Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ebook Bí quyết trường thọ: Phần 2

Phần 2 ebook gồm các nội dung: 49 bí quyết để sống vui khỏe, nghệ thuật chống sự già hóa cơ thể, thuật dưỡng sinh trường thọ, tình dục ở người cao tuổi, tuổi già theo y học cổ truyền,... Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

bài, tôi đều để ý, thấy toàn các bà cười, các ông không cười. Đã kém người ta 6 năm rưỡi rồi
đấy, đến bao giờ các ông mới cười. Cho nên từ giờ, mỗi người hãy mau mau cười đi. Các vị hôm
nay đến đây, các vị cười mấy tiếng là sống thêm được mấy năm. Có người nói thế nào cũng
chẳng cười. Cấp bậc càng cao càng không cười, tôi biết làm thế nào được?
Chẳng những đã không cười, lại còn có một lôgíc: Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn (Đàn ông có
nước mắt nhưng không dễ gì chảy). Nước mắt người thường thì mặn, nước mắt bệnh nhân tiểu
đường thì ngọt, nước mắt đau buồn thì đắng, trong đó có peptide (pép-tít), có hoóc-môn. Nếu
lâu ngày không chảy đi thì sẽ bị khối u, bị ung thư đấy. Dù có khỏi khối u thì cũng bị loét hoặc
viêm kết tràng mạn tính. Cho nên, nếu các vị đau buồn thì phải chảy nước mắt ra, giữ lại không
ích gì đâu.
Ở hội nghị quốc tế, người ta đã cảnh báo chúng ta. Chúng ta hãy uống trà xanh, ăn đậu nành,
ngủ cho tốt, năng vận động, và đừng quên luôn luôn cười vui. Mong rằng mỗi người đều chú ý
cân bằng ẩm thực, vận động có ô-xy và chú ý trạng thái tâm lý của mình, lúc đáng khóc thì
khóc, lúc đáng cười thì cười. Tôi tin rằng chúng ta nhất định có thể vượt qua tuổi 73, qua tuổi
84, đến 90, 100 tuổi vẫn còn khỏe mạnh.

49 bí quyết để sống vui khỏe
1. Hãy ngủ 7 tiếng đồng hồ mỗi ngày.
2. Hãy uống nhiều nước.
3. Hãy ăn thêm rau trái tươi và bớt thực phẩm chế biến.
4. Hãy dùng bữa sáng như ông hoàng, bữa trưa như người nhà giàu và bữa tối như người ăn
xin.
5. Mỗi ngày, hãy đi bộ 10-30 phút. Trong lúc đi, hãy giữ nét mặt tươi vui.
6. Hãy mỉm cười và cười lên nhiều hơn nữa.
7. Hãy giải trí nhiều hơn.
8. Hãy dành thời gian vui đùa nhiều hơn với những người trên 70 tuổi và dưới 6 tuổi.
9. Hãy đọc nhiều sách hơn.
10. Đừng phí sức và th ời gian quý báu ngồi lê đôi mách.
11. Hãy biết tận hưởng trọn vẹn một ngày.
12. Hãy dẹp bỏ tất cả những gì không tốt, không đẹp hoặc không làm cho bạn vui.
13. Hãy làm điều bạn cho là đúng để tâm hồn luôn thư thái.
14. Hãy dành thời gian để suy niệm, tập yoga và cầu nguyện. Đó là những phương thế thêm
sức cho ta hằng ngày trong cuộc sống tất bật này.
15. Hãy sống với 3 C : Chân tình, Cởi mở và Cảm thông với mọi người.
16. Đừng có ý tưởng tiêu cực hoặc làm điều bạn không thể kiểm soát được. Thay vào đó, hãy
tập trung sức lực vào giây phút hiện tại.
17. Hãy làm hoà với quá khứ để nó không làm hỏng được hiện tại của bạn.
18. Hãy quên những chuyện quá khứ. Đừng nhắc lại những lỗi lầm cũ của vợ hay chồng bạn.
Như thế chỉ làm lung lay hạnh phúc hiện tại mà thôi.
19. Đừng so sánh đời mình với đời người khác. Bạn không thể biết được tất cả những gì xảy
ra trong cuộc đời của họ đâu. Cũng đừng so sánh vợ hay chồng bạn với kẻ khác.

20. Thèm muốn chỉ làm uổng phí thời gian. Bạn đã có tất cả những gì cần thiết cho mình.
21. Hãy nhớ rằng bạn là duy nhất và không ai giống bạn cả.
22. Và hãy tin rằng sự hiện hữu của bạn trên đời là một món quà cho cả thế giới.
23. Đừng quan tâm đến những gì người khác nghĩ về bạn, đó không phải là chuyện của bạn.
24. Hãy ý thức rằng cuộc đời như trường học và bạn đang ở đó để học tập. Những vấn đề chỉ
như các bài toán đố được đưa ra trong chương trình học, được giải xong rồi biến mất. Nhưng
bài học rút ra thì sẽ giúp ích cả đời.
25. Đời quá ngắn, vì vậy không nên uổng phí thời gian giận ghét ai. Đừng để lòng giận ghét
làm bạn sống khó chịu bực bội vô ích nhé.
26. Đừng cho mình là người quan trọng. Có người nào khác cho bạn là quan trọng đâu.
27. Bạn không cần phải thắng mọi tranh luận . Hãy đồng ý là bạn không đồng ý.
28. Hãy tha thứ mọi sự cho mọi người.
29. Hãy nhớ rằng dù cho hoàn cảnh có tốt hay xấu đến đâu đi nữa, thì nó cũng sẽ thay đổi.
30. Đừng làm quá sức. Hãy biết gìới hạn của mình.
31. Khi bạn đau ốm, công việc đâu chăm sóc gì được cho bạn, nhưng bạn bè thì sẽ làm được
việc đó. Hãy luôn giữ liên lạc với nhau bạn nhé.
32. Hãy ý thức rằng tình bạn là một sự đầu tư khôn ngoan.
33. Hãy năng thăm hỏi những người thân trong gia đình.
34. Mỗi ngày, bạn hãy làm cho người khác một cái gì đó tốt đẹp.
35. Hãy đếm những điều làm bạn hạnh phúc. Đừng đếm những điều phiền muộn.
36. Không gì làm lãng phí sức lực của mình hơn là ngồi một chỗ và lo lắng về hàng tá chuyện.
37. Hãy biết rằng nếu bạn có hàng tá câu hỏi, thì trong chính bạn cũng có hàng tá câu trả lời.
38. Hãy biết rằng bạn sẽ vượt qua được mọi thứ, dù cho có khó khăn đến đâu.
39. Đừng tự tạo giới hạn cho chính bản thân mình.
40. Những quyết định cũng không kém phần quan trọng như những cơ hội mà bạn có.
41. Hãy sống thanh thản, đừng tiếc nuối điều gì.
42. Đừng biến bất cứ điều gì trở nên trầm trọng.
43. Hãy nhận ra rằng chẳng có điều gì là trễ cả.
44. Cũng hãy nhớ rằng nhiều thứ sẽ ra đi mãi mãi và không bao giờ trở lại.
45. Hãy thực hiện những điều bình dị bằng cách phi thường nhất.
46. Hãy nhớ rằng với một tình yêu nhỏ bạn có thể đi cả một quãng đường dài.
47. Hãy luôn có ước mơ và hy vọng trong cuộc sống.
48. Hãy vươn đến đỉnh cao, ước mơ và khát vọng của chính mình.
49. Và hãy nhớ rằng điều tốt nhất luôn đến sau.

Nghệ thuật chống sự già hóa cơ thể
Theo thời gian, sự hóa già là quy luật tất nhiên của con người nhưng tốc độ hóa già phụ thuộc
nhiều yếu tố nội và ngoại lai cũng như không phải diễn ra đồng thời ở mọi người. Trong các
nguyên nhân gây lão hóa thì yếu tố ngoại lai chỉ tác động đến một mức nào đó nhưng không

thay đổi được bản chất mà chỉ có giảm được yếu tố nguy cơ có liên quan đến lão hóa. Còn
nguyên nhân cơ bản của sự hóa già và sinh các bệnh tật là sự hoạt động của các gốc tự do trong
cơ thể.
• Gốc Tự Do
Gốc tự do là một chất hóa học có một điện tử độc thân sinh ra do quá trình hô hấp tế bào sinh
năng lượng, do các hoạt động bệnh lý, do chất gây ô nhiễm môi trường, chất diệt cỏ, tia phóng
xạ... Các gốc tự do có một thuộc tính là có khả năng ôxy hóa rất cao, nếu vì một lý do nào đó mà
gốc tự do tăng cao bất thường sẽ gây tổn thương cấu trúc và chức năng của tế bào, biến đổi cấu
trúc của protein, ức chế hoạt động các men, biến đổi thuộc tính các nội tiết tố... Các tổn thương
này là cơ sở bệnh học của các trạng thái bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Nếu tránh được các
bệnh này như bệnh tiểu đường, cholesterol máu cao hoặc các rối loạn vi tuần hoàn trong cơ
thể là một biện pháp tác động tốt chống lại sự lão hóa về nguyên nhân nội tại.
Theo định nghĩa, Gốc Tự Do (Free radical) là bất cứ phân tử hóa chất nào chỉ có một điện tử
duy nhất (electron mang điện âm) hay một số lẻ điện tử.
Về khía cạnh hóa học, phần nhỏ nhất của vật thể gọi là nguyên tử. Mỗi nguyên tử có một nhân
với một số chẵn điện tử xoay chung quanh, giống như các hành tinh quay chung quanh mặt
trời. Phân tử gồm một số nguyên tử dính với nhau do tác dụng của các đôi điện tử.
Một vài khi, trong diễn tiến hóa học, một điện tử bị tách rời khỏi nhóm và phân tử đó trở
thành một gốc tự do, với số lẻ điện tử. Do đó, nó không cân bằng, đầy đủ nên rất bất ổn, dễ tạo
ra phản ứng. Nó luôn luôn tìm cách chiếm đoạt điện tử mà nó thiếu từ các phân tử khác, và lần
lượt tạo ra một chuỗi những gốc tự do mới, gây rối loạn cho sinh hoạt bình thường của tế bào.
Các khoa học gia ví chúng như những tên sở khanh chuyên đi ve vãn, phá hoại hạnh phúc của
các cuộc hôn nhân đang êm đẹp. Trong cuộc đời của một người sống tới 70 tuổi, thì có chừng
17 tấn gốc tự do được tạo ra như vậy.
Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Đại học Berkeley, California, là khoa học gia đầu
tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho
tế bào.Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.
Gốc tự do có tác dụng không tốt cho cơ thể liên tục ngay từ lúc con người mới sanh ra và mỗi
tế bào chịu sự tấn công của cả chục ngàn gốc tự do mỗi ngày. Ở tuổi trung niên, cơ thể mạnh,
trấn áp được chúng, nhưng tới tuổi cao, sức yếu, gốc tự do lấn át, gây thiệt hại nhiều gấp mười
lần ở người trẻ. Nếu không bị kiểm soát, kiềm chế, gốc tự do gây ra các bệnh thoái hóa như ung
thư, xơ cứng động mạch, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí
tuệ, teo cơ quan bộ phận người cao niên.
Nó phá rách màng tế bào khiến chất dinh dường thất thoát, tế bào không tăng trưởng, tu bổ,
rồi chết. Nó tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da khiến ta có những vết đồi mồi trên mặt, trên
mu bàn tay. Nó tiêu hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp các phân tử chất đạm, đường bột, mỡ,
enzyme trong tế bào. Nó gây đột biến ở gene, ở nhiễm thể, ở DNA, RNA. Nó làm chất collagen,
elastin mất đàn tính, dẻo dai khiến da nhăn nheo, cơ khớp cứng nhắc.
Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến sau đây: Trước hết, gốc tự
do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, dưỡng
khí; rồi gốc tự do tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng. Sau cùng, bằng
cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu kích thích tố, enzym khiến cơ thể không tăng trưởng được.
Trong tiến trình hóa già, gốc tự do cũng dự phần và có thể là nguy cơ gây tử vong. Hóa già
được coi như một tích tụ những đổi thay trong mô và tế bào. Theo bác sĩ Denham Harman, các

gốc tự do là một trong nhiều nguyên nhân gây ra sự hoá già và sự chết cuả các sinh vật. Ông ta
cho là gốc tự do phản ứng lên ty lạp thể, gây tổn thương các phân tử bằng cách làm thay đổi
hình dạng, cấu trúc, khiến chúng trở nên bất khiển dụng, mất khả năng sản xuất năng lượng.
Do quan sát, người ta thấy gốc tự do có ít ở các sinh vật chết non, có nhiều hơn ở sinh vật
sống lâu. Người cao tuổi có nhiều gốc tự hơn là khi người đó còn trẻ.
Theo các nhà khoa học thì gốc tự do có thể là thủ phạm gây ra tới trên 60 bệnh, đáng kể nhất
gồm có: bệnh vữa xơ động mạch, ung thư, Alzheimer, Parkinson, đục thuỷ tinh thể, bệnh tiểu
đường, cao huyết áp không nguyên nhân, xơ gan.
Tuy nhiên, không phải là gốc tự do nào cũng phá hoại. Đôi khi chúng cũng có một vài hành
động hữu ích. Nếu được kiềm chế, nó là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể; tạo ra chất mầu
melanine cần cho thị giác; góp phần sản xuất prostaglandins có công dụng ngừa nhiễm trùng;
tăng cường tính miễn dịch; làm dễ dàng cho sự truyền đạt tín hiệu thần kinh, co bóp cơ thịt.
Trong cơ thể có rất nhiều loại gốc tự do, mà các gốc nguy hiểm hơn cả là superoxide, ozone,
hydrogen peroxide, lipid peroxy nhất là hydroxyl radical, một gốc rất phản ứng và gây ra nhiều
tổn thương.
Gốc tự do được tạo ra bằng nhiều cách. Nó có thể là sản phẩm của những căng thẳng tâm
thần, bệnh hoạn thể xác, mệt mỏi, ô nhiễm môi trường, thuốc lá, dược phẩm, tia phóng xạ mặt
trời, thực phẩm có chất mầu tổng hợp, nước có nhiều chlorine và ngay cả oxygen.
• Oxygen- Sự oxy hoá- Chất chống oxy hoá.
Oxygen là dưỡng khí thiết yếu cho mọi động vật, thảo mộc, ngoại trừ một số nhỏ sinh vật kỵ
khí.
Đối với loài người, ở một mức độ trung bình, oxygen tham dự vào sự biến hóa căn bản trong
cơ thể để tạo ra năng lượng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt cuả toàn bộ tế bào. Không khí ta
thở có 20% dưỡng khí, vừa đủ cho nhu cầu của cơ thể và sức chịu đựng của phổi. Khi thở oxy
nguyên chất khoảng 6 giờ, ta thấy nặng ngực và nếu tiếp tục thở lâu hơn nữa, các phế nang sẽ
bị tổn thương.
Oxygen phản ứng trên vật chất và gây nhiều thay đổi cho các phân tử này. Một miếng thịt để
ra ngoài lâu sẽ thâm, miếng táo cắt đôi trở mầu nâu, cây đinh sắt sét rỉ, cục bơ thơm trở mùi ôi
khét. Chúng đã bị oxy hóa và trở thành vô dụng, đôi khi nguy hiểm. Trong cơ thể, phản ứng oxy
hóa tạo ra những gốc tự do. Nhưng may mắn là cơ thể ta tạo ra được mấy loại enzym có khả
năng trung hòa gốc tự do và mỗi phân tử enzym có thể vô hiệu hóa nhiều ngàn gốc. Các enzym
đó túc trực trong cơ thể trước khi có phản ứng tạo ra gốc tự do nên nó kịp thời đối phó với
những chàng sở khanh hoá chất hoang đàng này. Các enzym chính là superoxide dismutase
(SOD), catalase và glutathione. Mỗi enzym liên hệ vào từng phản ứng hóa học riêng biệt
Ngoài ra ta có thể trung hòa gốc tự do bằng cách dùng chất chống oxy hóa (antioxidant). Các
chất này chỉ mới được nhắc nhở nhiều trong dân chúng cũng như y giới khoảng mươi năm gần
đây. Đã có nhiều khoa học gia để tâm nghiên cứu về công dụng của chất chống oxy hóa và tây y
học cũng đã có thái độ thiện cảm hơn với các chất này.
Trong một cuộc hội thảo của các bác sĩ chuyên môn về tim năm 1995, 90 % tham dự viên
nhận là mình có uống chất chống oxy hoá nhưng chỉ có 75 % biên toa cho bệnh nhân. Lý do là
nhiều người vẫn cho là không có đủ dữ kiện xác đáng để khuyến khích bệnh nhân dùng thêm
các chất này. Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo: Một chỉ dẫn thận trọng và khoa học
nhất về vấn đề này là dân chúng nên ăn thực phẩm có nhiều chất chống oxy hóa trong rau, trái
cây và các loại hạt, thay vì uống thêm chất antioxidant.

Nhưng dân chúng " có bệnh thì vái tứ phương", nên nhiều khi cũng quên các lời khuyên này.
Và họ vẫn dùng.
Chất này có khả năng làm mất hoạt tính của gốc tự do tích tụ trong cơ thể, biến chúng thành
những phân tử vô hại, đồng thời cũng có khả năng duy trì cấu trúc và chức năng của tế bào.
Antioxidant chính yếu, phổ thông nhất là sinh tố C, beta-carotene và sinh tố E.
Theo Dr. Marman, già hóa là hậu quả tổng hợp của các tổn thương xuất hiện và phát triển
trong các tế bào tổ chức cơ quan hệ thống của cơ thể do các gốc tự do gây ra. Vậy cần phải làm
gì để giảm sự sinh các gốc tự do và bổ sung các chất chống ôxy hóa, giúp con người tăng tuổi
thọ?
Các biện pháp sau sẽ giúp chúng ta điều đó:
1. Hệ thần kinh ở người cao tuổi khỏe mạnh, hoạt động tốt thì dù có những suy yếu trong cơ
thể nhưng vẫn có khả năng tự điều chỉnh, thích nghi. Niềm vui kích thích tăng cường sức sống,
giúp duy trì thăng bằng của hệ thần kinh, chống mọi stress đến hằng ngày, vì thế cần có một
tâm hồn thanh thản dành thời gian thư giãn kết hợp thở sâu nhịp nhàng.
2. Thực hiện một chế độ dinh dưỡng hợp lý với tuổi tác:
— Giảm mức ăn so với thời trẻ: nhu cầu năng lượng của người trên 60 tuổi giảm 20%, trên
70 tuổi giảm 30% so với lúc 25 tuổi. Dù ăn rất ngon miệng vẫn phải tự điều chỉnh cho hợp lý,
nếu ăn thừa sẽ quá mập dẫn đến các bệnh chuyển hóa, tim mạch. Nên thường xuyên theo dõi
cân nặng của mình phù hợp tiêu chuẩn nên có. Đơn giản tính theo công thức sau: (Chiều cao
(cm) - 100) x 9 : 10
Ví dụ: Một người cao 160cm thì cân nặng nên có là: (160 - 100) x 9 : 10 = 54 kg
— Tránh ăn no quá, nhất là khi có bệnh tim mạch do tính đàn hồi của thành mạch giảm và
lòng động mạch hẹp lại làm cho sức cản ngoại vi của mạch máu tăng, cơ tim phải tăng co bóp
trong khi tuần hoàn nuôi tim phải giảm ảnh hưởng đến dinh dưỡng cơ tim.
Sau đây là đặc điểm, công dụng của các chất trên trong phạm vi chống gốc tự do:
a- Sinh tố C.
Đây là chất chống oxy hóa căn bản ở trong huyết tương, nó tiêu hóa gốc tự do và ngăn không
cho gốc này xâm nhập các phân tử cholesterol LDH. Nó tăng cường sự bền bỉ của mao mạch,
ngăn không cho gốc tự do xâm nhập qua màng tế bào, đẩy mạnh mau lành vết thương, kích
thích sản xuất kích thích tố, kháng thể, acétylcholine, ngăn chặn tác dụng có hại của oxygen.
Sinh tố C có nhiều trong trái cam, chanh, quít, dâu, cà chua, lá rau xanh, ớt xanh, dưa
canteloupe, broccoli. Khi nấu chín, sinh tố ở các thực phẩm kể trên bị tiêu huỷ, nên nếu ăn
sống được thì tốt hơn.
Sinh tố C hoà tan trong nước, và bài tiết khỏi cơ thể dễ dàng qua thận do đó ta không bị ngộ
độc khi uống phân lượng cao. Phân lượng trung bình mồi ngày là 60mg, tối đa từ 500 tới
1500mg.
Trong phạm vi chống gốc tự do, nhiều người cho là phải dùng phân lượng cao hơn. Theo Tiến
sĩ Linus Pauling, hai lần chiếm giải Nobel về khoa học, thì ta có thể dùng từ 3000 mg tới 12,000
mg mỗi ngày. Cá nhân ông ta uống 18 gr một ngày và sống tới tuổi 93. Uống trên 2000 mg một
ngày, có thể gây tiêu chẩy nhẹ.
b- Beta- carotene.
Được khám phá ra cách đây hơn 150 năm từ lớp mầu cam ở củ cà rốt, beta-carotene hiện giờ
là loại chống oxy hóa được tiêu thụ rất nhiều trên thị trường. Chất này cần cho sự tăng trưởng

Tài liệu cùng danh mục Y học thường thức

CHỨNG DA VẼ NỔI (Dermographism)

Đây là dạng thường gặp nhất của mày đay vật lý. Dịch tễ học Tần số: Chứng da vẽ nổi là dạng thường gặp nhất của mày đay vật lý, gặp ở 2-5% dân số, có thể xuật hiện cùng với các dạng mày đay khác. Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên khi mang thai (nhất là mang thai lần thứ hai), tiền mạn kinh, cơ địa dị ứng và bệnh nhân bị bệnh Behçet. Chủng tộc: không thấy sự ưu thế về chủng tộc. Giới: có nghiên cứu thấy trẻ em gái bị bệnh nhiều hơn so với trẻ trai. Tuổi:...


Bài giảng Đại cương về thuốc và môn bào chế học

Bài giảng giới thiệu cho sinh viên hiểu định nghĩa về thuốc, hình ảnh một số các loại thuốc căn bản và công dụng của chúng. Đồng thời bài giảng giúp cho sinh viên làm quen với khái niệm về bào chế học, nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận về các dạng thuốc, nghiên cứu các chất phụ, các kỹ thuật và thiết bị sử dụng trong bào chế các dạng thuốc.


Lợi ích dinh dưỡng từ hành tây

Hành tây, được gọi là "nữ hoàng của các loại rau", là một loại rau phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Hành tây có chứa một số lượng lớn các chất dinh dưỡng tự nhiên. Hành tây không chỉ giàu kali, vitamin C, acid folic, kẽm, selenium, chất xơ và các chất dinh dưỡng mà còn chứa hai chất dinh dưỡng đặc biệt - quercetin và prostaglandin A.


Cụ thể hơn về 5 loại quả trị huyết áp cao

Với người mắc bệnh huyết áp cao, ăn hoa quả là rất cần thiết vì nó khá hữu ích trong việc điều trị. Chúng ta đều biết ăn hoa quả rất có lợi cho sức khỏe, các loại hoa quả khác nhau sẽ có tác dụng trị liệu các bệnh không giống nhau. Dưới đây là 5 loại quả rất tốt cho người bị huyết áp cao. Táo: Chứa hơn 10 loại dinh dưỡng như axit malic, axit citric, vitamin A, B, C… ăn táo có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu và chống xơ vữa động mạch. Một...


Tìm hiểu về Bệnh Viêm Cơ Tim (Kỳ 1)

1. Tổng quan: Viêm cơ tim (VCT) là viêm lớp cơ dày của thành tim. Tình trạng tương đối ít gặp này có thể biểu hiện bằng nhiều triệu chứng và dấu hiệu đa dạng bao gồm đau ngực mơ hồ, nhịp tim bất thường và suy tim sung huyết. Khi VCT trở nên trầm trọng, tác dụng bơm của tim suy yếu đi và tim không còn khả năng cung cấp nguồn máu giàu oxygen cho phần còn lại của cơ thể. Các cục máu đông có thể hình thành trong tim gây đột quỵ hoặc nhồi máu...


9 loại thực phẩm giảm béo

Để giữ thon bụng, duy trì tình trạng cơ thể nhẹ nhõm, việc ăn uống là rất quan trọng, nhưng trước hết bạn phải xác định tình trạng hiện nay của cơ thể mình, tính toán nhiệt lượng đâu ra đó rồi mới ăn. Phương pháp ăn uống đúng đắn phải căn cứ vào tình trạng thực tế của mỗi người, làm sao vừa bảo đảm sức khỏe, vừa làm cho hình thể đẹp.


Vài loại vitamin giúp bạn giảm cân nhanh chóng

Đừng nghĩ chỉ có nhịn ăn, thường xuyên tập thể mới có thể giúp bạn giảm cân. Vitamin cũng mang lại rất nhiều hiệu quả trong việc giảm cân đấy. Hãy khám phá nhé. Vitamin là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống khoa học nhưng nó cũng có tác dụng rất lớn trong việc giảm cân. Các loại vitamin B, vitamin C, vitamin D/canxi tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng cường hệ miễn dịch và giảm “dự trữ” chất béo. Bổ sung thêm các vitamin trong chế độ ăn uống của bạn sẽ giúp bạn...


Thuốc tê lidocain: Xin chớ xem thường

Lidocain là thuốc tê rất thông dụng trong các ca tiểu phẫu gây tê tại chỗ dùng trong các khoa răng hàm mặt, tai mũi họng, ngoại sản... Tuy thông dụgn nhưng chớ xem thường, vì những đột biến do thuốc gây ra khiến việc cấp cứu lâm vào tình trạng trở tay không kịp... Lidocain là thuốc gì? Đây là thuốc gây tê còn có các tên biệt dược khác là xylocain, lignocain, thường dùng dưới dạng thuốc tiêm gây tê phối hợp với chất co mạch để giảm hấp thu thuốc. Tác dụng gây tê xuất hiện nhanh và...


Men's health: Total Body Workbook

Frequency: Divide your workout into two sets of exercises: one for the chest, shoulders, and arms; one for the back, legs, and abdominals. Perform each workout twice a week. Technique:Warm up with two slow sets of eight to 10 bench-press repetitions. Use more weight on the second set, but don’t make these preliminary sets too challenging. Then start each exercise with the heaviest weight you can use for eight to 10 repetitions. Drop the weight slightly for subsequent sets if you need to. Rest: 2 minutes between sets, including the warmup sets Progress: Increase the weights each week. On dips, add up the repetitions you’re able to do in your three...


Đại cương về cấp cứu chấn thương cơ quan vận động (Phần 3)

Máu chảy do tổn thương các mạch máu nhỏ trong tủy xương, vỏ xương, màng xương và các mô mềm xung quanh. Trong gãy kín tuy không chảy ra ngoài nhưng máu đã ra khỏi mạch không còn tham gia lưu thông trong hệ tuần hoàn nên xem như đã mất Mất máu nhiều là nguyên nhân gây nên sốc 19 Chảy máu và Mất máu Chảy máu và Mất máu Máu chảy ứ đọng lại thành ổ máu tụ. Lượng máu tụ lớn là nguyên nhân gây chèn ép khoang, làm tăng áp lực trong ống tủy có thể là nguyên...


Tài liệu mới download

Bài tập Phrasal Verbs
  • 17/08/2017
  • 24.495
  • 996

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Dược Thảo
  • 07/04/2011
  • 38.763
  • 241
Nhu cầu vitamin
  • 09/08/2010
  • 73.661
  • 394
Sốc (Kỳ 3)
  • 16/10/2010
  • 22.400
  • 691

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu