Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Đề án kinh tế chính trị: NHỮNG LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển cao của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu ở các nước chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.



Đánh giá tài liệu

4.4 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


Đề án kinh tế chính trị: NHỮNG LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Đề án kinh tế chính trị: NHỮNG LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG tiểu luận triết học, kinh tế việt nam, tài liệu môn triết học, học thuyết kinh tế, tài liệu học đại học, tài liệu kinh tế chính trị, học thuyết chính trị
4.4 5 2208
  • 5 - Rất hữu ích 838

  • 4 - Tốt 1.370

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

  1. z  Tiểu luận Đề tài: “Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta’’
  2. Đề án kinh tế chính trị LỜI MỞ ĐẦU Như mọi ngườ i đã biết, kinh tế thị trườ ng là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển cao c ủa văn minh nhân loại. Từ trước đế n nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu ở các nước chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển c ủa chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợ i dụng tối đa ưu thế c ủa kinh tế thị trườ ng để phục vụ cho mục tiêu phát triể n tiề m năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượ ng sản xuất c ủa xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trườ ng tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển. Từ đạ i hội IV c ủa Đả ng ( nă m 1986 ) đất nước ta thực hiện đườ ng lối đổi mới ,chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trườ ng có sự quản lý c ủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đạt đượ c mục tiêu đã đề ra trong điều kiện kinh tế thị trườ ng hơn 10 nă m qua, đất nước đã vượt qua bao khó khăn, thử thách giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực c ủa đờ i sống xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên trong các Văn kiện c ủa Đả ng tại đạ i hội lần thứ VII,VIII đã đề cập đế n 4 nguy cơ thách thức đối với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong đó “chệch hướ ng xã hội chủ nghĩa” có thể coi là nguy cơ lớn nhất. Vì vậy khả năng định hướ ng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường nước ta có trở thành hiện thực hay không trước hết phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo kinh tế c ủa Đả ng và nhà nước là nhân tố quyết định nhất bảo đả m định hướ ng xã hội chủ nghĩa c ủa nền kinh tế thị trườ ng c ũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển c ủa đất nước. Ngày nay trong nền kinh tế thị trườ ng hiện đại, với sư phát triển nhanh chóng c ủa khoa học - công nghệ, nếu không có sự can thiệp c ủa nhà nước thì không thể giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế lớn có tầm cỡ quốc gia, quốc tế . Vì thế kết hợp hài hoà giữa sự vận hành c ủa cơ chế thị trườ ng với sự điề u tiết c ủa nhà nước là cần thiết và là giải pháp mang lại thành công trên con đườ ng phát triển. Trong mối quan hệ đó, nhà nước giữ vai trò định hướ ng tạo “hành lang “ pháp lý và môi trương đầ u tư để các chủ thể có thể có thể phát huy tính năng động, sáng tạo c ủa mình. Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trườ ng nên em đã chọn đề tài “Vai tr ò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta’’. Là một sinh viên năm thứ 2 nên tầm hiểu biết, nhậ n thức và lý luận c ủa em còn nhiều hạn chế . Bởi vậy em rất mong được sự giúp đỡ của thầy để bài viết c ủa em được hoàn chỉnh hơn. Em xin cảm ơn thầy giáo TS Tô Đức Hạnh đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. 1
  3. Đề án kinh tế chính trị PHẦN I NHỮNG LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯ ỜNG 2
  4. Đề án kinh tế chính trị A . KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. NHỮNG LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯ ỜNG 1. Khái niệm và đặc điểm KTTT là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, là một hình thức tổ chức sản xuất xã hội hiệu quả nhất phù hợp với trình độ phát triển c ủa xã hội hiện nay. Các đặc điểm chính c ủa KTTT: -Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao. Mỗi chủ thể kinh tế là một thành phần c ủa nền kinh tế có quan hệ độc lập với nhau, mỗi chủ thể tự quyết định lấy hoạt động của mình. -Tính phong phú c ủa hàng hóa. Do các chủ thể kinh tế đề u tự quyết định lấy hoạt động c ủa mình nên bất c ứ hàng hoá nào có nhu cầu thì sẽ có ngườ i sản xuất. Mà nhu cầu của con ngườ i thì vô cùng phong phú, điều nà y tạo nên sự phong phú c ủa hàng hoá trong nền KTTT . -Cạnh tranh là tất yếu trong KTTT .Hàng hoá nào có nhu cầu lớn thí sẽ có nhiều ngườ i sản xuất. Khi có quá nhiều ngườ i cùng sản xuất một mặt hàng thì sự cạnh tranh là tất yếu. -KTTT là một hệ thống kinh tế mở, trong đó có s ự giao lưu rộng rãi không chỉ trong thị trườ ng một nước màgiữa các thị trườ ng với nhau. -Giá cả hình thành ngay trên thị trườ ng. Không một chủ thể kinh tế nào quyết định được giá cả. Giá c ủa một mặt hàng được quyết định bởi cung và cầu c ủa thị trườ ng. Nền KTTT có thể tự hoạt động được là nhờ vào sự điều tiết c ủa cơ chế thị trườ ng. Đó là các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, lưu thông tiền tệ, cạnh tranh…tác động, phối hợp hoạt động c ủa toàn bộ thị trườ ng thành một hệ thống thống nhất. 2. Ưu và nhược điểm c ủa nền kinh tế thị trường a. Ưu điểm Kinh tế thị trườ ng thúc đẩ y lực lượ ng sản xuất phát triển tạo ra sự cạnh tranh gắt gao giữa các nhà sản xuất. Ngườ i tiêu dùng được thoả mãn nhu cầu cũng như đáp ứng được đầy đủ mọi chủng loại hàng hoá và dịch vụ. Phân công lao động ngày càng xã hội hoá cao. Mở rộng quan hệ nhiề u loại thị trườ ng từ thị trườ ng địa phương, thị trườ ng dân tộc và khu vực, thi trườ ng quốc tế. Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩ y mạnh giao lưu kinh tế, các nước đang phát triển có cơ hội được tiếp xúc được chuyển giao công nghệ sản xuất, 3
  5. Đề án kinh tế chính trị công nghệ quản lý từ các nước phát triển để thúc đẩ y công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở nước mình Kinh tế thị trườ ng góp phần thúc đẩ y giao lưu giữa các nước dướ i s ự thể hiện qua cac sản phẩm dịch vụ mang bản sắc riêng c ủa từng dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia. b. Nhược điểm Kinh tế thị trườ ng phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phầ n kinh tế phát triển, lúc đó vai trò c ủa kinh tế nhà nước bị giảm sút và chịu sức ép mạnh mẽ tư các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế thị trườ ng có s ự cạnh trạnh gắt gao giã các nhà sản xuất, các nhà phân phối dẫn đế n thất nghiệp tăng cao hoạt động phúc lợi xã hội bị giả m sút. Nền kinh tế thị trườ ng do các nhà sản xuất hàng hoá dịch vụ chạy theo lợi nhuận gây ra hậu quả về môi trườ ng sinh thái làm giảm tốc độ tăng trưở ng bền vững c ủa quốc gia. Mặt trái c ủa nền kinh tế thị trườ ng đem lại là các tệ nạn xã hội mới nảy sinh cang ngày càng gia tăng. Nề kinh tế thị trườ ng với bản chất c ủa nó là lợi nhận tối đa thì việc cần định hướ ng cho các thành phần kinh tế là rất quan trọng, nếu không sẽ có nguy cơ đi chệch hướ ng xã hội chủ nghĩa đối lập với bản chất c ủa nhà nước ta. II. CƠ CHẾ THỊ TRƯ ỜNG 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trườ ng có một loạt những quy luật kinh tế vốn có của nó như quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh,v.v…Các quy luật đó đề u biểu hiện sự hoạt động c ủa mình thông qua giá cả thị trườ ng. Nhờ sự vận động giá cả thị trườ ng mà diễn ra một s ự thích ứng một các tự phát giữa khối lượ ng và cơ cấu c ủa sản xuất ( tổng cung ) với khối lượ ng và cơ cấu c ủa sản xuất (tổng cung ), tức là sự hoạt động c ủa các quy luật đó đã điều tiết nền sản xuất xã hội. Vậy: cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết của nề kinh tế thị trường do sự tác đ ộng của các quy luật vốn có của nó. Nói một cách cụ thể hơn, cơ chế thị trường là hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự đIều tiết lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung – cầu, cạnh tranh …trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường đ ể điều tiết nền kinh tế thị trường. 4
  6. Đề án kinh tế chính trị Cơ chế thị trườ ng là một bộ máy tinh vi để phối hợp một cách không tự giác hoạt động c ủa ngườ i tiêu dùng với các nhà sản xuất. Cơ chế thị trườ ng tự phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển c ủa kinh tế thị trườ ng phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển c ủa kinh tế thị trườ ng, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có thị trườ ng và do đó coá cơ chế thị trườ ng hoạt động. 2. Ưu điểm và khuyết tật c ủa cơ chế thị trường a. Ưu điểm c ủa cơ chế thị trường Cơ chế thị trườ ng có những ưu điể m và tác dụng mà không có cơ chế nào hoàn toàn thay thế được. Thứ nhất, cơ chế thị trườ ng kích thích hoạt động c ủa chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ. Do đó là m cho nền kinh tế phát triển năng động, có hiệu quả. Thứ hai,sự tác động c ủa cơ chế thị trườ ng sẽ đưa đến sự thích ứng tự phát giã khối lượ ng và cơ cấu c ủa sản suất ( tổng cung )với khối lượ ng và cơ cấu nhu cầu của xã hội ( tổng cầu ). Nhờ đó ta có thể thoả mãn tốt nhu cầu tiêu dùng cá nhân về hàng vạn sản phẩm khác nhau. Nhiệ m vụ này nếu để Nhà nước là m sẽ phải thực hiên một số công việc rất lớn, có khi không thực hiện được và đòi hỏi chi phí cao trong quá trình ra các quyết định. Thứ ba, cơ chế thị trườ ng kích thích đổi mới kĩ thuật, hợp lý hoá sả n xuất. Sức ép c ủa cạnh tranh buộc những ngườ i sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng những phương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất, đổi mớ i sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, nâng cao hiệu quả. Thứ tư, cơ chế thị trườ ng thự hiện phân phối các nguồn lực kinh tế một cách tối ưu. Trong nền kinh tế thị trườ ng, việc lưu động, di chuyển, phân phối các yếu tố sản xuất, vốn đề u tuân theo nguyên tắc c ủa thi trườ ng; chúng sẽ chuyển đế n nơi được sử dụng với hiệu quả cao nhất, do đó các nguồn lự kinh tế được phân bố một cách tối ưu. Thứ năm, sự điều tiết của c ủa cơ chế thị trườ ng mềm dẻo hơn sự điều chỉnh c ủa cơ quan nhà nước và có khả năng thích nghi cao hơn trước, những điều kiện kinh tế biến đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất xã hội với nhu cầu xã hội. Nhờ những ưu điểm và tác dụng đó, cơ chế thị trườ ng có thể giải quyết được những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế. Nó là cơ chế tốt nhất điều tiết 5
  7. Đề án kinh tế chính trị nền sản xuất xã hội.Tuy nhiên, “sự thành công” c ủa cơ chế đó là có điề u kiện: Các yếu tố sản xuất được lưu động, di chuyển dễ dàng, giá cả thị trườ ng có tính linh hoạt thông tin thị trườ ng phải nhạy, và các chủ thể thị trườ ng phả i nắm được đầy đủ thông tin liên quan. 6
  8. Đề án kinh tế chính trị b. Những khuyết tật c ủa cơ chế thị trường Cơ chế thị trườ ng là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế thị trườ ng, tuy nhiên cơ chế thị trườ ng c ũng có những khuyết tật vốn có của nó. Thứ nhất, cơ chế thị trườ ng chỉ thể hiện đầ y đủ khi có sự kiể m soát của cạnh tranh hoàn hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo, thì hiệu lực của cơ chế thị trườ ng bị giả m. Chẳng hạn xuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượ ng, tăng giá để thu lợi nhận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền thì không có sức ép c ủa c ạnh tranh đối với việc đổi mới k ĩ thuật. Thứ ba, mục đích hoạt động c ủa các doanh nghiệp là lợi ích tối đa, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên c ủa xã hội gây ô nhiễ m môi trườ ng sống của con ngườ i, do đó hiệu quả kinh tế – xã hội không được đả m bảo. Thứ ba, phân phối thu nhập không công bằng, có những mục tiêu xã hội chủ nghĩa dù cơ chế thị trườ ng có hoat động trôi trảy thì c ũng không đạ t được. Sự tác động c ủa cơ chế thị trườ ng s ẽ dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo, phân c ực về c ủa cải, tác động c ủa cơ chế thị trườ ng sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nó không tự động mang lại những giá trị mà xã hội muốn vươn tới. Edgar Morin đã nhận xét chua chát: “Trong các nền văn minh được gọi là phát triển c ủa chúng ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về vă n hoá, trí não, tình ngườ i ”. Thứ tư, một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần tuý điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và thất nghiệp. Ngườ i ta nhận thấy rằng, một nề kinh tế thị trườ ng hiện đạ i đưng trước một khó khăn nan giải c ủa kinh tế vĩ mô: không một nước nào trong một thời gian dài lại có được lạm phát thấp và đầ y đủ công ăn việc làm. Do cơ chế thị trườ ng có một loạt các khuyết tật vốn có c ủa nó, nê n trong thực tế không tồn tại cơ chế thị trườ ng thuần tuý, mà thườ ng có sự can thiệp c ủa nhà nước để sửa chữa những thất bại c ủa cơ chế thị trườ ng, khi đó nền kinh tế, như ngườ i ta thườ ng gọi, gọi là nền kinh tế hỗn hợp. B . KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM I . Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ? Như mọi ngườ i đã biết, kinh tế thị trườ ng là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định c ủa văn minh nhân loại. Từ trước đế n nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dướ i chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết 7
  9. Đề án kinh tế chính trị định s ự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản . Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế c ủa kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiề m năng kinh doanh, tìm kié m lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩ y lực lượ ng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trườ ng tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển. Tuy nhiên, kinh tế thị trườ ng tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất c ủa nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượ ng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn c ủa chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa ngườ i giàu và ngườ i ngèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn c ầu hoá hiện nay, nó còn rằng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạ o bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ ”trung tâ m – ngoại vi”. Có thể nói , nền kinh tế thị trườ ng tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị c ủa một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước ngèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và nước nghèo . Chính vì thế như mà, như C.Mac đã phân tích và dự báo,chủ nghĩa tư bản tất yếu phải nhườ ng chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới vă n mới văn minh hơn, nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tư điều chỉnh, tự thích nghi băng cách phát triển “ nền kinh tế thị trườ ng hiện đạ i ”,” nền kinh tế thị trườ ng xã hội “, tạo ra ”chủ nghĩa tư bản xã hội ”, “ chủ nghĩa tư bản nhân dân ”,” nhà nước phúc lợi chung ” …, tức là phảI có sư can thiệp trực tiếp c ủa nhà nứơ c và c ũng phải chă m lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bả n không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạ m thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đạ i đang nghày càng thể hiện xu hướ ng tự phủ định và tự tiến hoá để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướ ng xã hội hoá. Đây là tất yế u khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trườ ng chủ nghĩa tư bản. Mô hinh chủ nghĩa xã hội kiểu Xô - viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chưc kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật c ủa chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức 8
  10. Đề án kinh tế chính trị sản xuất văn minh, hiện đạ i hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưở ng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đạ i, làm thay đổi hẳn bộ mặt c ủa đất nước và đờ i sống c ủa nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xoá bỏ ngay kinh tế hàng hoá, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thi trườ ng),không năng động,kịp thời đIều chỉnh khi cần thết cho nên rút cuộc đã không thành công. Thực ra, khi mói vận dụng học thuyết Mác vào xây dưng chủ nghĩa xã hôI ỏ nuớc Nga sau Cách mạng Tháng M ườ i. V.I.Le-nin cung đã từng chủ trương không áp dụng kinh tế thị trườ ng mà thực hiện “ chính sách cộng sản thời chiến ” . Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Ngườ i đã phát hiện ra sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đưa ra thực hiên “ chính sách kinh tế mới”(NEP) mà nội dung cơ bản c ủa nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hoá, chấp nhận ở mức độ cơ chế thị trườ ng. Theo V.I.Le-nin,để xâ y dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn tương đối lạc hậu về kinh tế như ở nước Nga, cần phải sử dụng quan hệ hàng hoá - tền tệ và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển lực lượ ng sản xuất. Tuy chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn nhưng NEP đẵ đem lại những kết quả tích cực cho nước Nga: hồi phục và phát triển nền kinh tế bị triến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầ u hoạt động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng tư tưở ng c ủa V.I.Le-nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với chính sách NEP đã không được tiếp tục thực hiên sau khi Ngườ i qua đờ i.Sự thành công và phát triển mạnh mẽ suốt một thờ i gian khá dài c ủa Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hoá đất nước bằng mô hình kinh tế dư trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoach hoá tập trung cao độ; phân phối thu nhập mang tính bình quân; kinh tế hàng hoá kinh tế thị trườ ng bị loại bỏ đã có sức hấp dẫn hơn đối với nhân loại và là m cho giới lý luận kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa và các nước phát triển tuyệt đối hoá,biến thành công thức để áp dụng cho tất cả các nước đi theo con đườ ng xã hôị chủ nghĩa. Cũng cần nói thêm rằng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giới lý luận ở một số nước c ũng cả m thấy có cái gì “ chưa ổn ” , c ũng đă đưa ra những kiến nghị, những đề xuất, đại loại như quan điể m “chủ nghĩa xã hội thị trườ ng ”,… nhưng không được chấp nhận. Vào cuối nhưng năm 70 c ủa thế kỷ XX, những hạn chế khuyết tật c ủa mô hình kinh tế Xô-viết đã bộc lộ ra rất rõ cộng vói s ự yếu ké m trong công 9
  11. Đề án kinh tế chính trị tác lãnh đạo, quản lý lúc bấy giờ đã làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơI vào tình trang trì trệ, khung hoảng. Một số ngườ i lãnh đạo chủ chốt c ủa Đả ng và Nhà nước Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng công cuộc cải cách, cải tổ, nhưng với một “ tư duy chính trị mới ”, họ đã pham sai lầ m nghiêm trọng cực đoan phiến diện ( ở đâ y chưa nói đế n s ự phản bội lý tưở ng xã hội chủ nghĩa c ủa họ và s ự phá hoạ i thâ m hiể m c ủa các thế lực thù địch ), dẫn tới s ự tan giã c ủa Liên Xô và sự s ụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Sự s ụp đổ c ủa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở đông Âu vào cuối những năm 80, dâu những năm 90 của thế kỷ XX dã làm lộ rõ những khuyết tật c ủa mô hinh kinh tế cưng nhă phi thị trườ ng, mặc dù những khuyết tật đó không phảI là nguyên nhân tất yế u dẫn đế n sự sụp đổ. Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị triến tranh tàn phá nặng nề . Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưở ng c ủa những ngườ i cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khat vọng ngàn đồi thiêng liêng c ủa dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn cực kì hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam c ũng như nhiều nước khác Viêt Nam c ũng áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu c ủa đất nước thời kỳ có chiế n tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ nhiều khuyết để m và trong công tác chỉ đạo c ũng phạm phải một số sai lầ m mà nguyên nhân sâu xa c ủa những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ hanh động đơn giả nóng vội không tôn trọng quy luật khách quan, nhạn thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức đúng đắ n hơn và đầ y đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đườ ng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đạ i hội VI của đả ng cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nướ c nhằ m thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đạ i hội đưa ra những quan niệm mới về con đườ ng, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệ m về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan c ủa sản xuất hàng hoá và thị trườ ng, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh 10
  12. Đề án kinh tế chính trị doanh phù hợp; coi trong việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chă m lo toàn diện và phát huy nhân tố con ngườ i, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đạ i hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức c ủa Đả ng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đườ ng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là một kết quả c ủa cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấ u tranh tư tưở ng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức c ủa toàn Đảng toàn dân trong nhiều năm. Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khoa VI, phát triển thê m một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồ m nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “ chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ di lên chủ nghĩa xã hội ”. Đến đạ i hội VII ( tháng 6 năm 1991 ), Đả ng cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đườ ng đi lên chủ nghĩa xã hội c ủa Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đấ t nươc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội c ủa Đả ng khẳng định : “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướ ng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trườ ng có sự quản lý c ủa nhà nước”. Đại hội VIII c ủa Đả ng (6/1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng : “sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển c ủa nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngay cả khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng”. Những lúc đó c ũng mới nói nền kinh tế hang hoá, cơ chế thị trườ ng, chưa dùng khái niệ m “ kinh tế thị trườ ng ”. Phải đế n đạ i hội IX c ủa Đả ng (tháng 4/2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướ ng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: phát triển kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là đườ ng lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều nă m nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận c ủa Đả ng cộng sản Việt Nam. II.Bản chất, đặc trưng c ủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Lựa chọn mô hình kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghép chủ quan giã kinh tế thị trườ ng và chủ nghĩa xã hội, mà là s ự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan c ủa kinh tế thị trườ ng trong thời đạ i ngày nay. Đả ng cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức 11
  13. Đề án kinh tế chính trị tính quy luật phát triển c ủa thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệ m phát triển kinh tế thị trườ ng thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa, nhằm s ử dụng kinh tế thị trườ ng để thực hiện mục tiêu tưng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu kinh tế thị trườ ng mới trong lich sử của kinh tế thị trườ ng. Cũng có thể nói kinh tế thị trườ ng là “ cái phổ biến ”, còn kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là “ cái đặc thù ” c ủa Việt Nam, phù hợp với đIều kiện cụ thể c ủa Việt Nam. Nói kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không phải là kinh tế thị trườ ng tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, c ũng không phảI là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; và cũng chư hoàn toàn là kinh tế thị trườ ng xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nói,Việt Nam đang ở trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừ có vừ chư có đầ y đủ các yếu tố c ủa chủ nghĩa xã hội. Chủ trương phát triển kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu c ủa văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích c ực c ủa kinh tế thị trườ ng trong việc thúc đẩ y sức sản xuất, xã hội hoá lao động, cải tiến kĩ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượ ng sản phẩm, tạo ra nhiều c ủa cải, góp phần là m giàu cho chủ nghĩa xã hội và cải thiện đờ i sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiê u cực của nền kinh tế thị trườ ng, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hoá giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây c ũng là sự lựa chọn tự giác con đườ ng và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác – enin, năm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện c ụ thể của Việt Nam. Đại hội IX c ủa Đả ng cộng sản Việt Nam chỉ rõ :Kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừ tuân theo những quy luật c ủa kinh tế thị trườ ng vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất c ủa chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt : Sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối. Nói các khác, kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trườ ng có sự quản lý c ủa nhà nước nhằm mục tiê u dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 12
  14. Đề án kinh tế chính trị Mục đích c ủa kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượ ng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đờ i sống nhân dân. phat triển lực lượ ng sản xuất hiện đạ i gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến. Kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cung với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý c ủa nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và băng cả sức mạnh vật chất c ủa lực lượ ng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trườ ng, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trườ ng để kích thích sản suất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích c ực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực c ủa cơ chế thị trườ ng, bảo vệ lợi ích c ủa nhân dân lao động, c ủa toàn thể nhân dân. Kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối theo kết quả lao đông và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưở ng kinh tế gắn liền với đả m bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trương kinh tế đi đôi với phát triể n văn hoá và giáo dục, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậ m đà bả sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con ngườ i, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Cũng có thể nói, kinh tế thị trườ ng định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế c ủa một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nề n kinh tế còn ở trình độ thấp sang nề kinh tế ở trình độ cao hơn hương tới chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trườ ng có tổ chức, có sự lãnh đạo c ủa Đả ng cộng sản và sự quản lý c ủa nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướ ng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuết tật của tính tự phát thị trườ ng, nhă m phục vụ tốt nhất lợi ích c ủa đạ i đa số nhân dân và sự phát triển bền vững c ủa đất nước. Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niêm c ủa Đả ng cộng sản Việt Nam về s ự phù hợp giã quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ c ủa lực lượ ng sản xuất trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 13
  15. Đề án kinh tế chính trị Có ý kiến cho rằng, không thể có nền kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa; răng chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trườ ng không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ ghép ” định hướ ng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trườ ng thì chẵng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra một cơ thể “ đầu Ngô mình Sở ”. Theo chúng tôi, ý kiến này không đúng. Không đúng là vì, hoặc ý kiến này muốn trì kéo Việt Nam trong quỹ đạo phát triển c ủa chủ nghĩa tư bản, phủ nhận định hướ ng xã hội chủ nghĩa, không muốn Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều trái với quy luật khách quan, không thể chấp nhận. Hoặc ý kiến này không thoát ra được khỏi tư duy c ũ, đồng nhất kinh tế thị trườ ng với chủ nghĩa tư bản, cho kinh tế thị trườ ng là cái riêng có c ủa chủ nghĩa tư bản, từ đó “ dị ứng ” với kinh tế thị trườ ng, không thấy hết những yếu tố mới, xu hướ ng mới c ủa kinh tế thị trườ ng trong điều kiện mới c ủa thờ i đại, lập lại sai lầm c ủa một thời kỳ trước đây. Cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biến c ủa kinh tế thị trườ ng, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng, những cái dặc thù c ủa kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa. Từ đó chưa tin là kinh tế thị trườ ng có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc doanh là chủ đạo; rằng trong kinh tế thị trườ ng không thể có kế hoạch. Không thể thực hiện công bằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực mặt trái c ủa cơ chế thị trườ ng,v.v…Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trườ ng định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thê m định ngữ “ định hướ ng xã hội chủ nghĩa ” thì c ũng chỉ là để cho yê n lòng, cho có vẻ “ giữ vưng lập trườ ng ” mà thôi, trước sau gì c ũng trượt sang con đườ ng tư bản chủ nghĩa. Chúng tôi cho rằng, những băn khoăn này là dễ hiểu, bởi vì đây là những điều còn rất mới mẻ chưa có tiền lệ, nếu không xác định rõ nội dung định hướ ng xã hội chủ nghĩa và kiên trì vai trò quản lý c ủa nhà nước xã hội chủ nghĩa đói với nền kinh tế thị trườ ng thì những điều đó rất dễ xãy ra. Chúng tôi còn phảivừa là m vưa tổng kết, rút kinh nghiệ m. Nhưng có những điều cần khẳng định: trong điều kiện mới của thời đạ i ngày nay, nhất định không thể duy trì mãi mô hình kinh tế thị trườ ng tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhất kinh tế thị trườ ng với chủ nghĩa tư bản. Chính C.Mác đã phê phá n sự nhầm lẫn giữa kinh tế hàng hoá với kinh tế tư bản chủ nghĩa c ủa phái kinh tế học tầ m thườ ng. C.Mác khẳng định rằng : “ …sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá là những hiện tượ ng thuộc về nhiều phương thứ sản xuất hết 14
  16. Đề án kinh tế chính trị sức khác nhau, tuy răng quy mô và tầm quan trọng c ủa chúng không giống nhau…Chúng ta hoàn toà chưa biết một tý gì về đặc điểm riêng c ủa những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượ ng c ủa lưu thông hàng hoá, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy ”. Phải chăng việc nhận thức cho đúng và nói cho được những đặc điểm riêng c ủa những phương thức sản xuất đặc thù ấy là trách nhiệ m mà C.Mác giao cho và gửi gắm các thế hệ ngày nay. Lựa chọn mô hình kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa không phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằ m mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử c ụ thể của thời đạ i và c ủa những nước đ i sau , cho phép các nước này giảm thiểu những đau khổ và rút ngắn được con đườ ng đi c ủa mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế c ũng như hạn chế được những khuyết điểm c ủa hai cơ chế : Kế hoạch và thị trườ ng .Nói cách khác, kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt ,vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật c ủa hệ thống kinh tế thị trườ ng, vừa đả m bảo tính định hướ ng xã hội chủ nghĩa . Chính tính chất ,đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện , công c ụ, động lực c ủa nền kinh tế và con đườ ng đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trườ ng, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa , phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở c ửa và hội nhập nhằm thúc đẩ y quá trình công nghiệp hoá, hiện đạ i hoá và phát triển rút ngắn trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướ ng hiện đạ i. 15
  17. Đề án kinh tế chính trị PHẦN II VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯ ỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯ ỜNG 16
  18. Đề án kinh tế chính trị 17
  19. Đề án kinh tế chính trị A. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. Sự cần thiết chuyển sang cơ chế thị tr ường có sự quản lý c ủa nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do nhận thức cò đơn giản về chủ nghĩa xã hội và con đườ ng đi lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã thiết lập thể chế kinh tế kế hoạch và cơ chế vậ n hành nền kinh tế là cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp. Mô hình kinh tế và cơ chế đó có những đặc trưng sau: Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế mệnh lệnh hành chính là chủ yếu với hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dướ i. Do đó hoạt động c ủa các doanh nghiệp chủ yếu phảI dựa vào chỉ tiêu pháp lệnh hoặc là quyết định c ủa cơ quan quản lý nhà nướ c cấp trên, từ phương hướ ng sản, nguồn vật tư, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm, đến việc định giá, sắp xếp bộ máy. Thứ hai, các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh c ủa các đơn vị kinh tế cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệ m gì về vật chấtđối với các quyết định c ủa mình. Những thiệt hại do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Hậu quả do hai điể m nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước là m thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh c ủa doanh nghiệp. Còn các doanh bghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấp trên, vì không b ị rằng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh. Thứ ba, trong cơ chế cũ quan hệ hàng hoá - tiền tệ bị coi thườ ng, nhà nước quản lý nền kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu, do đó hoạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp đựơ c thực hiện dướ i các hình thức: - Bao cấp qua giá là hình thức phổ biến và nghiê m trọng nhất. Nhà nước định giá tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hoá thấp hơn gía trị c ủa chúng. Vớ i giá thấp như vậy, xem như một phần những thứ đoá được cho không. - Bao cấp qua chế độ tem phiếu ( tiền lương hiện vật ). Chế độ cung câp tem phiếu với giá thấp đã biến thành một lọi tiền lương hiện vật đã phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động. - Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn c ủa ngân sách mà không rằng buộc trác nhiệ m về vật chất đối với ngườ i được cấp vốn đã tạo ra gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh qua nhiều trung gian và kém năng động, từ đó sinh ra một đôingũ cán bộ kém nưng lự quản lý, nhưng phong 18
  20. Đề án kinh tế chính trị cách thì cửa quyền quan liêu. Mô hình kinh tế chỉ huy, mà điển hình là nề n kinh tế kế hoạch hoá, tậ trung, bao cấp…Với những đặc trưng nêu trên có những ưu đặc điểm là tập trung được nguồn lựvào những mục tiêu chủ yếu, nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh nên kìm hãm sự phát triển c ủa khoa học – kĩ thuật. Mô hình kinh tế đó không có tiêu chẩn khách quan đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế, bởi lẽ giá cả gần như không có quan hệ gì với giá trị hang hoá, c ũng như là tương quan cung cầu, nên mọi sự tính toán đề u sai lệch, là m mất đị động lực c ủa s ự phát triển kinh tế, làm triệt tiêu tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi đó chủ yếu phát triển kinh tế theo bề rộng chứ bkhông phải chiề u sâu. Vì vậy, đổi mới tư duy về kinh tế, Đả ng ta đã đề ra phương hướ ng đổ i mới kinh tế là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường sự quản lý của Nhà nước, đ ịnh hướng xã hội chủ nghĩa. II . Tính tất yếu khách quan về vai tr ò kinh tế c ủa nhà nước trong nề n kinh tế thị trường Kinh tế thị trườ ng với chủ nghĩa xã hội không chỉ là mộttrong những đại vấn đề, là điểm then chốt trong lí luận về chủ nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.ĐạI hội lần thứ IX c ủa Đả ng cộng sản Việt Nam khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế thị trườ ng định hướ ng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam . Quan đIểm này là kết qủa củamột quá trình đổi mới tư duy, vận dụng lý luận, tổng kết thực tiễn; là qúa trình tìm tòi, thử nghiể m trăn trở, đầu tranh tư tưở ng – lý luận trong đả ng và ngoài xã hội. Thực tiển đã khẳng định và chứng minh đây là một bước đột phá có tính sáng tạo và cách mạng trong tư duy lý luận c ủa Đả ng cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội. Chúng ta biết, tư duy lý luận trước đây coi sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trườ ng là đối lập tuyệt đối với chủ nghĩa xã hội như “nước đối với lửa”, chúng không thể dung hợp. Theo tư duy đó, kinh tế thị trườ ng đồng nhất với chủ nghĩa tư bản ; còn kinh tế kế hoạch hoá tập trung được đồng nhất với chủ nghĩa xã hội và tính ưu việt c ủa chủ nghĩa xã hội c ũng được coi là bắt nguồntừ đó . Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới mấy thập niên gần đây đã chứng minh tư duy đó không phù hợp với thực tế. Trong chủ nghĩa xã 19

Tài liệu cùng danh mục Khoa học xã hội

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài: Ý thức, trách nhiệm của học sinh, sinh viên khoa Văn Hóa trường Đại Học Hạ Long về phòng chống tệ nạn ma túy học đường

Mục tiêu nghiên cứu: Từ nghiên cứu thực tiễn đề ra biện pháp nâng cao nhận thức của sinh viên về ma túy giúp cho các bạn sinh viên sẽ có cái nhìn bao quát hơn, khách quan hơn về sự hiểu biết về ma túy. Trang bị những kiến thức đầy đủ về ma túy không chỉ giúp các bạn hiểu rõ về những tác hại của nó, biết cách bảo vệ mình và người thân trước hiểm họa ma túy.


Hình thức trình bày luận văn thạc sĩ

Hình thức trình bày luận văn thạc sĩ


Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của Platon và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của thời đại

Tiểu luận môn triết học: Tư tưởng triết học của Platon và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của thời đại nhằm giới thiệu chung về Platon, tư tưởng của Platon, ảnh hưởng của tư tưởng Platon đối với đời sống văn hóa tinh thần của thời đại, học thuyết về ý niệm, lý luận về nhận, học thuyết về chính trị - xã hội.


Đề tài "Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực trong học tập môn tiếng Anh cho học sinh khối 8”

Hiện nay tiếng Anh được sử dụng ở hầu hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống và nó được coi là ngôn ngữ quốc tế số một trên thế giới. Vì thế việc dạy và học ngoại ngữ đang đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trước đây, việc giảng dạy ngôn ngữ chỉ chú tâm vào ngữ pháp và cấu trúc câu. Ở thời điểm đó, việc giảng dạy ngoại ngữ bị chi phối bởi phương pháp dạy truyền thống, trong đó giáo viên là người chi phối mọi hoạt động dạy và...


THUYẾT TRÌNH "HỆ THỐNG CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM "

Thuyết trình đề tài "Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước Việt Nam trong bộ máy nhà nước Chủ nghĩa xã hội Việt Nam.


Bài thuyết trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin - Chương 1: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Bài thuyết trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin - Chương 1: Chủ nghĩa duy vật biện chứng trình bày những thông tin tổng quan về chủ nghĩa Duy vật và chủ nghĩa Duy vật biên chứng, quan đểm của chủ nghĩa Duy vật biên chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Tài liệu hữu ích với những bạn chuyên ngành Triết học và những ngành có liên quan.


Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Nội dung của tiểu luận được trình bày trong 2 chương: chương 1 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong hành trình truyện ngắn đương đại, chương 2 các kiểu con người trong một số truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.


Đề tài: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Mục đích của việc thực hiện đề tài: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhằm nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay cũng như những yêu cầu đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Từ đó, đưa ra các giải pháp mang tính định hướng nhằm tăng cương hiệu quả các chính sách của nhà nước trong công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 


Thuyết trình: Già hóa dân số và thách thức chính sách đối với Việt Nam

Thuyết trình: Già hóa dân số và thách thức chính sách đối với Việt Nam nhằm trình bày về xu hướng già hóa dân số trên thế giới và những đặc trưng của người cao tuổi ở Việt Nam, dân số già và già hóa dân số là xu hướng nhân khẩu học phổ biến trong cả nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Già hóa dân số có quan hệ mật thiết với kinh tế - xã hội; Một mặt nó cho biết thành tựu và sự tiến bộ tuyệt vời của xã hội. Mặt khác, nó đòi hỏi những thách thức chính sách.


Luận văn:Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ

Trong lịch sử khẩn hoang, Nam Bộ được xem là vùng đất mới của người Việt, đầy thách thức với người đi khai hoang, vì là vùng đất hoang vu. Khai phá đất Nam Bộ là quá trình lao động vất vả và lâu dài của nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Các lưu dân như người Việt là chủ yếu và sau đó là người Khmer, Hoa, Chăm cùng cư dân bản địa như S’tiêng, Châuro đã đổ mồ hôi, xương máu khai phá vùng Nam Bộ và biến nó trở thành một trong những vùng trù phú của đất nước như ngày nay....


Tài liệu mới download

TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ISO 22000
  • 27/04/2010
  • 92.438
  • 874
TCVN 6427-2:1998
  • 08/08/2010
  • 16.921
  • 960

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu