

Tập 54, Số 1D (2018): 164-174

là lĩnh vực của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát
triển CNHT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến
2020, do Bộ Công nghiệp (cũ) soạn thảo. Theo quy
hoạch này, kế hoạch và các giải pháp phát triển
CNHT bao gồm: tạo dựng môi trường đầu tư, phát
triển khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng,
đào tạo nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp đã
được đề xuất cho năm ngành công nghiệp ưu tiên:
Điện tử tin học, Dệt may, Da giày, Sản xuất và lắp
ráp ô tô, và Cơ khí chế tạo. Trong bản quy hoạch
này, CNHT được phân thành hai thành phần chính:
phần cứng liên quan đến sản xuất và phần mềm là
hệ thống dịch vụ công nghiệp và marketing. Có thể
thấy khái niệm CNHT của Việt Nam có nét khác biệt
so với các khái niệm ở các quốc gia khác: (i) CNHT
được xác định rộng hơn, từ khâu sản xuất nguyên
vật liệu đến cả các dịch vụ công nghiệp. Có thể thấy
khái niệm này làm cho các ngành CNHT mở rộng ra
rất nhiều, không chỉ bao gồm một số lĩnh vực công
nghiệp, không chỉ tập trung vào các DNNVV mà cả
các doanh nghiệp lớn, và điều này đồng nghĩa với
việc rất khó có thể tạo ra được trọng tâm trong
CNHT; (ii) các ngành CNHT được xác định trên cơ
sở các ngành công nghiệp hạ nguồn (như ngành lắp
ráp xe máy và ô tô, cơ khí, dệt may, da giày, điện
tử), không xác định trên đặc thù sản phẩm của ngành
sản xuất phụ trợ (cơ khí chế tạo, nhựa, điện tử, …).
Khái niệm này cũng được định nghĩa chưa rõ ràng,
cụ thể đối với doanh nghiệp hoặc những đối tượng
ngoài lĩnh vực nghiên cứu. Theo Ohno (2004), trong
quá trình công nghiệp hóa có sự đóng góp của ngành
CNHT, đó là: (i) các ngành hỗ trợ, (ii) năng lực công
nghệ và quản lý, và (iii) năng lực đổi mới, theo mức
độ khó tăng dần. Bảng 1 trình bày so sánh quá trình
công nghiệp hóa giữa các quốc gia. Công nghiệp hoá
của các nước đang phát triển thường bắt đầu từ lớp
1 với các quy trình công nghệ đơn giản phần lớn do
nước ngoài thiết lập. Tại lớp này, phần lớn đầu vào
được nhập khẩu từ nước ngoài. Tại lớp 2, khi việc
lắp ráp nội địa đạt mức đủ lớn, các ngành CNHT sẽ
phát triển (có thể là các nhà cung cấp địa phương
hoặc là các nhà cung cấp vốn đầu tư nước ngoài).
Tuy nhiên, việc sản xuất vẫn phụ thuộc cao vào công
nghệ và quản lý nước ngoài. Tại lớp 3, khả năng
quản lý và công nghệ được nội địa hoá và sự lệ thuộc
nước ngoài giảm đáng kể. Cuối cùng, tại lớp 4, quốc
gia đạt được khả năng sáng tạo ra các sản phẩm mới
và dẫn dắt sự phát triển công nghiệp trên bình diện
toàn cầu.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại thành phố Cần Thơ, ngành công nghiệp hỗ
trợ (CNHT) chưa phát triển. Nhiều ngành công
nghiệp chủ yếu của thành phố thiếu sự đi kèm của
các ngành CNHT có liên quan. Hiện tại, các doanh
nghiệp chưa đáp ứng được các yêu cầu về công
nghệ. Số doanh nghiệp tham gia CNHT rất ít. Việc
thiếu vắng một ngành CNHT thật sự là nỗi lo cho
chiến lược công nghiệp hóa nói riêng và chiến lược
phát triển kinh tế nói chung của thành phố Cần Thơ
trong thời gian tới.
Ngành dệt may hiện nay là ngành kinh tế quan
trọng của nền kinh tế. Đề án phát triển ngành CNHT
Việt Nam đã xác định ngành CNHT dệt may – da
giày là một trong ba ngành CNHT ưu tiên phát triển
đến năm 2020. Sản phẩm cuối cùng của ngành dệt
là vải, sợi; của ngành may là quần áo, màn cửa, chăn,
ga, gối, nệm,… Để tạo ra sản phẩm cuối cùng người
ta cần nguyên phụ liệu đầu vào. Các nguyên liệu đầu
vào ổn định, sẵn có thì ngành dệt may sẽ phát triển
ổn định. Ngành CNHT dệt may là những ngành
chuyên sản xuất và cung cấp những sản phẩm hỗ trợ
cho ngành dệt may. Thành phố Cần Thơ có hàng
ngàn doanh nghiệp, cơ sở dệt may và thu hút hàng
chục ngàn lao động tham gia. Việc phát triển một
ngành CNHT dệt may sẽ đem lại lợi thế vùng cho
thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu này tập trung phân
tích thực trạng và nhận dạng xu thế phát triển của
ngành CNHT dệt may tại thành phố Cần Thơ trong
thời gian tới. Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là
đánh giá tiềm năng, xu hướng phát triển của ngành
CNHT dệt may, và các giải pháp phát triển ngành
CNHT dệt may thành phố Cần Thơ. Các mục tiêu cụ
thể bao gồm: (i) Phân tích thực trạng ngành CNHT
dệt may thành phố Cần Thơ; (ii) Đánh giá tiềm năng,
thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển ngành
CNHT dệt may; (iii) Xác định nhu cầu và dự báo
phát triển ngành CNHT dệt may; và (iv) Đề xuất các
giải pháp phát triển ngành CNHT dệt may thành phố
Cần Thơ.
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghiên cứu của Nguyễn Kế Tuấn (2004) phân
tích vai trò và các yếu tố tác động đến phát triển
CNHT, và đề xuất một số chính sách chủ yếu để phát
triển CNHT. Trần Văn Thọ (2005) phân tích con
đường phát triển công nghiệp ở Việt Nam theo
hướng toàn cầu hoá, thông qua phát triển CNHT như

165

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 164-174

Bảng 1: Thực trạng phát triển công nghiệp hóa và đóng góp của ngành CNHT
Dạng

Chỉ lắp ráp

Lắp ráp và sản xuất
linh kiện

Năng lực nội địa hóa
cao

Đầy đủ năng lực đổi
mới

Đặc điểm
Không có các ngành hỗ trợ.
Phụ thuộc nặng nề vào công nghệ và quản lý của nước
ngoài.
Có các ngành hỗ trợ quan trọng
Vẫn phụ thuộc nặng nề vào công nghệ và quản lý của
nước ngoài.
Công nghệ và quản lý phần lớn được nội địa hóa
Có thể sản xuất các sản phẩm chất lượng cao nhưng
chưa thể đi đầu trong đổi mới hoặc thiết kế sản phẩm.
Trang bị đầy đủ năng lực nội địa bao gồm cả việc đổi
mới và thiết kế sản phẩm trong lĩnh vực phát minh
công nghệ.

Quốc gia
Việt Nam
Thái Lan, Malaysia
(Trung Quốc)
Hàn Quốc
Đài Loan
Nhật Bản, Mỹ, Liên
minh Châu Âu

Nguồn: Ohno (2004)

kiện lắp ráp, và (ii) phần mềm - bao gồm các bộ phận
thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công
nghiệp và marketing,… Thực tế cho thấy một hệ
thống sản xuất hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp
khác nhau có thể bao gồm nhiều tầng cấp, thứ bậc
khác nhau. Một nhà sản xuất lắp ráp có thể có nhiều
đối tượng hợp tác chuyên sản xuất và cung ứng các
sản phẩm hỗ trợ. Hình 1 mô tả các lớp cung ứng của
ngành CNHT. Thường thì một ngành CNHT có từ 3
đến 4 lớp cung ứng. Cần lưu ý là các doanh nghiệp
cung ứng lần lượt theo các lớp, nhưng vẫn cung ứng
cả cho các công ty khác, chứ không chỉ các doanh
nghiệp thể hiện trong sơ đồ.

3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1 Khái niệm về CNHT
CNHT là một khái niệm rộng, có tính chất tương
đối. Dù có nhiều định nghĩa khác nhau, các khái
niệm CNHT đều có các điểm chung như sau: Thứ
nhất, đó là việc cung ứng các linh phụ kiện cho mục
đích sản xuất sản phẩm cuối cùng; thứ hai, các
ngành CNHT bao gồm các công đoạn chủ yếu để
sản xuất các linh kiện nhằm phục vụ một số ngành
công nghiệp; thứ ba, việc cung ứng này chủ yếu
được đáp ứng bởi hệ thống các DNNVV có trình độ
công nghệ cao, thực hiện các cam kết hợp đồng với
khách hàng một cách chuẩn mực. Thứ tư, khách
hàng cuối cùng của các ngành CNHT thường là nhà
lắp ráp, do vậy, thị trường của CNHT không rộng
như sản xuất các sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Thị
trường hàng hoá của họ thu hẹp hơn, có những nhóm
sản phẩm nằm ở phần thị trường rất hẹp và chỉ dành
cho một số khách hàng nhất định. Đây chính là khó
khăn lớn nhất của phát triển CNHT. Mặc dù vậy, sản
xuất CNHT lại trở nên hấp dẫn và tương đối ổn định
nếu doanh nghiệp phụ trợ đó tìm được khách hàng
dài hạn, hoặc tìm được thị trường “ngách” cho mình.

Các đối tượng hỗ trợ lớp thứ nhất: Là các cơ sở
sản xuất tin cẩn nhất, được đầu tư vốn và chỉ chuyên
sản xuất các sản phẩm riêng của chính hãng thiết kế,
đặt hàng, thường gọi là hỗ trợ “ruột”. Các chi tiết
linh kiện cung ứng liên quan đến loại này thường là
các linh kiện cao cấp, nắm giữ bí quyết của sản
phẩm, tạo ra giá trị gia tăng cao cho sản phẩm cuối
cùng. Các doanh nghiệp hỗ trợ loại này thường là
các công ty con, chuyên sản xuất và cung ứng các
linh kiện nhỏ tiêu hao vật liệu ít, thay đổi thường
xuyên, có thể được vận chuyển để cung ứng cho các
chi nhánh lắp ráp của công ty mẹ trên toàn cầu.

Tại Việt Nam, cụm từ CNHT bắt đầu được sử
dụng từ năm 2003 và được chính thức hoá vào năm
2007, trong Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển
các ngành CNHT Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến
2020” do Bộ Công nghiệp (cũ), nay là Bộ Công
Thương soạn thảo và được Thủ tướng phê duyệt.
Trong đó, CNHT được định nghĩa là hệ thống các
nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có
khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp
nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng… cho khâu lắp
ráp cuối cùng.
3.2 Các thành phần của CNHT

Các đối tượng hỗ trợ lớp thứ hai: Thường là các
DNNVV độc lập, chuyên cung cấp các chi tiết, linh
kiện quan trọng cho các nhà cung ứng ở đối tượng
thứ nhất, hoặc cung ứng thẳng cho các nhà lắp ráp
theo một hợp đồng tương đối thường xuyên. Tên
tuổi của họ thường gắn liền với tên tuổi của công ty
lắp ráp hoặc các nhà hỗ trợ “ruột”. Mặc dù hãng
chính chỉ quan hệ với các đối tượng này theo quan
hệ hợp đồng gia công, nhưng đây là liên kết khá gắn
bó và được đảm bảo bằng thời gian hợp tác, uy tín,
quyền lợi cho cả hai bên. Sự hỗ trợ từ chính hãng,
hoặc từ các nhà sản xuất hỗ trợ ở lớp thứ nhất là khá
lớn, nhất là về kỹ thuật, nhân lực. Khi tập đoàn lắp
ráp mở nhà máy mới ở thị trường mới, các nhà sản

Theo Bộ Công Thương, CNHT Việt Nam được
phân chia thành hai thành phần chính: (i) phần cứng
- là các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ
166

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 164-174

xuất hỗ trợ ở nhóm này cũng được mời và ưu đãi
đầu tư theo.

ngành công nghiệp, sản phẩm cuối cùng, thị trường
tiêu thụ, chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm, chuỗi
cung ứng của sản phẩm cũng như đặc điểm về quốc
tịch của nhà lắp ráp.
3.3 CNHT ngành dệt may

Các đối tượng hỗ trợ lớp thứ ba: Là các cơ sở
sản xuất các sản phẩm hỗ trợ hàng loạt, mua sẵn,
quan hệ với nhà lắp ráp theo kiểu mua bán thông
thường. Đây thường là các chi tiết đơn giản, rẻ tiền,
cồng kềnh, có giá trị gia tăng thấp với hàm lượng
nguyên vật liệu trong sản phẩm cao, thường được
các công ty lắp ráp đa quốc gia đặt hàng ngay tại
quốc gia sở tại mà họ lắp ráp hoặc tiêu thụ sản phẩm
cuối cùng.
Như vậy, thông thường các nhà lắp ráp có thể có
3 đến 4 lớp doanh nghiệp cung ứng hỗ trợ. Trên thực
tế, có những nhà lắp ráp có thể có nhiều tầng cấp hỗ
trợ hơn nữa. Điều này phụ thuộc nhiều vào đặc thù
Sản xuất
Kéo
Dệt
 sợi
 vải

nguyên liệu

Các ngành sản xuất chính của ngành dệt may,
sắp xếp theo mối quan hệ dọc của chuỗi giá trị, được
trình bày trong Hình 2. Các giai đoạn sản xuất
nguyên vật liệu, kéo sợi, dệt, nhuộm là các giai đoạn
“hỗ trợ” cho ngành dệt may. Các ngành CNHT dệt
may bao gồm: sản xuất nguyên liệu (chủ yếu là tơ
sợi), cơ khí, dệt, nhuộm, in và phụ kiện may. Trong
đó, sản phẩm cuối của ngành dệt là sản phẩm đầu
vào của ngành may, do đó tách riêng ra có thể xem
ngành dệt là hỗ trợ của ngành may.
Nhuộm
Cắt
Phân phối
 may
 hàng may
in vải

Hình 1: Quá trình sản xuất hàng dệt may
Nguồn: Đặng Thị Tuyết Nhung (2010)

3.4

Khung nghiên cứu

thiếu hụt của các ngành CNHT này có thể tác động
đáng kể đến việc mở rộng hay duy trì một cụm công
nghiệp. Hơn nữa, phát triển của cụm công nghiệp
chịu ảnh hưởng rất lớn vào các chính sách công, đặc
biệt trong việc tạo lập các yếu tố môi trường kinh tế
thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh. Quá trình
xác định, phân tích và hỗ trợ các cụm công nghiệp
cần phải có thời gian, nguồn lực và sự hợp tác giữa
vùng, địa phương và các bên hữu quan. Phải mất
nhiều năm để phát triển tiềm lực cạnh tranh của các
ngành công nghiệp có mối quan hệ liên kết. Quá
trình phát triển cụm công nghiệp rất dài và có thể
chẳng bao giờ dừng. Một cụm công nghiệp được
xem là có lợi thế so sánh nếu sản phẩm, năng suất
và tốc độ tăng trưởng cao hơn các cụm khác.

Nghiên cứu này phát triển một khung nghiên cứu
dựa trên kết hợp lý thuyết cụm công nghiệp của
Porter (1990), lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh của
Rotschild (1990) được trích dẫn bởi Le The Gioi
(2005), và cách tiếp cận chuỗi cung ứng trong chuỗi
giá trị. Theo lý thuyết cụm công nghiệp, các công ty
sẽ chia sẻ các yêu cầu và các mối quan hệ bên trong
với nhà cung cấp và khách hàng. Các mối quan hệ
bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các
nhà tư vấn, đào tạo và huấn luyện, các tổ chức tài
chính, các công ty chủ chốt. Cụm công nghiệp sẽ tạo
ra lực lượng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch
vụ chất lượng cao, kết nối quan hệ giữa các cơ quan
quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên
cứu, các quỹ hỗ trợ và các bên hữu quan. Cụm công
nghiệp được phân biệt theo bốn yếu tố: (i) sự giới
hạn về địa lý, (ii) số lượng các ngành công nghiệp,
(iii) mối liên hệ, và (iv) lợi thế cạnh tranh. Một cụm
công nghiệp giống như chuỗi giá trị trong sản xuất
hàng hoá-dịch vụ, trong đó các ngành công nghiệp
được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch
vụ. Các quan hệ trong cụm công nghiệp được phân
thành 3 loại: (i) quan hệ mua - bán bởi sự tập trung
và hội nhập dọc giữa quá trình sản xuất chính với
các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ, (ii)
quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác
nhằm khai thác thông tin về sản phẩm và quy trình,
mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược, và
(iii) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng
sự chia sẻ công nghệ, lực lượng lao động và thông
tin. Hoạt động của các ngành CNHT và sự sẵn có
các dịch vụ liên ngành làm tăng khả năng sản xuất
sản phẩm chủ yếu trong cụm. Và sự sẵn có hay sự

Hệ sinh thái kinh doanh cho rằng một doanh
nghiệp là một thực thể sống của một hệ sinh thái (với
đầy đủ dấu hiệu và các hoạt động đặc thù của nó) một môi trường kinh doanh gắn với một vùng địa lý
nhất định. Các thành viên của một hệ sinh thái kinh
doanh hợp tác để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng,
và thậm chí còn liên kết chặt chẽ trong các vòng đời
của sự cải tiến. Như vậy, hệ sinh thái kinh doanh đặt
nền tảng thành công của mình trên sự song hành của
cạnh tranh và hợp tác. Hệ sinh thái kinh doanh được
xem là một cộng đồng kinh tế được hỗ trợ bởi nền
tảng là sự tương tác giữa các tổ chức và các cá nhân.
Chính cộng đồng này sẽ sản sinh ra các sản phẩm và
dịch vụ có giá trị cho khách hàng mà những người
này lại chính là một bộ phận của hệ sinh thái này.
Các tổ chức thành viên của hệ sinh thái có thể gồm
các nhà cung cấp, những nhà sản xuất chính, các đối
thủ cạnh tranh, và các bên hữu quan khác. Các doanh
nghiệp và cá nhân trong hệ sinh thái phải cạnh tranh,
167

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 164-174

đồng thời cũng phải hợp tác với nhau để cùng tồn
tại. Một hệ sinh thái kinh doanh sẽ bao gồm trong
nó khách hàng, các nhà sản xuất chính, đối thủ cạnh
tranh, các đối tác và các bên hữu quan. Theo cách
hiểu rộng hơn, hệ sinh thái kinh doanh là một hệ
thống mở rộng gồm các tổ chức hỗ trợ và phụ thuộc
lẫn nhau: khách hàng, các nhà cung cấp, các nhà sản
xuất, hệ thống tài chính, tổ chức thị trường, hiệp hội,
công đoàn, chính phủ và các tổ chức xã hội. Sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp hỗ trợ gắn
chặt với sự phát triển của các ngành mà nó hỗ trợ.
Cụ thể, các doanh nghiệp hỗ trợ có mối quan hệ
tương hỗ, cộng sinh và phụ thuộc lẫn nhau với các
doanh nghiệp lớn trong ngành mà chúng hỗ trợ. Các
doanh nghiệp sẽ phải hợp tác và cạnh tranh (xét trên
một góc độ rộng) để cùng tồn tại và phát triển. Cộng
đồng các doanh nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp
được hỗ trợ, các doanh nghiệp liên quan, hệ thống
các tổ chức, các trường đại học,... tạo ra một hệ sinh
thái kinh doanh. Như vậy, sự tồn tại và phát triển
của CNHT không thể tách rời các doanh nghiệp then
chốt của hệ sinh thái kinh doanh mà nó tham gia. Sự
hình thành và phát triển của CNHT trong một vùng
có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ với sự phát
triển của cộng đồng kinh doanh và liên quan đến các
thể chế cũng như các yếu tố khác của môi trường.
Việc thiết lập một chính sách thúc đẩy CNHT không
thể không tính tới vai trò của cộng đồng kinh doanh
và ảnh hưởng của thể chế và các nhân tố của môi
trường.
3.5 Thiết kế nghiên cứu
3.5.1 Nghiên cứu định tính

3.5.2 Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi để thu thập thông
tin. Bảng hỏi được lập dựa trên các biến số từ Khung
nghiên cứu bao gồm: thực trạng hoạt động của
doanh nghiệp, nhu cầu các sản phẩm hỗ trợ của
doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh doanh của doanh nghiệp. Thang đo sử
dụng trong nghiên cứu là thang đo Liker 5 mức độ.
Bảng hỏi được thiết kế cho các nhóm đối tượng khác
nhau: người quản lý cấp cao, cấp trung, và cấp thấp,
và người chủ doanh nghiệp.
3.6 Phương pháp chọn mẫu
Địa điểm nghiên cứu thuộc các quận Ninh Kiều,
Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng. Đối tượng nghiên cứu
là ngành CNHT dệt may của thành phố Cần Thơ.
Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp được
phân bổ tỷ lệ mẫu cao hơn so với các doanh nghiệp
ngoài khu công nghiệp. Cỡ mẫu điều tra là 37 quan
sát. Phương pháp chọn mẫu được sử dụng là chọn
mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Các quận được điều tra
là Ninh Kiều, Bình Thủy và Cái Răng. Đây là ba
quận trung tâm của thành phố Cần Thơ và là nơi có
nhiều DNDM. Bảng 2 trình bày cơ cấu mẫu điều tra
phân theo loại hình doanh nghiệp.
Bảng 2: Cơ cấu mẫu điều tra phân theo loại hình
doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty cổ phần
Hộ kinh doanh cá thể
Hộ gia đình
Tổng cộng

Các ngành CNHT cho ngành dệt may bao gồm:
sản xuất nguyên liệu, tơ sợi, sản xuất phụ kiện may,
cơ khí và in, nhuộm. Nghiên cứu còn xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển, sự cạnh tranh
của doanh nghiệp dệt may (DNDM) thông qua các
biến số liên quan đến ngành CNHT. Nghiên cứu nhu
cầu sản phẩm CNHT dệt may liên quan đến các yếu
tố: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, sự
hài lòng của doanh nghiệp, sự ổn định, mức độ đảm
bảo và thích ứng về nguồn cung cấp các yếu tố đầu
vào. Trong phân tích về các yếu tố cạnh tranh của
doanh nghiệp các biến số được đưa vào khảo sát là
vốn, nguồn nhân lực, máy móc thiết bị và nguồn
cung ứng đầu vào sẵn có. Trong phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DNDM, các biến
số được đưa vào khảo sát là quy mô doanh nghiệp,
nguồn nhân lực, sự hiện đại của máy móc thiết bị,
chính sách thể chế của nhà nước, sự sẵn có của
nguyên liệu chính, sự sẵn có của nguyên liệu phụ,
có một ngành CNHT, và các yếu tố khác.

Tần
số
11
17
4
3
2
37

Tỷ lệ
(%)
29,7
45,9
10,8
8,1
5,4
100,0

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Mô tả tính chất mẫu điều tra
Trong mẫu điều tra, đa số doanh nghiệp được
thành lập dưới 5 năm. Doanh nghiệp có số năm hoạt
động cao nhất là 24 năm. Doanh nghiệp có số năm
hoạt động dưới 5 năm chiếm cao nhất, chiếm 48,6%.
Doanh nghiệp có số năm hoạt động trên 10 năm
đứng thứ hai, chiếm 27% so với tổng số doanh
nghiệp được khảo sát. Các doanh nghiệp trong nhóm
này đa số là những doanh nghiệp chuyên dệt may và
cung cấp trang phục cho thị trường Cần Thơ. Ban
đầu là những hộ kinh doanh cá thể nhưng sau nhiều
năm kinh nghiệm đã nâng thành doanh nghiệp.

168

Tài liệu cùng danh mục Quản trị kinh doanh

Lãnh đạo giống quản lý?

Nhà quản lý xem con người là tài sản hoàn toàn theo nghĩa đen, trong khi đó nhà lãnh đạo xem con người là tài sản quý giá nhất theo đúng nghĩa của nó. Đó là một trong những điểm khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý.


Quản trị chất lượng

Đối tượng vật chất của quản trị chất lượng là sản phẩm. Do vậy việc nhận thức một cách đúng đắn về khái niệm sản phẩm là vô cùng quan trọng, để từ đó có thể đề ra những giải pháp đồng bộ, toàn diện để quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm. Mời các bạn tham khảo tài liệu này nhé.


Quick Team-Building Activities for Busy Managers 50 Exercises That Get Results in Just 15 Minutes_2

Tham khảo tài liệu 'quick team-building activities for busy managers 50 exercises that get results in just 15 minutes_2', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Lecture Cost management: A strategic emphasis (6/e): Chapter 13 – Blocher, Stout, Juras, Cokins

Chapter 13 - Cost planning for the product life cycle: target costing, theory of constraints, and strategic pricing. After studying this chapter, you will know: Explain how to use target costing to facilitate strategic management, apply the theory of constraints (TOC) to strategic cost management, describe how life-cycle costing facilitates strategic management, outline the objectives and techniques of strategic pricing.


Risk Management and Shareholders’ Value in Banking

Banks operating in the main developed countries have been exposed, since the Seventies, to four significant drivers of change, mutually interconnected and mutually reinforcing. The first one is a stronger integration among national financial markets (such as stock markets and markets for interest rates and FX rates) which made it easier, for economic shocks, to spread across national boundaries. Such an increased integration has made some financial institutions more prone to crises, sometimes even to default, as their management proved unable to improve their response times by implementing adequate systems for risk measurement and control....


Wiley Marketing Concepts Every Manager Needs to Know_7

Tham khảo tài liệu 'wiley marketing concepts every manager needs to know_7', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Quy trình vận hành chuẩn 2

Quy trình xuất nguyên vật liệu vào sản xuất


Bài giảng Văn hóa doanh nghiệp - Chương 5: Văn hóa và hội nhập toàn cầu

Văn hóa có thể được hiểu là những ý tưởng, tính ngưỡng, các giá trị và kiến thức được kế thừa của một nhóm người; Văn hóa giúp ta giải quyết 3 vấn đề: vật chất, triết lý và quan hệ.


Beyond Management Taking Charge at Work by Mark Addleson_5

Tham khảo tài liệu 'beyond management taking charge at work by mark addleson_5', kinh doanh - tiếp thị, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Cách phân biệt website kiếm tiền online uy tín.

Tài liệu Cách phân biệt website kiếm tiền online uy tín trình bày 6 câu hỏi và câu trả lời được nghiên cứu và tổng hợp từ nhiều trang web kiếm tiền online trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, giúp người đọc có thể tự mình phân biệt website kiếm tiền onlien uy tín.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

EFFECTIVE COMMUNICATION phần 4
  • 19/11/2011
  • 59.558
  • 447
GREAT PEOPLE DECISIONS
  • 13/04/2012
  • 81.457
  • 464
ĐỊNH VỊ DOANH NGHIỆP
  • 28/09/2011
  • 55.215
  • 769

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu