Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp năm 2014

Bài viết Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp năm 2014 trình bày bài viết không tìm hiểu các quy định về chủ thể góp vốn đối các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước,... Mời các bạn cùng tham khảo.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 272-278

DOI:10.22144/ctu.jvn.2018.032

CHỦ THỂ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
Nguyễn Thanh Huy1* và Ngô Thị Phương Thảo2
1

Đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh
Khoa Kinh tế, Luật - Trường Đại học Trà Vinh
*Người chịu trách nhiệm về bài viết: Nguyễn Thanh Huy (luatsuhuytravinh@gmail.com)
2

Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 04/07/2017
Ngày nhận bài sửa:11/10/2017
Ngày duyệt đăng: 28/02/2018

Title:
The subject contributing
capital to business
establishment under the
provisions of business law in
2014

ABSTRACT
The article is to examine the provisions of Business Law in 2014 on the
subject of capital contribution at the stage of establishing business for
various types of businesses: limited liability company, partnership, jointstock company but neither state-owned businesses nor businesses with
foreign elements and State businesses. From the analysis of the provisions
of Business Law in 2014 on the basis of comparison with the relevant legal
documents combined with the fact finding, the article has pointed out the
limitations, contradictions, inadequacies in the provisions of the law on
the subject contributed capital to establish business. At the same time, the
article proposes some ways to improve the law on this issue.

Từ khóa:
Chủ thể góp vốn, doanh
nghiệp, góp vốn, Luật Doanh
nghiệp

The article will make a significant contribution to the consistency of the
existing legal documents in general and contribute to the completion of
Business Law in 2014 in particular.

Keywords:
Capital contribution, business,
Business Law, the subject
contributed capital

Bài viết nghiên cứu các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về chủ
thể góp vốn ở giai đoạn thành lập doanh nghiệp đối với các loại hình
doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ
phần. Bài viết không tìm hiểu các quy định về chủ thể góp vốn đối các
doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước.

TÓM TẮT

Bài viết sẽ có những đóng góp đáng kể trong việc tạo sự thống nhất giữa
các văn bản pháp luật hiện hành nói chung và góp phần hoàn thiện Luật
Doanh nghiệp năm 2014 nói riêng.
Trích dẫn: Nguyễn Thanh Huy và Ngô Thị Phương Thảo, 2018. Chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp theo
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(1D):
272-278.
bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền thành lập
doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động kinh
doanh. Nhà nước quy định mọi tổ chức, cá nhân đều
có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp, nhưng
Nhà nước cũng nghiêm cấm các hoạt động kinh
doanh của các nhà đầu tư có nguy cơ phá vỡ sự bình
đẳng của các doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Luật
Doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã có những thay đổi

1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay, góp vốn thành lập doanh nghiệp là quyền của
nhà đầu tư. Tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 có quy
định: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong
những ngành nghề mà pháp luật không cấm". Tuy
nhiên, tự do kinh doanh không đồng nghĩa với việc
272

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 272-278

trường hợp không được quyền thành lập, quản lý
doanh nghiệp và Khoản 3 Điều 18 nghiêm cấm một
số trường hợp không được quyền góp vốn để thành
lập doanh nghiệp như:

đáng kể so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 theo
hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với
thực tế. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ,
Luật Doanh nghiệp hiện hành vẫn bộc lộ một số hạn
chế khi quy định về vấn đề này. Vì vậy, bài viết đưa
ra một số đề xuất nhằm ngày càng hoàn thiện hơn
nữa quy định pháp luật về chủ thể góp vốn thành lập.

Tại Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm
2014 có quy định: Tổ chức, cá nhân sau đây không
có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt
Nam:

2 NỘI DUNG
2.1 Những quy định pháp luật và hạn chế

Một, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp
kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình..

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Luật Doanh
nghiệp năm 2014 thì: "Tổ chức, cá nhân có quyền
thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo
quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều này". Như vậy, với quy định này thì
xem như mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành
lập doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động kinh
doanh trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi tiến hành thành lập doanh nghiệp thì cá nhân, tổ
chức có quyền tự do kinh doanh, có quyền lựa chọn
hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, tinh
thần này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều
33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong
những ngành nghề mà pháp luật không cấm". Như
vậy, có thể nhận thấy rằng quy định về chủ thể góp
vốn thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
năm 2014 đã thể hiện một bước tiến trong việc ghi
nhận quyền của nhà đầu tư, từ chỗ chỉ làm những gì
Nhà nước cho phép chuyển sang được làm những gì
Nhà nước không cấm. So với Luật Doanh nghiệp
năm 2005, thì tinh thần này vẫn được kế thừa và tiếp
tục khẳng định. Chính điều này đã góp phần tạo cơ
hội thuận lợi cho các nhà đầu tư nhận thức được khả
năng của mình, từ đó tự hoàn thiện các điều kiện
kinh doanh để lựa chọn cho mình một phương án
kinh doanh phù hợp. Cũng chính quy định này đã
làm hạn chế tình trạng mỗi ngành, mỗi cấp không
được tùy tiện ban hành các quy định về điều kiện
của chủ thể kinh doanh, Nhà nước chỉ thực hiện việc
quản lý, điều tiết sản xuất kinh doanh theo định
hướng phát triển phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu
dài của đất nước. Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm
2014 ra đời tạo ra một khung pháp lý thống nhất cho
các chủ thể kinh doanh, không phân biệt thành phần
kinh tế và hình thức sở hữu, có vai trò quan trọng
trong việc tạo ra môi trường kinh doanh, bình đẳng
giữa các chủ thể kinh doanh.

Hai, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định
của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
Ba, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người
được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần
vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.
Bốn, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong
doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử
làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp khác.
Năm, người chưa thành niên; người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành
vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Sáu, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự,
chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính
tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm
chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến
kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản,
phòng, chống tham nhũng.
Tại Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm
2014 quy định tổ chức, cá nhân sau đây không có
quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh:
Một, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
Hai, các đối tượng không được góp vốn vào
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức.

Tuy nhiên, trên thực tế xuất phát từ nhiều lý do
và quan điểm khác nhau nên Luật Doanh nghiệp
năm 2014 có những quy định để hạn chế quyền
thành lập và quản lý doanh nghiệp nói chung và
quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp của một số
đối tượng nói riêng. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 18
Luật Doanh nghiệp năm 2014 nghiêm cấm một số

Ngoài các trường hợp chung nêu trên, thì Luật
Doanh nghiệp năm 2014 còn có một số quy định đặc
thù về việc không được quyền góp vốn thành lập,
quản lý doanh nghiệp. Ví dụ: Chủ doanh nghiệp tư
273

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 272-278

học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác”.

nhân (Khoản 1 Điều 175 Luật Doanh nghiệp năm
2014), Chủ hộ kinh doanh (Khoản 3 Điều 67 Nghị
định 78/2015/NĐ-CP) không được quyền góp vốn
thành lập công ty hợp danh với tư cách là thành viên
hợp danh (trừ khi có sự đồng ý của các thành viên
hợp danh còn lại), doanh nghiệp tư nhân không được
quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần
vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm
hữu hạn hoặc công ty cổ phần (Điều 183 Luật Doanh
nghiệp năm 2014) .

Như vậy, với quy định nêu trên thì xem như cán
bộ, công chức, viên chức không được góp vốn thành
lập doanh nghiệp. Đây là một trong những ngoại lệ
về quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp. Theo
quan điểm hiện nay, các đối tượng này đều đang
đảm nhiệm các công việc công, công việc ổn định
thường xuyên và được trả lương từ ngân sách nhà
nước, nên các đối tượng này phải có nghĩa vụ tận
tâm, hết lòng phục vụ xã hội và phục vụ nhân dân
nên không thể dành thời gian thực hiện các hoạt
động kinh doanh mang tính chất công việc tư. Việc
pháp luật cấm các đối tượng này không được quyền
thành lập doanh nghiệp nghĩa là không có quyền góp
vốn thành lập doanh nghiệp là để tránh sự lạm
quyền, chồng chéo giữa công việc chung với công
việc tư, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc được
giao, kéo theo sự ảnh hưởng của các bộ phận khác
và có thể ảnh hưởng tới lợi ích của nhân dân. Đồng
thời, ngăn ngừa khả năng vì tư lợi mà lạm dụng
quyền hạn của mình để làm phương hại đến lợi ích
chung của xã hội và của Nhà nước.

Như vậy, với quy định của pháp luật hiện hành
về doanh nghiệp thì cũng có một số trường hợp cá
nhân, tổ chức không được quyền góp vốn thành lập
doanh nghiệp. Vậy, lý do tại sao pháp luật hiện hành
cấm và cấm như vậy là nhằm mục đích gì, có ảnh
hưởng gì đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
hay không? Với một cách nhìn tổng thể về chủ thể
kinh doanh, thì một số quy định của pháp luật hiện
hành nghiêm cấm như vậy là chưa phù hợp với các
ngành luật khác, còn có sự chồng chéo giữa các
ngành luật với nhau, thậm chí còn có thể làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Do đó, cần phải có những giải pháp hoàn thiện cụ
thể.
2.1.1 Góp vốn thành lập doanh nghiệp của cá
nhân

Quan điểm như trên là chưa đồng bộ hết các quy
định hiện tại của pháp luật. Bởi vì, quan điểm này
chỉ tập trung chú trọng đến một khía cạnh tiêu cực
của vấn đề mà chưa xem xét hết các mặt tích cực của
một vấn đề. Nếu theo quan điểm cán bộ, công chức,
viên chức không được góp vốn thành lập doanh
nghiệp để trực tiếp tham gia quản lý, điều hành
doanh nghiệp trong phạm vi ngành, nghề mà các đối
tượng đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước
thì rất hợp lý. Tuy nhiên, những ngành, nghề hoặc
lĩnh vực mà các đối tượng đó không công tác hoặc
không phụ trách thì họ phải được quyền góp vốn
thành lập doanh nghiệp để tiến hành kinh doanh, vì
họ không có khả năng chi phối hoặc thao túng được
lĩnh vực này. Cụ thể, theo quy định của Luật Viên
chức thì giáo viên tiểu học của một trường công lập
nào đó chính là viên chức, nếu giáo viên này thành
lập doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu, vải sợi hoặc
một lĩnh vực nào đó không phải là giáo dục... thì họ
có khả năng chi phối, thao túng lĩnh vực mà họ đã
đầu tư thành lập doanh nghiệp được không?

Thứ nhất, đối với cán bộ, công chức, viên chức
theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,
viên chức không được thành lập doanh nghiệp
(Quốc hội, 2014).
Theo Điều 20 Luật Cán bộ, công chức năm 2008
có quy định: “Ngoài những việc không được làm
quy định tại Điều 18 và Điều 19 của luật này, cán
bộ, công chức còn không được làm những việc liên
quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy
định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác
theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm
quyền”.
Tại Khoản 6 Điều 19 Luật Viên chức năm 2010
có quy định: "Những việc khác viên chức không
được làm theo quy định của Luật Phòng, chống tham
nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và
các quy định khác của pháp luật có liên quan".

Do vậy, pháp luật hiện hành cấm tất cả cán bộ,
công chức, viên chức không được quyền góp vốn
thành lập doanh nghiệp là chưa thuyết phục và chưa
đồng bộ. Quy định như hiện tại của luật là còn mang
tính chung chung, chưa phân hóa cụ thể và rõ nét đối
với từng đối tượng, từng ngành nghề hoặc từng lĩnh
vực mà các đối tượng có liên quan tham gia góp vốn
thành lập doanh nghiệp.

Để nhất thể hóa các quy định trên của Luật Cán
bộ, công chức, Luật Viên chức tại Điểm b Khoản 1
Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005
(sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012) có quy
định cán bộ, công chức, viên chức không được làm
những việc sau đây: “Thành lập, tham gia thành lập
hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường

Tóm lại, pháp luật hiện hành cấm cán bộ, công
chức, viên chức không cho góp vốn thành lập doanh
274

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 272-278

doanh nghiệp. Do vậy, người chưa thành niên góp
vốn thành lập doanh nghiệp thì có thể không ảnh
hưởng gì đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu họ phải ký tên vào Điều lệ công ty hoặc
phải có mặt trong các cuộc họp để biểu quyết những
vấn đề có liên quan đến doanh nghiệp thì họ thông
qua người đại diện theo pháp luật hay người giám
hộ của họ tham dự để quyết định. Vì bản chất của
việc góp vốn thành lập doanh nghiệp là nhằm mục
đích kinh doanh và họ chỉ mong muốn được hưởng
phần lợi nhuận từ việc kinh doanh mà thôi. Người
góp vốn thành lập doanh nghiệp không nhất định
phải có mặt để tham dự các cuộc họp của doanh
nghiệp hoặc xử lý những vấn đề phát sinh từ doanh
nghiệp. Đặc biệt đối với nhóm người chưa thành
niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu họ có tài
sản (trừ những tài sản là bất động sản, động sản phải
đăng ký) và muốn sinh lợi từ số tiền mà mình sở hữu
thông qua hoạt động góp vốn thành lập doanh
nghiệp nhưng Luật Doanh nghiệp lại cấm đối tượng
này tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp là đã
hạn chế quyền định đoạt của họ đối với tài sản của
mình đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự.

nghiệp là còn cứng nhắc, cào bằng, không phân hóa
rõ nét từng chủ thể trong việc thành lập và góp vốn
thành lập doanh nghiệp. Việc cấm cán bộ, công
chức, viên chức không cho họ thành lập doanh
nghiệp hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp là đồng
nghĩa với việc loại bỏ đi một lượng lớn người có
trình độ, chuyên môn cao trong lĩnh vực doanh
nghiệp, trong khi họ vẫn có thể tham gia các hoạt
động kinh doanh khác.
Thứ hai, đối với người chưa thành niên; Người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng
lực hành vi dân sự không có quyền thành lập và quản
lý doanh nghiệp tại Việt Nam (Quốc hội, 2014).
Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Dân sự năm
2005 thì: "Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa
thành niên". Kế thừa tinh thần này tại Điều 21 Bộ
luật Dân sự năm 2015 cũng quy định: "Người chưa
thành niên là người chưa đủ 18 tuổi". Theo quy định
của luật thì người thành niên là người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ (Quốc hội, 2015). Do vậy, họ
có quyền xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
và họ tự chịu trách nhiệm đối với hành vi dân sự khi
vi phạm nghĩa vụ dân sự. Còn đối với người từ đủ
mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (trong
nhóm người chưa thành niên) thì họ tự mình xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch liên quan
đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao
dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật phải
được người đại diện theo pháp luật đồng ý (Quốc
hội, 2015). Như vậy, về nguyên tắc chung thì người
chưa thành niên trong nhóm này cũng được thực
hiện các giao dịch dân sự, chỉ một số trường hợp đặc
biệt mới có người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Xuất phát từ tinh thần này, tại Khoản 2 Điều 77 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định như
sau: “Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền
định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất
động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền
sử dụng hoặc dùng tài sản để "kinh doanh" thì phải
có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người
giám hộ”.

Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cấm
người chưa thành niên không được thành lập và
quản lý doanh nghiệp là chưa phù hợp với với tinh
thần của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2014 đối với các quy định trong
phần chế định người chưa thành niên thực hiện các
giao dịch về dân sự hay kinh tế như đã phân tích ở
trên. Vì người chưa thành niên về nguyên tắc chung
họ vẫn có tài sản riêng. Do vậy, họ phải có quyền sử
dụng tài sản của họ để tham gia vào các hoạt động
kinh doanh và việc họ muốn góp vốn thành lập
doanh nghiệp để kinh doanh là một nhu cầu thật sự
cần thiết.
Thứ ba, đối với người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định
xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở
giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh
doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất
định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của
Tòa án; Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng (Quốc
hội, 2014).

Với quy định này, dù luật chưa giải thích kinh
doanh theo hình thức như thế nào nên chúng ta có
thể hiểu người chưa thành niên trong nhóm này cũng
có thể dùng tài sản của mình để góp vốn thành lập
doanh nghiệp nhằm tiến hành các hoạt động kinh
doanh nếu có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ
hoặc người giám hộ.

Tại Điều 31 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy định:
"Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến
khi được chứng minh theo trình tự luật định và có
bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật".
Để cụ thể hóa quy định này tại Điều 13 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015 có quy định: "Người bị buộc
tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Như vậy, với quy

Nếu được nhìn nhận ở một góc độ tích cực hơn
thì chúng ta có thể thấy rằng việc người chưa thành
niên góp vốn thành lập doanh nghiệp đối với các loại
hình doanh nghiệp như: Công ty cổ phần hoặc công
ty hợp danh (với tư cách là thành viên góp vốn) thì
họ có thể không tham gia quản lý và điều hành
275

Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

Tập 54, Số 1D (2018): 272-278

doanh nghiệp. Với quy định này một lần nữa chúng
ta có thể kết luận đây là quy định không rõ ràng. Bởi
lẽ, nếu theo tinh thần của các điều luật mà Bộ luật
Hình sự năm 2015 quy định thì Tòa án chỉ cấm
người phạm tội làm một công việc nhất định. Tòa án
không có quyền cấm họ không được làm các công
việc khác còn lại. Do vậy, không có căn cứ và cơ sở
nào mà Luật Doanh nghiệp năm 2014 cấm không
cho họ góp vốn thành lập và quản lý doanh nghiệp
khi họ chỉ bị Tòa án cấm làm một công việc nhất
định khác. Quy định này rõ ràng làm cho người áp
dụng pháp luật hiểu rằng Luật Doanh nghiệp năm
2014 mở rộng phạm vi cấm thành lập và quản lý
doanh nghiệp của các chủ thể khi có quyết định của
Tòa án.

định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành thì về
nguyên tắc chung, người bị buộc tội được coi là
không có tội và đã là người không có tội thì cũng
giống như bất cứ công dân nào đang sinh sống trên
lãnh thổ Việt Nam, họ sẽ có đầy đủ các quyền năng
của một công dân trong đó có quyền góp vốn thành
lập doanh nghiệp.
Như vậy, người đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự nhưng chưa có bản án đã có hiệu lực pháp
luật thì cũng chưa phải là tội phạm. Do vậy, Luật
Doanh nghiệp năm 2014 cấm không cho họ góp vốn
thành lập doanh nghiệp là chưa phù hợp với tinh
thần của Hiến pháp và pháp luật hình sự như đã phân
tích ở trên.
Nhìn lại quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2005 thì luật chỉ cấm "Người đang chấp hành hình
phạt tù" (Quốc hội, 2005) mới không được quyền
thành lập doanh nghiệp. Như vậy, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 hoàn toàn không cấm đối tượng là
"người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự" góp
vốn thành lập doanh nghiệp. Ở đây, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 mới thật sự thu hẹp phạm vi đối
tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp hơn
Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 mở rộng thêm đối tượng là người
đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được
phép thành lập và quản lý doanh nghiệp dẫn đến
không phù hợp với một số văn bản quy phạm pháp
luật nêu trên.

Ví dụ: Người phạm tội là một bác sỹ đang làm
việc cho một bệnh viện tư, do có hành vi vô ý làm
chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp nên họ
bị Tòa án tuyên bố phạm tội và Tòa án cấm họ hành
nghề y trong thời hạn nhất định. Như vậy, ở đây
người bác sỹ hoàn toàn có quyền thành lập doanh
nghiệp để kinh doanh ngành nghề khác như: Mua
bán xăng dầu, xây dựng... nhưng với quy định tại
Điểm e, Khoản 2, Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm
2014 thì có thể bị hiểu rằng họ không được quyền
góp vốn thành lập doanh nghiệp để hoạt động kinh
doanh.
Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cấm các
đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc người bị Tòa án cấm kinh doanh hoặc người
bị Tòa án cấm làm công việc nhất định liên quan đến
kinh doanh không được góp vốn thành lập và quản
lý doanh nghiệp là những quy định bất hợp lý hoặc
chưa rõ ràng, chưa đồng nhất với các văn bản quy
phạm pháp luật khác.
2.1.2 Góp vốn thành lập doanh nghiệp của tổ
chức

Ngoài ra, tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 Luật
Doanh nghiệp năm 2014 ngoài việc cấm người đang
bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được góp vốn
thành lập doanh nghiệp thì còn cấm người bị Tòa án
cấm hành nghề kinh doanh hoặc làm công việc nhất
định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của
Tòa án. Với tinh thần này, điều luật quy định còn
quá chung chung, không cụ thể hóa rõ ràng các đối
tượng dẫn đến trên thực tế có nhiều cách nghĩ khác
nhau và kéo theo là sự tùy tiện xử lý làm cho pháp
luật không được thống nhất. Bởi lẽ, theo quy định
của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mọi loại tội phạm
được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015
không có tội phạm nào mà pháp luật hình sự cấm cá
nhân không được kinh doanh. Do đó, quy định cấm
người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người
bị cấm hành nghề kinh doanh hoặc làm công việc
nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định
của Tòa án tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 Luật doanh
nghiệp 2014 là không khả thi.

Đối với cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân
dân sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh
nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình (Quốc hội, 2014).
Về việc sử dụng tài sản Nhà nước, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 và Nghị định 96/2015/NĐ-CP
ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Doanh nghiệp chưa định nghĩa
thế nào là tài sản Nhà nước, nhưng trước đây tại
Khoản 2 Điều 14 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày
01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi
hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2005
có quy định: “Tài sản được mua bằng vốn ngân sách
nhà nước và vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước;
kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước; đất được
giao sử dụng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật; tài sản và thu nhập

Song song đó, tại Điểm e Khoản 2 Điều 18 Luật
Doanh nghiệp năm 2014 còn cấm các chủ thể mà
theo quyết định Tòa án cấm họ không được làm một
công việc nhất định liên quan đến kinh doanh thì đối
tượng này không được quyền thành lập và quản lý
276

Tài liệu cùng danh mục Luật học

Bài giảng Luật xây dựng - Chương 1: Những vấn đề cơ bản trong luật xây dựng 2003

Bài giảng Luật xây dựng Chương 1: Những vấn đề cơ bản trong luật xây dựng 2003 trình bày khái niệm luật xây dựng, cấu trúc luật xây dựng 2003, phạm vi điều chỉnh luật xây dựng, đối tượng áp dụng luật xây dựng, những nguyên tắc cơ bản trong hợp đồng xây dựng, hệ thống văn bản pháp luật xây dựng.


West's encyclopedia of American law 2ND EDITION Volume 6

Tham khảo sách 'west's encyclopedia of american law 2nd edition volume 6', kinh tế - quản lý, luật phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Bài giảng Pháp luật đại cương - Chương 5 Ngành luật Lao động, luật Dạy nghề

Nội dung bài giảng trình bày khái quát ngành luật lao động, luật dạy nghề nhu7y đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh có trong luật này.


Quy luật ra đời của ĐCS Việt Nam

Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước. Với truyền thống đoàn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Từ đâu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâm lược nước ta, mở đâu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo.


LUẬT DOANH NGHIỆP - BÀI 2 : DOANH NGHIỆP VÀ QUY CHẾ THÀNH LẬP, TỔ CHỨC, GIÁI THỂ DOANH NGHIỆP

Tham khảo tài liệu 'luật doanh nghiệp - bài 2 : doanh nghiệp và quy chế thành lập, tổ chức, giái thể doanh nghiệp', kinh tế - quản lý, luật phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


Bài giảng Những nội dung mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính - ThS. Nguyễn Thị Thiện Trí

Bài giảng Những nội dung mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính do ThS. Nguyễn Thị Thiện Trí thực hiện sau đây sẽ trang bị cho các bạn những kiến thức về sự ra đời của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012; điểm mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002.


Lecture Fundamentals of business law (7/e): Chapter 10 - M.L Barron

Chapter 10 - Property law: mortgages, leases and licenses. At the end of this chapter you should understand: the definition of the term ‘mortgage’ and the distinction between old title mortgages and Torrens system mortgages, the remedies available to a mortgagee if a mortgagor defaults, the definition of a personal property security,...


TÌM HIỂU VỀ LUẬT DOANH NGHIỆP

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đó được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về doanh nghiệp. CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành...


Bài giảng : Luật kinh doanh bất động sản part 3

Không có GCN ĐKKD: Đình chỉ hoạt động, XPHC và truy thu thuế Không có CC: Đình chỉ hoạt động, không được cấp CC trong 3 năm Không thực hiện đúng nội dung CC: Cảnh cáo hoặc phạt tiền, nếu tái phạm lần đầu bị đình chỉ hoạt động 1 năm, tái phạm lần 2 bị thu hồi CC và không cấp trong 5 năm. Kinh doanh nhà, CTXD 1. Đầu tư, tạo lập nhà, CTXD: -


Đề thi kết thúc học phần Luật hành chính Việt Nam (Đề thi 02)

Đề thi kết thúc học phần Luật hành chính Việt Nam (Đề thi 02) gồm có 2 câu hỏi tự luận với thời gian làm bài 90 phút. Hi vọng tài liệu sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình học tập và ôn thi học phần này. Để nắm vững nội dung chi tiết mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.


Tài liệu mới download

Quyết định số 741/QĐ-BYT
  • 22/12/2017
  • 63.522
  • 905

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Tìm hiểu LUẬT THANH NIÊN
  • 01/11/2011
  • 59.995
  • 669

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu