Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre đến năm 2020

Bài viết Giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre đến năm 2020 trình bày thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre. Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 159 quan sát, là các tác nhân tham gia hoạt động trong kênh phân phối muối,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 77-86

DOI:10.22144/jvn.2017.632

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH MUỐI
TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2020
Nguyễn Thị Hoài Tiên1 và Mai Văn Nam2
1
2

Trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long
Khoa Sau đại học, Trường Đại học Cần Thơ

Thông tin chung:
Ngày nhận: 07/06/2016
Ngày chấp nhận: 28/02/2017

Title:
Solutions for developing salt
production and business in
Ben Tre province until 2020
Từ khóa:
Hiệu quả sản xuất, kênh tiêu
thụ muối, tỉnh Bến Tre
Keywords:
Ben Tre province, production
efficiency, salt marketing
channel

ABSTRACT
The study was conducted to suggest solutions to develop salt production
and business in Ben Tre province. The data were collected from 159
observations involved in the marketing channels. The methods of data
analysis comprised descriptive statistics, analysis of marketing channels,
the cost-benefit analysis and financial ratios to evaluate the performance
of salt farmers. The results showed that the retailers gained the highest
profit margin, and followed by non-specialized salt wholesalers,
processing companies, salt-specialized wholesalers and collectors, while
salt farmers were lost due to high production costs. In addition, some
suggestions were proposed to enhance the efficiency of salt industry in Ben
Tre province regarding planning of salt-producing areas; application of
new production methods; business-link development in salt production and
distribution; cooperative establishment and support of accessing loans.
TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp phát triển các cơ sở sản
xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre. Dữ liệu của nghiên cứu được thu
thập từ 159 quan sát, là các tác nhân tham gia hoạt động trong kênh phân
phối muối. Các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích kênh
thị trường, các chỉ số tài chính được ứng dụng để phân tích hiệu quả hoạt
động sản xuất muối của diêm dân. Kết quả phân tích cho thấy, người bán
lẻ là tác nhân có lợi nhuận biên cao nhất kế đến là bán sỉ không chuyên về
muối, cơ sở chế biến, bán sỉ chuyên muối và thương lái, trong khi người
sản xuất muối bị lỗ do chi phí sản xuất cao. Cuối cùng, đề tài đã trình bày
một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
muối tại tỉnh Bến Tre như: tổ chức quy hoạch vùng sản xuất muối; áp
dụng phương pháp sản xuất mới; liên kết sản xuất - tiêu thụ, thành lập hợp
tác xã, hỗ trợ tiếp cận vốn vay.

Trích dẫn: Nguyễn Thị Hoài Tiên và Mai Văn Nam, 2017. Giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh
muối tỉnh Bến Tre đến năm 2020. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 48d: 77-86.
trường nội địa mà nhu cầu muối thế giới dự báo sẽ
tăng 2,7% mỗi năm đến năm 2018. Điều này cho
thấy nhu cầu tiêu thụ muối trong thời gian tới là rất
lớn, đây sẽ là một cơ hội tốt để phát triển ngành
hàng muối của cả nước. Tuy nhiên, thực tế ngành
hàng muối trong những năm qua cho thấy Việt
Nam chỉ chủ yếu xuất khẩu muối “thô” nhưng phải

1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2015, Cục chế biến nông lâm thủy sản và
nghề muối dự báo nhu cầu sử dụng muối tiêu dùng
và sản xuất nông - công nghiệp vào năm 2020 là
1,5 triệu tấn, trong khi tổng sản lượng muối hiện
nay cả nước mới đạt hơn 1,3 triệu tấn. Không chỉ
có tín hiệu khả quan đối với nhu cầu muối của thị
77

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 77-86

nhập hàng chục triệu USD muối chất lượng cao
phục vụ các ngành công nghiệp và y tế, lượng
muối sản xuất trong nước tồn kho không ngừng
tăng lên. Có thể thấy rằng, việc tìm đầu ra cho hạt
muối đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết trong
giai đoạn hiện nay.

 Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất và
tiêu thụ muối tỉnh Bến Tre;

Đối với ngành sản xuất muối tỉnh Bến Tre,
những năm qua cho thấy ngành hàng tồn tại nhiều
điểm yếu như sự phát triển của ngành thiếu ổn định
và bền vững do diêm dân sản xuất một cách tự
phát, phương pháp sản xuất thủ công, hạt muối làm
ra có chất lượng kém, hạn chế trong việc ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Và điểm
hạn chế quan trọng đối với ngành hàng muối hiện
nay là khâu tổ chức liên kết sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm còn rất yếu kém, khiến cho đầu ra của sản
phẩm không ổn định, điệp khúc “được mùa mất
giá” thường xuyên diễn ra, lượng muối tồn kho
năm 2015 lên đến 62,904 tấn, diêm dân thường
xuyên bị ép giá bởi thương lái. Không chỉ diêm dân
gặp khó khăn mà các tác nhân trong kênh tiêu thụ
muối của tỉnh cũng gặp không ít khó khăn như:
quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn, chịu sự cạnh tranh
gay gắt với các đối thủ trong và ngoài tỉnh. Vì
những lý do trên, tác giả thực hiện nghiên cứu
“Giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh
doanh muối tỉnh Bến Tre đến năm 2020”. Nghiên
cứu giúp đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu
thụ sản phẩm muối, nâng cao hiệu quả kinh tế cho
các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tại tỉnh Bến
Tre trong thời gian tới.

 Đề xuất giải pháp phát triển các cơ sở sản
xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre đến năm
2020.

 Phân tích hiệu quả tài chính của hoạt động
sản xuất muối tỉnh Bến Tre;
 Phân tích kênh phân phối sản phẩm muối tại
tỉnh Bến Tre;

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo,
tổng kết của các sở, cơ quan ban ngành có liên
quan như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
tỉnh Bến Tre, Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Bến
Tre,… các số liệu trên Internet, sách báo, tạp chí,
niên giám thống kê, các tài liệu nghiên cứu có liên
quan.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng
vấn trực tiếp các tác nhân theo kênh thị trường
bằng bảng câu hỏi cấu trúc. Theo các báo của Chi
cục Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre năm 2015,
cho thấy hiện nay hoạt động sản xuất muối của tỉnh
Bến Tre chỉ tập trung tại 2 huyện Ba Tri và Bình
Đại, do đó địa bàn được lựa chọn để tiến hành khảo
sát thu thập dữ liệu sơ cấp là 2 huyện này của tỉnh
Bến Tre, với tổng quan sát mẫu là 159. Đối với tác
nhân diêm dân, quan sát mẫu tại hai huyện được
chọn theo phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên
theo cách thuận tiện thông qua sự giới thiệu của
chính quyền địa phương tại 2 huyện, các tác nhân
khác được chọn theo liên kết trong kênh thị trường
(GTZ, 2007). Cơ cấu quan sát mẫu được thể hiện
trong Bảng 1.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu giải pháp phát triển các cơ sở sản
xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre đến năm
2020 được thực hiện với các mục tiêu cụ thể như
sau:
Bảng 1: Phân phối mẫu khảo sát
TT
1
2
3
4
5
6
7
Tổng

Tác nhân
Diêm dân
Thương lái
Cơ sở chế biến
Bán sỉ chuyên về muối
Bán sỉ không chuyên về muối
Bán lẻ
Người tiêu dùng

Số quan sát
97
12
4
3
3
5
35
159

Phương pháp thu thập
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp/ điện thoại
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn trực tiếp

Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2015

muối của diêm dân tỉnh bến tre; phương pháp phân
tích kênh thị trường (Marketing channel) được sử
dụng để xác định chi phí marketing và marketing
biên tế, lợi nhuận biên, qua đó so sánh lợi ích và
giá trị nhận được của các chủ thể tham gia sản xuất
và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre.

3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê
mô tả nhằm phân tích thực trạng sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm muối của diêm dân tỉnh Bến Tre; các
chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả sản xuất
78

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 77-86

truyền thống, xuất hiện vào năm 1950, tập trung ở
2 huyện Ba Tri và Bình Đại. Tình hình sản xuất
muối của tỉnh những năm qua được thể hiện qua
Bảng 2:

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng sản xuất và hiệu quả sản
xuất muối của diêm dân tỉnh Bến Tre
Nghề sản xuất muối ở tỉnh Bến Tre là nghề

Bảng 2: Tình hình sản xuất muối thủ công của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006 - 2015
NĂM
Diện tích
Sản lượng
Năng suất
Giá bán

ĐVT
Ha
Tấn
Tấn/ha
Đồng/kg

2007
2008
793
926
29.203 44.470
36,8
48,0
825 1.700

2009
2010
2011
2012
2013
2014
1.427 1.652 1.547 1.431 1.550 1.550,1
54.970 80.940 61.114 36.300 70.080 69.300
38,5
49,0
39,5
25,4
45,2
44,7
1.450
400
700 1.025 1.300 1.000

2015
1.597,1
100.354
62,8
600

Nguồn: Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, 2015

Qua bảng số liệu cho thấy tình hình sản xuất
muối thủ công của tỉnh Bến Tre có sự biến động
mạnh cả về diện tích lẫn năng suất sản xuất và
mang tính tự phát, không ổn định qua các năm. Cụ
thể năm 2010, diện tích sản xuất muối lớn nhất
1.652 ha và năm 2007 có diện tích sản xuất muối
thấp nhất 793 ha. Sự biến động về diện tích sản
xuất là do người dân sản xuất một cách tự phát, địa
phương chưa thực hiện tốt khâu quy hoạch vùng
sản xuất muối của tỉnh.

đất. Phương pháp sản xuất này có công nghệ sản
xuất lạc hậu, chủ yếu dựa vào sức người, chi phí
cao (chi phí thu hoạch và tiêu thụ muối, chi phí lao
động, chi phí thuê đất,...), muối thô sản xuất tại
tỉnh Bến Tre có chất lượng thấp do tỷ lệ NaCl thấp,
độ ẩm cao, hàm lượng sunfat rất cao, 03 chỉ tiêu
chất rắn không tan trong nước, magie, Canxi vượt
ngưỡng cho phép so với tiêu chuẩn TCVN
9640:2013 quy định về yêu cầu kỹ thuật đối với
muối công nghiệp (thể hiện ở Bảng 2).

Nhìn chung, trình độ học vấn của chủ hộ còn
rất thấp, trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ cao nhất
53,6%; trình độ trung học cơ sở chiếm 35,1%.
Trình độ học vấn thấp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả
sản xuất muối của người dân. Tuy có trình độ học
vấn thấp, nhưng số năm kinh nghiệm sản xuất
muối của diêm dân khá cao, trung bình là 26 năm,
thấp nhất là 2 năm và cao nhất là 60 năm.

Chất lượng muối kém đã dẫn đến muối của tỉnh
nhà không đáp ứng được nhu cầu của ngành công
nghiệp. Qua phỏng vấn trực tiếp với lãnh đạo của
Công ty Cổ phần Muối và Thương mại Bến Tre
cho biết lượng muối sản xuất tại tỉnh nhà được
công ty sử dụng rất hạn chế do chất lượng muối thô
sản xuất tại tỉnh Bến Tre thấp, lẫn nhiều tạp chất,
hàm lượng chất rắn không tan trong nước cao. Nếu
mua muối thô sản xuất tại Bến Tre về chế biến sẽ
không có lợi nhuận vì tỷ lệ hao hụt sau khi rửa ở
mức cao trên 15%.

Kết quả khảo sát cho thấy có đến 99% hộ sản
xuất theo phương pháp truyền thống – phương
pháp phơi nước phân tán, sản xuất muối trên nền

Bảng 3: Kết quả chất lượng muối tỉnh Bến Tre so với TCVN 9640:2013
ĐVT: % trọng lượng chất khô
Số
TT
1
2
3
4
5
6

Tiêu chí
Độ ẩm, % khối lượng
Hàm lượng natri clorua, % khối lượng chất khô
Hàm lượng chất không tan trong nước, % khối lượng chất khô
Hàm lượng ion canxi (Ca2+), % khối lượng chất khô
Hàm lượng ion magie (Mg2+), % khối lượng chất khô
Hàm lượng ion sulfat ( SO 24  ), % khối lượng chất khô

Tiêu chuẩn Chất lượng muối
TCVN
tỉnh Bến Tre
≤ 6,00
10,38
≥ 96,50
88,64
≤ 0,30
0,583
≤ 0,20
0,285
≤ 0,15
0,109
8,52
≤ 0,70

Nguồn: Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, 2014

Qua điều tra cho thấy, hoạt động mua bán muối
của diêm dân đa số diễn ra tại ruộng muối (chiếm
99%), nguyên nhân là do các hộ không đủ vốn để
đầu tư các phương tiện chuyên chở. Thương lái
đường dài là đối tượng thu mua muối chủ yếu của
diêm dân, và việc mua bán không có hợp đồng
chiếm 75,3%. Tình hình tiêu thụ muối hiện nay

được 79,3% diêm dân đánh giá là khó khăn, do giá
cả thị trường bấp bênh, chất lượng muối thấp
không đáp ứng được nhu cầu thị trường nên lượng
muối tồn kho ngày càng tăng. Theo số liệu thống
kê của Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre,
đến tháng 9 năm 2015 lượng muối tồn trong diêm
dân là 62.904 tấn muối thô, trong doanh nghiệp là
79

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ

Tập 48, Phần D (2017): 77-86

khá cao (185 đồng/kg), trong khi hộ không tham
gia THT sản xuất theo phương thức truyền thống
không phải tốn chi phí này. Tuy nhiên, doanh thu
cho 1 kg muối của nhóm hộ tham gia THT cao hơn
194,82 đồng so với nhóm hộ không tham gia THT,
nguyên nhân là muối được sản xuất theo phương
pháp trải bạt có chất lượng cao hơn, hạt muối trắng
và nặng hạt hơn so với muối được sản xuất theo
phương pháp truyền thống. Kết quả, hoạt động sản
xuất muối mang lại cho nhóm diêm hộ tham gia
THT lợi nhuận đạt 99,50 đồng/kg, trong khi nhóm
không tham gia THT bị lỗ 30,63 đồng/kg. Điều này
cho thấy việc chuyển đổi phương thức sản xuất
muối thủ công sang phương pháp sản xuất muối
trải bạt là một trong những vấn đề mà địa phương
cũng như nông hộ cần chú trọng nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất muối. Qua phân tích các tỷ số tài
chính cho thấy được các hộ tham gia THT có hiệu
quả hoạt động cao hơn hộ không tham gia THT. Cụ
thể, cứ 1.000 đồng chi phí bỏ ra để sản xuất muối
thì nhóm hộ tham gia THT sẽ thu được 100 đồng,
trong khi nhóm hộ không tham gia THT bị lỗ,
doanh thu không đủ trang trải cho chi phí, dẫn đến
tỷ suất lợi nhuận trên chi phí là -0,03 lần. Kết quả
phân tích này cho thấy, vấn đề tổ chức liên kết sản
xuất và tiêu thụ muối thông qua các THT là vô
cùng quan trọng nhằm ổn định thị trường đầu ra
cho hạt muối.

1.893 tấn. Ngoài ra, các hộ diêm dân còn gặp phải
một số khó khăn như: thiếu vốn, hạn chế trong việc
tiếp cận thông tin thị trường, kỹ thuật và công
nghệ, cơ sở hạ tầng vùng muối kém gây ảnh hưởng
đến quá trình vận chuyển và tiêu thụ muối.
4.2 Phân tích hiệu quả sản xuất muối của
diêm dân tỉnh Bến Tre
Hiện nay, trên địa bàn nghiên cứu chưa thành
lập hợp tác xã muối mà chỉ tồn tại các tổ hợp tác
(THT) sản xuất và tiêu thụ muối, nhưng do nhận
thức của diêm dân trong việc liên kết sản xuất và
tiêu thụ chưa cao, nên số người tham gia THT còn
rất ít. Để thấy rõ được lợi ích của việc liên kết sản
xuất và tiêu thụ muối, bảng dưới đây so sánh về
hiệu quả sản xuất giữa hai nhóm diêm dân có và
không có tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ
muối thông qua THT.
Cụ thể, hộ tham gia THT có doanh thu, lợi
nhuận cao hơn so với những hộ không tham gia
THT. Kết quả cho thấy năng suất trung bình của 2
nhóm diêm hộ chênh lệch không cao, nhóm hộ
tham gia THT có năng suất (64,29 tấn/ha) thấp hơn
nhóm diêm hộ không tham gia THT (64,68 tấn/ha)
là 0,39 tấn/ha. Mặc dù tổng chi phí để sản xuất 1
kg muối của nhóm hộ tham gia THT cao hơn 64,69
đồng so với chi phí sản xuất của nhóm hộ không
tham gia THT, do hộ tham gia THT sản xuất muối
theo phương thức trải bạt nên chi phí cho phần bạt
Bảng 4: Hiệu quả sản xuất muối của diêm dân
Chỉ tiêu
Năng suất TB (tấn/ha)
Doanh thu
Tổng chi phí
Lợi nhuận
Chi phí LĐGĐ(1)
Thu nhập
Thu nhập/ Ngày công LĐGĐ
Lợi nhuận/ doanh thu
Lợi nhuận/chi phí
Thu nhập/chi phí

Đơn vị tính
Tấn/ha
Đồng/kg
Đồng/kg
Đồng/kg
Đồng/kg
Đồng/kg
Đồng/ngày

Hộ tham gia THT
64,29
1.133,00
1.033,50
99,50
404,44
503,95
124.600
0,09
0,10
0,49

Hộ không tham gia THT
64,68
938,18
968,81
-30,63
553,90
523,28
113.400
-0,03
-0,03
0,54

Nguồn: Số liệu điều tra, 2015
Ghi chú: (1) Lao động gia đình

4.3 Kênh phân phối sản phẩm muối tỉnh
Bến Tre

Có thể thấy rằng, kênh tiêu thụ muối thủ công
tỉnh Bến Tre gồm nhiều kênh, tuy nhiên kênh số 1
giữ vai trò quan trọng, tiêu thụ khối lượng lớn sản
lượng muối của diêm dân, kênh này cho thấy muối
của tỉnh Bến Tre chủ yếu được tiêu thụ bởi các
thương lái đường dài. Các kênh còn lại chủ yếu là
các kênh trung gian hoặc có lưu lượng sản phẩm đi
qua rất ít.

Dựa trên kết quả điều tra về cơ cấu sản lượng
bán ra của mỗi tác nhân tham gia kênh, tác giả tính
toán và tổng hợp tỷ lệ lượng muối tiêu thụ qua từng
tác nhân trong kênh phân phối muối. Tỷ lệ cụ thể
được thể hiện qua Hình 1.




80

Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cầ n Thơ






Diêm
dân





1,04

Tập 48, Phần D (2017): 77-86

Thương lái
địa phương

1,04%
8,63%

98,75% Thương lái
đường dài

19,21%
38,07%

Nhà bán sỉ
chuyên về
muối

57,64
20,24

Nhà
bán
lẻ

12,24
0,02%
Cơ sở
chế biến
lớn
0,04%
0,21

Cơ sở
chế biến nhỏ

66,05

Người
tiêu
dùng
nội địa

2,59%
9,66%

Nhà bán sỉ
không
chuyên về
muối


Xuất
khẩu

7,25%
2,42%
0,12%



0,06%

Hình 1: Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm muối thủ công tỉnh Bến Tre
Nguồn: Số liệu điều tra thực tế, 2015

Sản phẩm muối tỉnh Bến Tre được phân phối ra
thị trường theo các kênh chủ yếu sau đây:

Người bán lẻ sau đó sẽ phân phối muối đến tay
người tiêu dùng (tại các chợ, sạp trái cây,...).

Kênh 1: Diêm dân  Thương lái đường dài 
Bán sỉ chuyên về muối  Bán lẻ  Người tiêu
dùng nội địa

Kênh 3: Diêm dân  Thương lái đường dài 
CSCB  Xuất khẩu
Ngoài 2 đối tượng thu mua muối của thương lái
đường dài là bán sỉ chuyên về muối và nhà bán lẻ,
thương lái đường dài còn bán cho CSCB. Sau khi
thu mua muối của diêm dân, thương lái đường dài
sẽ bán cho CSCB với tỷ lệ khá thấp 12,24%,
nguyên nhân là do chất lượng muối của tỉnh chưa
đạt yêu cầu chất lượng đầu vào của CSCB. Sau khi
mua muối, công ty tiến hành chế biến thành các sản
phẩm muối khác nhau sau đó phân phối chủ yếu
cho các nhà bán sỉ không chuyên về muối (9,66%),
lượng muối được xuất khẩu sang các thị trường
chiếm rất ít 2,59% tổng sản lượng toàn kênh.

Muối sau khi được thu hoạch, diêm dân bán
cho thương lái đường dài chiếm 98,75% toàn sản
lượng muối sản xuất ra. Sau đó, thương lái đường
dài sẽ vận chuyển sang các tỉnh khác thuộc Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) để phân phối cho
các đối tượng tiếp theo, trong đó bán cho bán sỉ
chuyên về muối (những tiệm tạp hóa lớn, có vị trí
kinh doanh khá gần với các cơ sở chế biến, tập
trung tại các chợ, họ mua muối đã qua chế biến từ
các CSCB và đem phân phối lại cho các tiệm tạp
hóa nhỏ hơn và người tiêu dùng trong địa phương)
là nhiều nhất với sản lượng chiếm 57,64%. Sau khi
nhận hàng từ thương lái, bán sỉ chuyên về muối
tiếp tục phân loại để bán cho nhà bán lẻ và người
tiêu dùng. Qua đó ta thấy sản lượng mua bán muối
được bán đến người tiêu dùng thông qua kênh 1
lớn nhất trong tất cả các kênh chi tiết.

Kênh 4: Diêm dân  Thương lái địa phương
Người tiêu dùng nội địa
Ở kênh này thương lái địa phương thu mua
muối của diêm dân tại ruộng muối với sản lượng
1,04% tổng sản lượng toàn kênh, sau đó sẽ phân
phối lại cho người tiêu dùng, chủ yếu là chở đi bán
cho những địa phương nơi mà người dân sống bằng
nghề đánh bắt cá như An Thủy, Tân Thủy,… để
ướp cá, làm mắm, làm nước mắm,...

Kênh 2: Diêm dân Thương lái đường dài
Bán lẻ Người tiêu dùng nội địa
Muối thô đa phần được bán cho thương lái
đường dài (chiếm 98,75%). Ngoài phần sản lượng
thương lái bán cho nhà bán sỉ chuyên về muối thì
thương lái đường dài còn bán trực tiếp cho người
bán lẻ với tỷ lệ là 20,24% tổng sản lượng của kênh.

Kênh 5: Diêm dân  Cơ sở chế biến nhỏ 
Bán lẻ  Người tiêu dùng nội địa

81

Tài liệu cùng danh mục Quản trị kinh doanh

Protect Your Wealth from the Ravages of Inflation_5

Tôi sẽ giả sử bạn đã đi và đã làm bài tập ở nhà của bạn và đã trở lại với khủng khiếp MAR tỷ lệ ít hơn nhiều hơn 0,5, hoặc thậm chí ít hơn nhiều hơn không. Và CAGRs của bạn có lẽ không nơi nào gần các cuộc đàm phán "tiêu chuẩn" tất cả mọi người 10% về, và bạn có thể có các khoản giải ngân ít nhất 50%, nếu không tiến gần hơn đến 60%.


Sử dụng hàng hiệu là khẳng định đẳng cấp?

Nếu xét từng từ thì “đẳng cấp” có thể hiểu là cấp bậc hay vị trí, địa vị của một người/ một nhóm người này so với một người/ một nhóm người khác. Nếu so sánh với tiếng Anh thì đẳng cấp chỉ đồng nghĩa với “Rank” hay “Level”, tuyệt đối không liên quan gì đến “chất lượng ” cả.


Quyết định đầu tu

1. Khái niệm về đầu tư Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là quá trình hoạt động sử dụng vốn để hình thành nên các tài sản cần thiết nhằm mục đích tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài trong tương lai.


Invent Business Opportunities No One Else Can Imagine phần 2

Để thực sự giúp tổ chức đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngày nay và chuẩn bị cho ngày mai, tầm nhìn phải được thực dụng và unabashedly bifocal: đồng thời phải vẽ một bức tranh được các cơ hội ngày nay và các 'đặt cược tốt nhất" của ngày mai, và, khi đẩy đến xô, nó phải ưu tiên thứ hai. "Oren Harari, nhảy suy nghĩ cạnh tranh onventional cho thấy giới hạn trên thành tích được xác định bằng cách có hiệu quả, chúng ta xây dựng vào quá khứ. ...


giáo trình PUBLIC RELATION TRONG MARKETING phần 9

Tóm lại: Dãy sản phẩm nói lên chiều dài. Hệ sản phẩm nói lên chiều rộng. Product-mix Product lines Product item Product item Product item Product item Product item Product item Product item Product item Product item Th.S Dinh Tien Minh 7 Chieàu roäng phoå haøng vaø chieàu daøi heä haøng caùc saûn phaåm P&G BOÄT GIAËT KEM ÑAÙNH RAÊNG Ivory snow Dreft Tide Joy Cheer \Oxydol Dash Cascade Ivory liquid Gain Dawn Era Bold 3 Liquid tide Solo Gleem Crest XAØ BOÂNG CUÏC Ivory Camay Lava Kirk's Zest Safeguard Coast KHÖÛ MUØI Secret Sure TAÕ LOÙT XAØI MOÄT LAÀN Pampers Luvs CAØ PHEÂ Folger's Instant folger's High Point Instant...


Beat the Street II: I-Banking Interview Practice Guide phần 3

từ các cuộc phỏng vấn Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh liên kết? Theo tin nội bộ của chúng tôi, câu hỏi được không khác nhau đáng kể giữa hai nhóm (với ngoại lệ có thể có của các loại kỹ thuật, chúng tôi sẽ giải thích chi tiết hơn sau này). Cho dù bạn đang phỏng vấn như một nhà phân tích hy vọng một liên kết,


Nghệ thuật lãnh đạo

Quyền lực vị trí: gắn liền với những vị trí cụ thể Quyền lực cá nhân: mỗi cá nhân đều có quyền lực riêng của mình Quyền lực chính trị: có được thông qua các hoạt động mang tính chất chính trị


Lecture Managing diversity in Australia: Chapter 13 - Glenda Strachan, Erica French, John Burgess

Chapter 13 - The diversity and complexity of disability. The main contents of the chapter consist of the following: Defining disability, statistics on the incidence of disability, employment statistics, nature of disability,...


Quản trị Kinh doanh Quốc tế - Tình huống 2: FDI của Starbucks

Starbucks là một nhà rang cà phê và bán lẻ cà phê toàn cầu với trên 8.400 cửa hàng, trong đó hơn 2.000 cửa hàng ở trên 31 quốc gia khác. Tình huống sau đây sẽ đi tìm hiểu hoạt động kinh doanh và những bài học kinh doanh được rút ra từ công ty này. Mời các bạn cùng tham khảo.


Systems Thinking: Creative Holism for Managers Michael C. Jackso

Too often, today's managers are sold simple solutions to complex problems. But as many soon discover, simplicity is rarely effective in the face of complexity, change and diversity. Despite apparent promise, quick-fix panaceas fail because they are not holistic or creative enough. They focus on parts of the organization rather than the whole, take little account of interaction, and pander to the notion that there is one best solution in all circumstances. As instances of such failure escalate, intelligent managers are increasingly seeking to improve results through Systems Thinking....


Tài liệu mới download

Bệnh Viêm phổi ở trẻ em
  • 28/09/2012
  • 63.497
  • 131
Tên Sát Nhân Có Tài Mở Khóa
  • 21/05/2013
  • 16.389
  • 881
Cái Chết Cô Ca Sĩ Trẻ
  • 19/05/2013
  • 72.145
  • 822

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Managing CRM for Profit 2011
  • 28/11/2012
  • 98.006
  • 172
PHẦN MỀM QUẢN LÝ VẬT TƯ
  • 02/05/2010
  • 90.751
  • 225

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu