Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Giá trị và tác động của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc

Bài viết trình bày tổng quan những nội dung chính của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc – một phán quyết được đánh giá là sẽ tạo ra bước ngoặt lịch sử cho vấn đề tranh chấp Biển Đông; phân tích ý nghĩa, giá trị pháp lý và hiệu lực ràng buộc của Phán quyết này, dự báo hành động tiếp theo của Trung Quốc và cách thức buộc quốc gia này tuân thủ Phán quyết.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 9-21

Giá trị và tác động của Phán quyết ngày 12/7/2016
của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển
năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc
Nguyễn Bá Diến*, Đồng Thị Kim Thoa
Khoa Luật, ĐHQGHN, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 15 tháng 7 năm 2016
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 8 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 9 năm 2016

Tóm tắt: Bài viết trình bày tổng quan những nội dung chính của Phán quyết ngày 12/7/2016 của
Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa
Philippines và Trung Quốc – một phán quyết được đánh giá là sẽ tạo ra bước ngoặt lịch sử cho vấn
đề tranh chấp Biển Đông; phân tích ý nghĩa, giá trị pháp lý và hiệu lực ràng buộc của Phán quyết
này, dự báo hành động tiếp theo của Trung Quốc và cách thức buộc quốc gia này tuân thủ Phán
quyết. Bài viết cũng phân tích tác động của Phán quyết này đối với Việt Nam và bước đầu đề xuất
một số giải pháp cần thực hiện trong tiến trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán ở Biển Đông.
Từ khóa: Phán quyết, Tòa Trọng tài, vụ kiện, Philippines, Trung Quốc, Việt Nam.

ước của Liên hợp quốc (LHQ) về luật biển năm
1982 (UNCLOS, sau đây gọi là Công ước Luật
biển, hoặc Công ước) vào tháng 02/2013, được
xem là "vụ kiện lịch sử", "vụ kiện thế kỷ". Theo
Thông cáo ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài
Quốc tế Thường trực (Permanent Court of
Arbitration - PCA), Phán quyết của Toà Trọng
tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật
biển (gọi tắt là Tòa Trọng tài) trong vụ việc
Philippines kiện Trung Quốc (sau đây gọi tắt là
Phán quyết trọng tài quốc tế ngày 12/7/2016,
hoặc Phán quyết) đã được ban hành. Với 497
trang, Phán quyết trọng tài quốc tế ngày
12/7/2016 đã góp phần giải thích và làm sáng tỏ
nhiều vấn đề chưa được Công ước Luật biển
quy định rõ, đồng thời vạch trần tính phi lý, phi
pháp của các yêu sách của Trung Quốc trong
khu vực Biển Đông. Trong bài viết này, các tác



Do vị trí chiến lược và tầm quan trọng đặc
biệt đối với các lĩnh vực kinh tế-xã hội, quốc
phòng-an ninh, Biển Đông (tên quốc tế là South
China Sea) đã trở thành đối tượng tranh chấp
gay gắt giữa các quốc gia trong khu vực, đặc
biệt là tham vọng độc chiếm Biển Đông với yêu
sách “đường chín đoạn” phi lý của Trung Quốc,
đồng thời cũng là địa bàn tranh giành ảnh
hưởng của nhiều cường quốc trên thế giới.
Trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông ngày
càng diễn biến phức tạp với nhiều vấn đề nan
giải, thách thức trên nhiều phương diện, vụ việc
Cộng hoà Philippines khởi kiện Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa (Trung Quốc) ra Tòa Trọng tài
quốc tế được thành lập theo Phụ lục VII Công

_______


Tác giả liên hệ. ĐT: 84-903426509
Email: nbadien@yahoo.com

9

10

N.B. Diến, Đ.T.K. Thoa / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 9-21

giả tập trung đưa ra một số nhận định bước đầu
về giá trị, tác động của Phán quyết có tính chất
lịch sử này cũng như những thuận lợi, thách
thức và giải pháp đối với Việt Nam.
1. Nội dung chính của Phán quyết trọng tài
quốc tế ngày 12/7/2016
Theo Điều 9 Phụ lục VII Công ước Luật
biển, việc Trung Quốc tuyên bố không tham gia
thủ tục trọng tài quốc tế do Philippines đơn
phương khởi xướng không thể là rào cản cho
Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII
Công ước Luật biển (sau đây gọi tắt là Tòa
Trọng tài) tiến hành xét xử vụ kiện này. Ngày
29/10/2015, Tòa Trọng tài ra Tuyên bố (Phán
quyết) về quyền tài phán và thừa nhận đối với
vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, trong
đó khẳng định Tòa Trọng tài có thẩm quyền
giải quyết vụ việc này. Trong Phán quyết trọng
tài quốc tế ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài đã
quyết định về các vấn đề liên quan đến vai trò
của các quyền lịch sử và nguồn gốc xác định
các vùng biển được hưởng tại Biển Đông, quy
chế của một số cấu trúc cụ thể và khả năng tạo
ra vùng biển của các cấu trúc này, và tính hợp
pháp của các hành vi của Trung Quốc mà
Philippines cho là vi phạm Công ước Luật biển.
Đồng thời, phù hợp với giới hạn của cơ chế giải
quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước, Toà
Trọng tài đã nhấn mạnh việc không phán quyết
bất kỳ vấn đề nào về chủ quyền đối với các vùng
lãnh thổ và không phân định bất kỳ ranh giới
trên biển nào giữa các bên của vụ kiện. Cụ thể,
Tòa Trọng tài đã xem xét, quyết định các vấn
đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về tính hợp pháp của “đường
chín đoạn và yêu sách về các quyền lịch sử
của Trung Quốc trên biển Đông”
Toà Trọng tài kết luận rằng không có cơ sở
pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử
đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên
trong “đường chín đoạn”. Kết luận này dựa vào
các nhận định sau: (1) Công ước luật biển quy
định khá toàn diện về các quyền đối với các
vùng biển nhưng chưa quy định rõ về việc bảo

vệ các quyền liên quan đến tài nguyên tồn tại
trước Công ước, vì trong trường hợp quốc gia
ven biển không thể khai thác hết lượng cá cho
phép, Công ước chỉ cho các quốc gia khác một
quyền hạn chế trong việc đánh cá ở vùng đặc
quyền kinh tế mà không có quyền gì đối với
dầu khí hay tài nguyên khoáng sản; (2) Yêu
sách về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với
các tài nguyên không phù hợp với sự phân bổ
chi tiết về các vùng biển theo Công ước Luật
biển; (3) Trước khi có Công ước Luật biển, các
vùng biển ở Biển Đông bên ngoài vùng lãnh hải
về pháp lý đều là một phần của vùng biển quốc
tế, tại đó tàu thuyền của bất kỳ quốc gia nào đều
có thể qua lại và đánh cá một cách tự do. Trong
lịch sử, những người đi biển cũng như ngư dân
từ Trung Quốc và từ các nước khác đã sử dụng
các đảo tại Biển Đông. Việc Trung Quốc qua lại
và đánh cá trong lịch sử ở vùng biển của Biển
Đông đã thể hiện các quyền tự do trên biển cả,
thay vì một quyền lịch sử, và không có chứng cứ
nào cho thấy rằng trong lịch sử Trung Quốc đã
một mình thực hiện việc kiểm soát các vùng biển
ở Biển Đông hay ngăn cản các quốc gia khác
khai thác những tài nguyên của mình [1-2].
Thứ hai, về quy chế pháp lý của các cấu
trúc (thực thể) địa lý trong Biển Đông và
quyền được hưởng các vùng biển mà Trung
Quốc yêu sách theo quy định của Công ước
Công ước Luật biển phân loại các cấu trúc
địa lý dựa trên điều kiện tự nhiên của chúng.
Các cấu trúc nổi khi thủy triều lên cao sẽ tạo ra
quyền ít nhất đối với lãnh hải 12 hải lý, còn các
cấu trúc chìm khi thuỷ triều lên cao sẽ không
tạo ra quyền như vậy. Do đó, trước tiên Tòa
Trọng tài tiến hành đánh giá xem một số bãi do
Trung Quốc yêu sách có nổi lên khi thuỷ triều
lên đỉnh hay không, sau đó đánh giá có hay
không cấu trúc nào trong số các cấu trúc do
Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra vùng biển
ngoài phạm vi 12 hải lý.
Theo Công ước luật biển (Điều 121), đảo
tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và
thềm lục địa nhưng các “đá không thích hợp
cho con người đến ở và có đời sống kinh tế
riêng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa” [3]. Quy định này phụ thuộc vào khả

N.B. Diến, Đ.T.K. Thoa / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 9-21

năng khách quan của các cấu trúc khi chúng ở
tình trạng tự nhiên để có thể duy trì một cộng
đồng dân cư ổn định hoặc các hoạt động kinh tế
mà không phụ thuộc vào các nguồn lực từ bên
ngoài hoặc hoàn toàn chỉ có tính chất khai thác.
Các bãi ngầm do Trung Quốc yêu sách đã bị làm
biến đổi mạnh mẽ do việc bồi đắp, xây dựng và
sự có mặt của các nhân viên công vụ trên các
cấu trúc là phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài
và không phản ánh khả năng của các cấu trúc.
Với nhận định các bằng chứng lịch sử có ý
nghĩa hơn và quần đảo Trường Sa trong lịch sử
được sử dụng bởi một số nhóm nhỏ các ngư dân
trong đó đã có một số hoạt động khai thác phân
dơi, đánh cá của Nhật Bản, Tòa Trọng tài cho
rằng việc sử dụng ngắn hạn như vậy không phải
là sự định cư của một cộng đồng ổn định và các
hoạt động kinh tế trong lịch sử chỉ là hoạt động
mang tính khai thác [1-2].
Từ đó, Tòa Trọng tài kết luận rằng về mặt
pháp lý tất các cấu trúc nổi tại Trường Sa (bao
gồm, ví dụ, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường
Sa, Song Tử Đông, Song Tử Tây) đều là “đá”
và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc
thềm lục địa. Công ước luật biển không quy
định việc một nhóm các đảo như ở quần đảo
Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là
một thực thể thống nhất. Trên cơ sở kết luận
rằng không một cấu trúc nào mà Trung Quốc
yêu sách có khả năng tạo ra vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa theo Điều 121 Công ước
Luật biển (các thực thể đảo nhân tạo không thể
được đòi hỏi như là các đảo tự nhiên như Điều
121 mà các thực thể này không có lãnh hải,
EEZ, thềm lục địa, mà chỉ vùng “vành đai an
toàn” 500m), Tòa Trọng tài không cần phải
phân định ranh giới biển mà vẫn có thể tuyên
bố rằng một số vùng biển tranh chấp nằm
trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines
vì không bị chồng lấn với bất cứ quyền hưởng
vùng biển nào mà Trung Quốc có thể có [1-2].
Thứ ba, về tính hợp pháp và ảnh hưởng
của các hoạt động của Trung Quốc trên
Biển Đông
Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền
của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế
của nước này bằng việc (a) can thiệp vào việc

11

thăm dò dầu khí của Philippines tại Bãi Cỏ
Rong; (b) chủ ý cấm các tàu Philippines đánh
bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của
Philippines và (c) bảo vệ cho và không ngăn
ngừa các ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trong
vùng đặc quyền kinh tế của Philippines tại
Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây, và (d) xây dựng các
công trình và đảo nhân tạo tại Vành Khăn mà
không được sự đồng ý của Philippines [1-2].
Về quyền đánh cá truyền thống tại bãi
Scarborough, ngư dân từ Philippines, Trung
Quốc và các nước khác đã đánh cá tại bãi
Scarborough từ lâu và có quyền đánh cá truyền
thống tại khu vực này. Do bãi cạn Scarborough
nổi trên mặt nước lúc thủy triều lên, cấu trúc
này có lãnh hải, vùng nước xung quanh cấu trúc
này không tạo thành vùng đặc quyền kinh tế và
quyền đánh cá truyền thống không bị mất đi do
có Công ước Luật biển. Dù nhấn mạnh không
quyết định về vấn đề chủ quyền đối với bãi cạn
Scarborough, Tòa Trọng tài xác định rằng
Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng
quyền đánh cá truyền thống của ngư dân
Philippines và nghĩa vụ theo Công ước về ngăn
ngừa va chạm trên biển năm 1972 và Điều 94
Công ước Luật biển liên quan đến an toàn hàng
hải khi đã tìm cách cản trở tàu Philippines tiếp
cận hoặc tiến vào bãi cạn Scarborough tháng 5
năm 2012. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài cũng sẽ có
kết luận tương tự đối với quyền đánh cá truyền
thống của ngư dân Trung Quốc nếu Philippines
có hành động ngăn cản việc đánh cá của công
dân Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough [1-2].
Về ảnh hưởng đối với môi trường biển của
các hoạt động gần đây của Trung Quốc bồi
đắp và xây dựng nhân tạo trên 07 cấu trúc của
quần đảo Trường Sa, Tòa Trọng tài cho rằng
Trung Quốc đã gây hại nghiêm trọng với môi
trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa
vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn
thương và môi trường sống của các loài đang
suy yếu, bị đe doạ và bị huỷ diệt. Các nhà chức
trách Trung Quốc đã nhận thức được việc ngư
dân Trung Quốc đã đánh bắt các loài rùa biển,
san hô và trai khổng lồ quý hiếm trên diện rộng
ở Biển Đông (bằng các biện pháp gây ra tổn hại
nghiêm trọng với môi trường rặng san hô) và đã

12

N.B. Diến, Đ.T.K. Thoa / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 9-21

không thực hiện nghĩa vụ cẩn trọng theo Công
ước Luật biển để ngăn chặn và chấm dứt các
1
hoạt động này [2].
Thứ tư, các hoạt động của Trung Quốc kể
từ khi Tòa trọng tài bắt đầu xem xét vụ việc đã
làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các bên
Mặc dù thiếu thẩm quyền xem xét tác động
của vụ đối đầu giữa tàu hải quân của
Philippines và tàu hải quân, chấp pháp của
Trung Quốc ở Bãi cạn Second Thomas do tranh
chấp này liên quan đến các hoạt động quân sự
nằm ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp bắt
buộc, Tòa Trọng tài đã xem xét các hoạt động
cải tạo đất và xây dựng các đảo nhân tạo quy
mô lớn gần đây của Trung Quốc tại 07 cấu trúc
tại Trường Sa từ khi bắt đầu thủ tục trọng tài và
kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm các
nghĩa vụ về kiềm chế làm trầm trọng thêm và
kéo dài tranh chấp giữa các bên trong khi chờ
quá trình xét xử. Trung Quốc đã: (a) xây dựng
một đảo nhân tạo lớn tại Vành Khăn, một cấu
trúc lúc chìm lúc nổi nằm trong vùng đặc quyền
kinh tế của Philippines; (b) gây ra hủy hoại lâu
dài, không thể phục hồi đối với hệ sinh thái
rặng san hô và (c) phá hủy lâu dài các chứng cứ
về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc này [1-2].
Thứ năm, về hành vi trong tương lai của
các bên
Cả Philippines và Trung Quốc đều đã nhiều
lần thừa nhận Công ước Luật biển và các nghĩa
vụ chung về thiện chí trong xác định và điều
chỉnh các hành vi của mình. Cốt lõi của tranh
chấp trong vụ kiện này không nằm ở ý định của
Trung Quốc hay của Philippines trong việc xâm
phạm quyền lợi pháp lý của bên kia, mà chính
là do có sự hiểu khác nhau cơ bản về các quyền
theo Công ước Luật biển đối với các vùng nước
thuộc Biển Đông. Theo nguyên tắc cơ bản của

_______
1

Nguyên văn: “The Tribunal found that Chinese
authorities were aware of these activities and failed to
fulfill their due diligence obligations under the Convention
to stop them”, The Permanent Court of Arbitration (PCA),
The South China Sea Arbitration (The Republic of the
Philippines v. The People’s Republic of China), PRESS
RELEASE, The Hague, 12 July 2016, p.10, https://pcacpa.org/wp-content/uploads/sites/175/2016/07/PH-CN20160712-Press-Release-No-11-English.pdf

luật quốc tế và căn cứ Điều 11 Phụ lục VII quy
định “phán quyết…sẽ được các bên trong tranh
chấp tuân thủ”, Tòa Trọng tài thấy không cần
thiết phải đưa ra tuyên bố nào thêm về vấn đề
này [1-2].
2. Ý nghĩa của Phán quyết trọng tài quốc tế
ngày 12/7/2016
Vụ việc Philippines kiện Trung Quốc tại
Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII
Công ước được xem là “vụ kiện thế kỷ” vì lần
đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc - ủy viên
thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,
thành viên Công ước Luật biển, một "siêu
cường" đang lên với giấc mộng trở thành “trung
tâm của thế giới” - bị một nước nhỏ hơn đơn
phương kiện về việc giải thích và áp dụng sai
trái Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển.
Vụ kiện đã kết thúc bằng việc Tòa Trọng tài
ban hành Phán quyết cuối cùng ngày 12/7/2016,
bất chấp việc Trung Quốc thực hiện chính sách
ba không: không công nhận thẩm quyền của
Tòa trọng tài, không tham gia tiến trình xét xử,
không chấp nhận thi hành phán quyết. Phán
quyết này tạo ra bước ngoặt lịch sử trong vấn
đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, có ý nghĩa
hết sức quan trọng về cả mặt chính trị - pháp lý.
Trước hết, Phán quyết là một “đòn” pháp
lý giáng mạnh mẽ vào yêu sách, tham vọng
phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông
Bằng kết luận rằng không có cơ sở pháp lý
để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với
tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong
“đường chín đoạn”, Tòa Trọng tài đã bác bỏ 2
trong số 3 vấn đề mà Trung Quốc biện hộ cho
yêu sách “đường chín đoạn”, yêu sách quyền
lịch sử đánh cá truyền thống và yêu sách vùng
biển, chỉ còn lại khía cạnh yêu sách chủ quyền
các thực thể trong phạm vi “đường chín
đoạn”do Tòa Trọng tài không có thẩm quyền
xét xử.
Những hành vi của Trung Quốc cản phá
ngư dân Philippines tiến hành đánh bắt hải sản
tại các vùng biển nằm trong vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của Philippines là trái

N.B. Diến, Đ.T.K. Thoa / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, Số 3 (2016) 9-21

Công ước Luật biển; việc Trung Quốc cải tạo
các thực thể ngầm trong quần đảo Trường Sa
thành các siêu đảo là vô giá trị về mặt pháp lý.
Phán quyết này đã “đánh sập” mưu đồ hành
động của Trung Quốc suốt hơn 03 năm gần đây
trong việc cấp tập, ồ ạt xây dựng các bãi ngầm
ở khu vực quần đảo Trường Sa thành các siêu
đảo để mong rằng sau này đặt thế giới trước “sự
việc đã rồi” rằng, “Trung Quốc có đảo thì có
quyền yêu sách lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa”. Kết luận của Tòa Trọng tài
dựa trên cơ sở Công ước Luật biển không quy
định việc một nhóm các đảo như quần đảo
Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là
một thực thể thống nhất, sẽ góp phần ngăn chặn
mọi toan tính trong tương lai về thiết lập các
đường cơ thẳng cho quần đảo Trường Sa như
một thực thể thống nhất như Trung Quốc đã
làm với Hoàng Sa năm 1996. Như vậy, Phán
quyết là một "đòn" răn đe đối với Trung Quốc
trong việc thực hiện tham vọng bành trướng, bá
quyền phi lý trên Biển Đông.
Thứ hai, Phán quyết trọng tài quốc tế
ngày 12/7/2016 là hiện thân chiến thắng của
công lý, khẳng định sự thượng tôn pháp luật
quốc tế (điển hình là Công ước của Liên hợp
quốc về luật biển năm 1982)
Là một chủ thể của pháp luật quốc tế, Trung
Quốc có nghĩa vụ tận tâm thực hiện các điều
ước quốc tế mà quốc gia này là thành viên,
trong đó có Công ước Luật biển – bản hiến
chương của cộng đồng quốc tế về thiết lập trật
tự trên biển. Tuy vậy, với tham vọng độc chiếm
Biển Đông, làm bàn đạp tiến ra các đại dương,
bá chủ thế giới, Trung Quốc lại đưa ra yêu sách
“đường lưỡi bò” phi lý cùng hàng loạt các
hoạt động trái pháp luật quốc tế trên thực địa
Biển Đông.
Trong bối cảnh này, việc Tòa Trọng tài đưa
ra một phán quyết công tâm, bất chấp những nỗ
lực tẩy chay, quấy phá với chiêu bài “ba không”
(như đã nêu trên) từ phía Trung Quốc, đã khẳng
định sự thượng tôn pháp luật và sức sống mãnh
liệt của công pháp quốc tế. Phán quyết đã
khẳng định rằng, là chủ thể của pháp luật quốc
tế, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ, đều phải hành

13

xử dựa trên các chuẩn mực quốc tế. Điều này
cho thấy, pháp luật quốc tế vẫn còn hiệu lực
trên thực tế. Nói cách khác, Phán quyết này đã
“vực dậy lòng tin của loài người vào một trật tự
2
toàn cầu dựa trên quy chuẩn luật pháp” [4].
Thứ ba, Phán quyết trọng tài ngày
12/7/2016 đã góp phần bảo đảm quyền lợi
chính đáng của các bên liên quan, đồng thời
còn có tác dụng ngăn cản những tính toán
của một số thế lực muốn lợi dụng môi trường
bất ổn của Biển Đông để trục lợi
Đối với các nước trong khu vực Biển
Đông, Phán quyết này đã góp phần làm thay
đổi “cuộc chơi” trên Biển Đông thông qua việc
làm rõ sự thật đúng sai của một loại tranh chấp
do việc giải thích và áp dụng sai Công ước để
đưa ra các yêu sách phi lý, vi phạm các quyền
và lợi ích chính đáng của các bên liên quan.
Phán quyết góp phần thu hẹp đáng kể các khu
vực có thể bị coi là tranh chấp (phần lớn vùng
đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines,
Malaysia, Brunei và Việt Nam không còn bị coi
là vùng tranh chấp nữa và các nước này có toàn
quyền tài phán tại các vùng này). Phán quyết
không những có lợi cho Philippines mà còn có
lợi cho cả Việt Nam và các quốc gia liên quan.
“Căn cứ vào phán quyết của Tòa, EEZ của Việt
Nam tính từ bờ biển không chồng lấn với quốc
gia nào. Việt Nam có cơ sở pháp lý để tiến hành
các hoạt động khai thác tại đây, nơi mà trước
đây Trung Quốc thường cho phương tiện ra xua
3
đuổi, cản trở [5].

_______
2

Phát biểu của Luật sư trưởng của Chính phủ Philippines
Jose Calida, trích dẫn theo: Thành Đạt (2016), “Luật sư
trưởng Philippines: Phán quyết về vụ kiện Biển Đông vực
dậy lòng tin vào luật pháp quốc tế”, tại địa chỉ:
http://dantri.com.vn/the-gioi/luat-su-truong-philippinesphan-quyet-ve-vu-kien-bien-dong-vuc-day-long-tin-vaoluat-phap-quoc-te-20160715155017358.htm, đăng ngày
15/07/2016.
3
Phát biểu của Giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm
Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương, trích dẫn
theo: QĐND, “Phán quyết của Tòa Trọng tài góp phần thu
hẹp đáng kể các khu vực bị coi là tranh chấp ở Biển
Đông”,
http://www.qdnd.vn/thoi-su-quoc-te/doi-songquoc-te/phan-quyet-cua-toa-trong-tai-gop-phan-thu-hepdang-ke-cac-khu-vuc-bi-coi-la-tranh-chap-o-bien-dong483032, đăng ngày 14/07/2016.

Tài liệu cùng danh mục Luật học

LUẬT PHÁ SẢN- SỐ 21-2004-QH11

Luật này quy định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá...


Tài liệu về Sở hữu trí tuệ - Bài 3

Hệ thống cấp bằng độc quyền sáng chế hiện đại đầu tiên được thiết lập ở thành quốc Venice và giữa thế kỷ thứ XV nhằm khuyến khích sáng tạo. Quy chế năm 1474 đã giải thích rằng: " Xung quanh chúng ta có nhiều thiên tài, có khả năng sáng tạo và nghĩ ra những thiết bị tinh xảo.. "


TUYỂN TẬP BÀI TẬP THUẾ

Bài 1: Trong tháng 8/2007, nhà máy rượu Bình Đông bán cho nhà máy rượu Khánh Long 40.000 lít rượu trắng (trên 40 độ), giá bán 8.500 đồng/lít (giá bán không bao gồm thuế GTGT). Nhà máy rượu Khánh Long dùng 80% số rượu trắng sản xuất được 60.000 lít rượu thuốc và đóng thành chai 750 ml. Nhà máy bán 15% số rượu thuốc sản xuất được cho công ty Chilimex theo một hợp động để Chilimex xuất khẩu, giá bán là 46.000 đồng/chai. Số rượu thuốc còn lại nhà máy bán cho công ty thương nghiệp Phú...


Bài giảng Luật tài chính - TS Nguyễn Thị Hoài Thương

Bài giảng Luật tài chính trình bày các nội dung cơ bản như: khái quát về luật tài chính, luật ngân sách nhà nước, chế định pháp lý về thu ngân sách nhà nước, chế độ pháp lý về chi ngân sách nhà nước, luật thuế, các sắc thuế hiện hành.


Cơ chế nhân quyền khu vực: Thúc đẩy cơ chế nhân quyền chung của Liên hợp quốc

Bài viết Cơ chế nhân quyền khu vực: Thúc đẩy cơ chế nhân quyền chung của Liên hợp quốc trình bày về cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Âu; cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Mỹ; cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Phi; cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền châu Á.


LUẬT DƯỢC

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về hoạt động trong lĩnh vực dược.


Ebook Quy định mới về di sản văn hoá: Phần 1

Cuốn sách "Quy định mới về di sản văn hóa" được biên soạn dưới dạng hỏi đáp, thông qua những tình huống cụ thể, những ví dụ đơn giản và các quy định pháp luật giúp người đọc dễ dàng nắm bắt và vận dụng các quy định của pháp luật trong cuộc sống. Cuốn sách gồm 2 phần, mời các bạn cùng tham khảo phần 1 cuốn sách sau đây.


Bộ Luật lao động

Bộ Luật lao động có 17 chương với 198 điều giúp các bạn nắm được những quy định chung, việc làm, học nghề, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương,....


Chính sách Thuế của Việt Nam – Thực trạng và Giải Pháp

1.Chính sách là gì ? Theo quan điểm phổ biến, chính sách là phương thức hành động được chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại


Bài giảng Chuyên đề 2: Pháp luật về cạnh tranh

Bài giảng Chuyên đề 2: Pháp luật về cạnh tranh trình bày về vai trò của pháp luật cạnh tranh và phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2004; kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh; cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.


Tài liệu mới download

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bài tập về luật đất đai
  • 12/10/2010
  • 61.551
  • 965
Quyền và nghĩa vụ cơ bản
  • 29/07/2013
  • 23.740
  • 335

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu