Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Các yếu tố liên quan đến hành vi chăm sóc bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Thái Nguyên Việt Nam

Nghiên cứu này nhằm kiểm tra sự ảnh hưởng giữa các yếu tố (giới tính, thu nhập cá nhân, thời gian mắc bệnh đái tháo đường, kiến thức chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội) với hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân bị tiểu đường type 2. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng 4 bộ câu hỏi, 286 người bị đái tháo đường type 2 tại bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Việt Nam đã được lựa chọn để tuyển dụng trong nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giới tính đã có sự ảnh hưởng ở mức độ trung bình với hành vi chăm sóc bàn chân (r = -.1). Kiến thức chăm sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội có sự ảnh hưởng nhiều tới những hành vi chăm sóc bàn chân. Những phát hiện này cho thấy rằng các điều dưỡng nên giáo dục các bệnh nhân về hành vi chăm sóc bàn chân và quan tâm nhiều hơn về giới tính và thực hành chăm sóc bàn chân. Hơn nữa, vai trò của các thành viên trong gia đình và những người thân cũng đóng góp vai trò quan trọng với bệnh nhân trong quá trình chăm sóc bàn chân



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

Nguyễn Tiến Dũng và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

104(04): 55 - 60

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI CHĂM SÓC BÀN CHÂN
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI THÁI NGUYÊN VIỆT NAM
Nguyễn Tiến Dũng*, Phùng Văn Lợi
Trường Đại học Y - Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm kiểm tra sự ảnh hưởng giữa các yếu tố (giới tính, thu nhập cá nhân, thời
gian mắc bệnh đái tháo đường, kiến thức chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội) với hành vi chăm sóc
bàn chân của bệnh nhân bị tiểu đường type 2. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng 4 bộ câu
hỏi, 286 người bị đái tháo đường type 2 tại bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Việt
Nam đã được lựa chọn để tuyển dụng trong nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giới
tính đã có sự ảnh hưởng ở mức độ trung bình với hành vi chăm sóc bàn chân (r = -.1). Kiến thức
chăm sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội có sự ảnh hưởng nhiều tới những hành vi chăm sóc bàn chân.
Những phát hiện này cho thấy rằng các điều dưỡng nên giáo dục các bệnh nhân về hành vi chăm
sóc bàn chân và quan tâm nhiều hơn về giới tính và thực hành chăm sóc bàn chân. Hơn nữa, vai trò
của các thành viên trong gia đình và những người thân cũng đóng góp vai trò quan trọng với bệnh
nhân trong quá trình chăm sóc bàn chân.
Từ khóa: Hành vi chăm sóc bàn chân, kiến thức chăm sóc bàn chân, đái tháo đường type 2.

ĐẶT VẤN ĐỀ*
Đái tháo đường type 2 là một bệnh mạn tính
không di truyền, bệnh đã trở thành một vấn đề
y tế công cộng quan trọng trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam có khoảng 1,1 triệu người mắc
bệnh đái tháo đường type 2, ước tính có
khoảng 2,1 triệu người bị bệnh vào năm
2015[14]. Người bị đái tháo đường có các
hành vi không đúng sẽ phát triển các biến
chứng khác nhau đặc biệt là biến chứng trên
bàn chân[8]. Sự hiện diện của các biến chứng
bàn chân có thể tác động tiêu cực về thể chất,
tâm lý, tinh thần, xã hội cũng như kinh tế của
các bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường[9]. Các
nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan
trọng của các hành vi chăm sóc bàn chân. Tuy
nhiên, ở nhiều quốc gia hành vi chăm sóc bàn
chân của họ không tốt [1,12] đặc biệt là ở
Việt Nam. Từ tổng quan tài liệu, nhiều yếu tố
khác nhau đã được xác định có ảnh hưởng
đến hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân
đái tháo đường type 2. Phụ nữ thường chăm
sóc bàn chân tốt hơn nam giới [4]. Những
bệnh nhân đái tháo đường type 2 có thu nhập
thấp, hầu như ít nhận được sự giáo dục về
chăm sóc bàn chân. Do đó, các hành vi chăm
sóc bàn chân của họ là không đủ [1]. Những
bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường trên 10
*

Tel: 0913 516863

năm có kiến thức và thực hành chăm sóc bàn
chân tốt hơn [7]. Kiến thức về chăm sóc bàn
chân và hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng tích cực
tới các hành vi chăm sóc bàn chân[5,11,12].
Tuy nhiên có một số nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng không có sự ảnh hưởng của các yếu tố
tới hành vi chăm sóc bàn chân. Câu hỏi cần
đặt ra là sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hành
vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo
đường type 2. Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề
này cần được tiến hành.
Mặc dù sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hành
vi chăm sóc bàn chân đã được nghiên cứu ở
nhiều quốc gia, tuy nhiên ở Việt Nam các
nghiên cứu này rất ít. Nhằm nâng cao hiệu
quả của hành vi chăm sóc bàn chân ở bệnh
nhân đái tháo đường sự cần thiết để hiểu thêm
về mức độ của hành vi chăm sóc bàn chân, hỗ
trợ xã hội và sự ảnh hưởng của giới tính, thu
nhập cá nhân, thời gian mắc đái tháo đường,
kiên thức chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội tới
hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái
tháo đường type 2 tại Thái Nguyên, Việt Nam.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Khảo sát mức độ kiến thức chăm sóc bàn
chân và hành vi chăm sóc bàn chân của bệnh
nhân T2D.
2. Kiểm tra mối tương quan giữa thu nhập cá
nhân, thời gian bị bệnh đái tháo đường và
55

60Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Tiến Dũng và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

kiến thức chăm sóc bàn chân với hành vi
chăm sóc bàn chân của bệnh nhân T2D.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Đối tượng của nghiên cứu là các bệnh nhân
đái tháo đường typ 2 điều trị tại Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập từ tháng 6 đến tháng 8
năm 2011 tại phòng khám đái tháo đường
khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Trung
ương Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả mối tương quan được thực
hiện trong nghiên cứu này.
Cỡ mẫu là 286 bệnh nhân bị đái tháo đường
type 2, được lựa chọn ngẫu nhiên theo tiêu
chuẩn sau: Tuổi từ 20 - 70, có nhận thức và ý
thức bình thường. Những người đã bị cắt cụt
chi và mắc các bệnh mạn tính nghiêm trọng
khác đã được loại trừ khỏi nghiên cứu này.
Chỉ tiêu nghiên cứu
Mức độ về kiến thức chăm sóc bàn chân,
hành vi chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội của
bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Sự ảnh hưởng của giới tính, thu nhập cá nhân,
thời gian mắc đái tháo đường, kiên thức chăm
sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội tới hành vi chăm
sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường
type 2.
Kỹ thuật thu thập số liệu
Chọn mẫu ngẫu nhiên (cỡ mẫu 286). Công
thức: k = N/n (k là bước nhảy, N là số bệnh
nhân ĐTĐ type 2 khám ngoại trú, n cỡ mẫu)
(Black, 2004) k = 2000/286 = 3.
Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân (bộ câu hỏi đã
được thiết kế sẵn). Trong nghiên cứu này nhà
nghiên cứu sẽ sử dụng bộ câu hỏi sẵn có và
thiết kế bao gồm: thông tin cá nhân, kiến thức
chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội và hành vi
chăm sóc bàn chân.
Câu hỏi về thông tin cá nhân: Câu hỏi về
thông tin cá nhân sẽ được thiết kế bởi nhà
nghiên cứu, bao gồm: tuổi, giới, tình trạng
hôn nhân, thu nhập cá nhân, trình độ học vấn,
nghề nghiệp và thời gian bị bệnh.

104(04): 55 - 60

Câu hỏi về hành vi chăm sóc bàn chân: Bộ
câu hỏi về hành vi chăm sóc bàn chân sẽ sử
dụng bộ câu hỏi của Sawangjai [12] được
chỉnh sửa cho phù hợp với văn hóa Việt Nam.
Bộ câu hỏi gồm 30 câu hỏi về 7 hành vi chăm
sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường
type 2. Cronbach’s α = 0,86.
Câu hỏi về kiến thức chăm sóc bàn chân: Bộ
câu hỏi về kiến thức chăm sóc bàn chân sẽ sử
dụng bộ câu hỏi của Pollock [11] được chỉnh
sửa cho phù hợp với văn hóa Việt Nam. Bộ
câu hỏi gồm 26 câu hỏi về 8 lĩnh vực kiến
thức chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái
tháo đường type 2. Cronbach’s α = 0,78.
Câu hỏi về hỗ trợ xã hội: Bộ câu hỏi về hỗ trợ
xã hội sẽ sử dụng bộ câu hỏi của Kanan[5]
được chỉnh sửa cho phù hợp với văn hóa Việt
Nam. Bộ câu hỏi gồm 23 câu hỏi về 5 lĩnh
vực hỗ trợ xã hội. Cronbach’s α = 0,94.
Xử lý số liệu
Mô tả thống kê: Sử dụng để mô tả thông tin
cá nhân, kiến thức chăm sóc bàn chân, hành
vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo
đường type 2.
Hệ số tương quan Pearson: Sử dụng để kiểm
tra sự ảnh hưởng giữa thu nhập cá nhân, thời
gian bị bệnh đái tháo đường, kiến thức chăm
sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội với hành vi
chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo
đường type 2.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đối tượng bao gồm 286 bệnh nhân đái tháo
đường type 2, 129 nam (45,1%) và 157 nữ
(54,9%). Hầu hết trong số họ đã kết hôn
(92,7%). Gần một nửa đối tượng (44,4%) có
độ tuổi từ 60 - 70 ( X = 57,49; SD = 8,04)
khoảng 1/3 đối tượng (33,6%) đã tốt nghiệp
phổ thông trung học và chuyên nghiệp
(32,2%). Trên một nửa đối tượng đã nghỉ hưu
(56,3%) và 14% là nông dân, 43% đối tượng
có thu nhập cá nhân khoảng 1.500.000 đến
3.000.000 VNĐ ( X = 1852680; SD = 1,42).
Hầu hết các đối tượng (63,3%) bị Tiểu đường
dưới 5 năm. Điểm trung bình về kiến thức
chăm sóc bàn chân và hành vi chăm sóc bàn
chân ở một mức độ trung bình ( X = 17,92.
SD = 3,46; X = 69,00, SD = 1,31). Điểm
trung bình về hỗ trợ xã hội ở mức độ cao
( X = 91,19, SD = 1,42) (xem bảng 1).

56

61Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Tiến Dũng và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

104(04): 55 - 60

Bảng 1: Điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, và tỷ lệ phần trăm của kiến thức chăm sóc bàn chân
(CSBC), hành vi chăm sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội (N = 286)
Tổng
Biến
SD
Tần xuất
Tỷ lệ %
Mức độ
X
điểm
26
17.92
3.46
Trung bình
Kiến thức CSBC
Thấp
49
17.2
Trung bình
176
61.5
Tốt
61
21.3
120
69.00
1.31
Trung bình
Hành vi CSBC
Thấp
7
2.5
Trung bình
196
68.5
Tốt
79
27.6
Rất tốt
4
1.4
115
91.19
1.42
Tốt
Hỗ trợ xã hội
Thấp
8
2.8
Trung bình
50
17.5
Tốt
228
79.7
Bảng 2: Mối tương quan của giới tính, thu nhập cá nhân, thời gian mắc bệnh đái tháo đường, kiến thức
chăm sóc bàn chân, hỗ trợ xã hội và hành vi chăm sóc bàn chân (N = 286)
Biến
Giới tính
Thu nhập
Thời gian mắc ĐTĐ
Kiến thức CSBC
Hỗ trợ xã hội

Giới tính có mối tương quan trung bình với
hành vi chăm sóc bàn chân (r = -1, p < 0,05).
Kiến thức chăm sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội
có mối tương quan trung bình tích cực với
hành vi chăm sóc bàn chân (r = 0,35 và r =
0,37; p < 0,01). Mức thu nhập và thời gian
mắc bệnh đái tháo đường có mối liên quan
không đáng kể với hành vi chăm sóc bàn chân
(xem bảng 2).
BÀN LUẬN
Điểm trung bình về kiến thức chăm sóc bàn
chân là trung bình, tỷ lệ phần trăm cao nhất
của các đối tượng (61,5 %). Điều đó được giải
thích là các bác sỹ và điều dưỡng tại phòng
khám tiểu đường cung cấp kiến thức cho bệnh
nhân tiểu đường hàng tháng. Kiến thức được
cung cấp cho bệnh nhân thông qua tờ rơi,
tranh ảnh và sách về đái tháo đường. Đặc biệt
hàng tháng những bệnh nhân tiểu đường được
hướng dẫn và thực hành các kỹ thuật về chăm
sóc bàn chân như vệ sinh đôi chân, cắt móng
chân, đeo giầy dép, chăm sóc vết thương bàn
chân v.v. Hơn nữa hầu hết các bệnh nhân đã
tốt nghiệp phổ thông trung học và cao đẳng

Hành vi chăm sóc bàn chân
-0,10*
-0.05
0,09
0,35**
0,37**
**
p < .01

*

p < .05

(32,2%), nên tạo điều kiện cho họ hiểu về
kiến thức liên quan đến hành vi chăm sóc bàn
chân. Tuy nhiên có khoảng 17,2% các bệnh
nhân có kiến thức về chăm sóc bàn chân ở
mức độ thấp. Điều này chỉ ra một vài bệnh
nhân không tham gia đầy đủ các buổi giáo
dục về chăm sóc bàn chân và một số bệnh
nhân không hiểu, không nhớ các kiến thức về
hành vi chăm sóc bàn chân. Điều này cũng
cho thấy phương pháp cung cấp kiến thức cho
bệnh nhân cũng cần được xem xét lại để đạt
được hiệu quả đồng đều.
Hầu hết các đối tượng (68,5%) có hành vi
chăm sóc bàn chân ở mức độ trung bình, họ
đã nhận được những kiến thức về bệnh đái
tháo đường từ bác sĩ và diều dưỡng. Bởi vậy,
các bệnh nhân đã nhận ra những hậu quả xấu
của biến chứng bàn chân đặc biệt là loét bàn
chân. Các đối tượng phải thường xuyên thực
hành chăm sóc bàn chân để làm giảm các biến
chứng bàn chân (Frykberg, Tallis, Tierney,
2008; Williams, Harding, Price, 2007).
Các đối tượng đã có mức độ tốt về hỗ trợ xã
hội, đa số các đối tượng đã kết hôn (92,7%)
57

62Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Tiến Dũng và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

và có thể tham khảo ý kiến với vợ (hoặc
chồng) của họ. Hơn nữa, 91% đối tượng có từ
3 - 8 người trong gia đình. Vì vậy, các thành
viên trong gia đình hoặc người thân có hỗ trợ
người bệnh đái tháo đường trong quá trình
chăm sóc bàn chân (Albright, Parchaman,
Burge, 2005). Họ cảm thấy được gia đình hỗ
trợ nhiều. Các thành viên trong gia đình hoặc
người thân cùng hỗ trợ người bệnh như: tiền
bạc, đồ vật, các dụng cụ chăm sóc bàn chân.
Ngoài ra, các đối tượng đã nhận được sự hỗ
trợ từ bảo hiểm y tế, các chính sách của nhà
nước [13].
Giới tính có sự ảnh hưởng ở mức độ trung
bình tới hành vi chăm sóc bàn chân. Phát hiện
của nghiên cứu này là phù hợp với kết quả từ
các nghiên cứu trước cho thấy rằng: phụ nữ
thường chăm sóc bàn chân của mình tốt hơn
nam giới (Benotman, Mohmedi, Ayad,
Azzouz, Zoo, Iversen et al, 2002). Orem đã
từng đề cập rằng, giới tính ảnh hưởng tới sự
trưởng thành của mỗi cá nhân và khả năng tự
chăm sóc của họ. Giới tính ảnh hưởng đến
hành vi của một cá nhân trong việc chăm sóc
bàn chân của họ (Orem, 2001). Thứ nhất, nam
và nữ có thể có nhận thức khác nhau về hành
vi tự chăm sóc bản thân. Do đó họ có thể
thực hiện hành vi chăm sóc bàn chân theo
những cách khác nhau. Thứ hai, nam và nữ
cũng có sự khác nhau về điều kiện làm việc
hoặc khả năng để đánh giá các tiềm lực khác
nhau cho các hành vi chăm sóc. Ví dụ, người
đàn ông bình thường làm việc bên ngoài
trong khi phụ nữ có xu hướng chịu trách
nhiệm đối với việc nhà. Người phụ nữ dường
như dễ dàng hơn để sử dụng kem dưỡng da
hoặc dầu để dưỡng da chân của họ trong khi
đàn ông dường như cảm thấy “ngại” để mua
và sử dụng những thứ đó. Vì vậy, người phụ
nữ có hành vi chăm sóc bàn chân tốt hơn nam
giới (Gucciardi et al, 2008).
Có một số lý do để giải thích kiến thức chăm
sóc bàn chân có ảnh hưởng ở mức độ cao tới
hành vi chăm sóc bàn chân. Sự hiểu biết của
bệnh nhân về hành vi chăm sóc bàn chân sẽ
ảnh hưởng đến cách họ điều chỉnh hành vi.
Khi bệnh nhân đái tháo đường type 2 có kiến
thức tốt về chăm sóc bàn chân, họ có thể lựa

104(04): 55 - 60

chọn các dụng cụ cho việc chăm sóc bàn chân
của họ hoặc họ có ý định trả nhiều tiền hơn để
thực hành vệ sinh bàn chân, khám bàn chân
và thể dục đôi chân (Swangjai, 2006).
Hỗ trợ xã hội đã có ảnh hưởng ở mức độ cao
tới hành vi chăm sóc bàn chân. Điều này chỉ
ra rằng các bệnh nhân đái tháo đường có sự
hỗ trợ xã hội tốt sẽ có hành vi chăm sóc bàn
chân tốt. Hỗ trợ xã hội từ các nhà cung cấp
dịch vụ chăm sóc y tế sẽ giúp bệnh nhân đái
tháo đường phòng và chống được các biến
chứng về bàn chân. Hơn nữa, hỗ trợ xã hội tốt
sẽ tạo điều kiện tốt cho bệnh nhân đối phó với
các tình huống bệnh tật của mình. Những
người bệnh được sự giúp đỡ và chăm sóc từ
người thân trong việc chăm sóc bàn chân họ
sẽ có tâm lý tốt (hạnh phúc, tự tin) để tự chăm
sóc bàn chân cho mình. Hỗ trợ xã hội từ bạn
bè sẽ cho kết quả tốt hơn trong việc chăm sóc
bàn chân của người bệnh. Bạn bè và đồng
nghiệp giúp bệnh nhân kiểm soát bệnh của họ
(Kanan, 2006). Cách thức hỗ trợ xã hội như:
tư vấn tiểu đường, hội thảo về bệnh đái tháo
đường có thể thúc đẩy các hành vi tự chăm
sóc bàn chân thích hợp cho bệnh nhân
(Keyserling et al, 2002).
Tuy nhiên những kết quả này cho thấy thu
nhập cá nhân không ảnh hưởng tới hành vi
chăm sóc bàn chân. Hay nói cách khác người
có thu nhập thấp hoặc cao có hành vi chăm
sóc bàn chân như nhau. Điều này có thể được
giải thích rằng những phụ kiện được sử dụng
để chăm sóc bàn chân như: xà phòng, bấm
móng tay, kem dưỡng da là không đắt tiền,
bệnh nhân có thu nhập thấp hay thu nhập cao
đều có thể mua được. Các đối tượng có thể
chăm sóc bàn chân của họ mà không phụ
thuộc vào tiền bạc. Vì vậy, thu nhập không
ảnh hưởng tới hành vi chăm sóc bàn chân,
điều này phù hợp với nghiên cứu của Hasnam
và Sheikh (2009). Ngoài ra thời gian mắc
bệnh tiểu đường cũng không liên quan tới
hành vi chăm sóc bàn chân. Đặc biệt, mỗi
bệnh nhân bị đái tháo đường nhận được tờ rơi
về chăm sóc bàn chân. Bác sỹ và điều dưỡng
cũng có những buổi tư vấn, giáo dục về hành
vi chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân hàng
tháng. Họ đã nhận ra hậu quả của biến chứng

58

63Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nguyễn Tiến Dũng và Đtg

Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

bàn chân, đặc biệt là loét bàn chân. Bởi vậy,
các bệnh nhân đái tháo đường type 2 có cơ
hội để phát triển các hành vi chăm sóc bàn
chân mà không phụ thuộc vào thời gian bị
bệnh (Khamsed et al, 2007).
KẾT LUẬN
Kiến thức chăm sóc bàn chân và hành vi
chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo
đường type 2 ở mức độ trung bình, trong khi
đó hỗ trợ xã hội ở mức độ cao.
Các yếu tố đã tìm thấy có ảnh hưởng tới hành
vi chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo
đường type 2 bao gồm: giới tính, kiến thức
chăm sóc bàn chân và hỗ trợ xã hội. Tuy
nhiên giới tính ảnh hưởng ở mức độ trung
bình còn kiến thưc chăm sóc bàn chân và hỗ
trợ xã hội ảnh hưởng ở mức độ cao.
KHUYẾN NGHỊ
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các điều dưỡng
viên nên có kế hoạch, và xây dựng chương
trình cung cấp kiến thức chăm sóc bàn chân
và hỗ trợ hành vi chăm sóc bàn chân cho bệnh
nhân đái tháo đường. Họ nên phát triển một
chương trình giáo dục hành vi chăm sóc bàn
chân để đảm bảo chất lượng chăm sóc cho các
bệnh nhân đái tháo đường. Hơn nữa, người
điều dưỡng phải khai thác được vai trò của
các thành viên trong gia đình và những người
thân trong việc chăm sóc bàn chân của bệnh
nhân đái tháo đường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Berardis, G., Pellegrini, F., Franciosi,
Belfiglio, M., & Nardo, B., et al. (2005). Are type
2 diabetic patients offered adequate foot care? The
role of physician and patient characteristics.
Journal of Diabetes and its Complications, 19(6),
319-327.
[2]. Gucciardi, E., Wang, S., Amaral, L., &
Stewart, D. (2008). Characteristics of men and
women with diabetes: Observations during
patients’ initial visit to a diabetes education centre.
Canadian Family Physician, 54, 219-27.
[3]. Hasnain, S., & Sheikh, N. (2009). Knowledge
and practices regarding foot care in diabetic
patients visiting diabetic clinic in Jinnah Hospital,

104(04): 55 - 60

Lahore. Journal of the Pakistan Medical
Association, 59, 687-690.
[4]. Iversen, M. M., Ostbye, T., Clipp, E.,
Midthjell, K., & Uhlving, S., et al. (2008).
Regularity of preventive foot care in persons with
diabetes: Results from the Nord-Trondelag health
study. Research in Nursing and Health, 31, 226-237.
[5]. Kanan, P. (2006). The relationship between
health locus of control social support and foot care
behaviors in diabetic foot ulcer patients. Faculty of
Graduate Studies, Mahidol University.
[6]. Keyserling, T. C., Samuel-Hodge, C. D.,
Ammerman, A. S., Ainsworth, B. E., HenriqueRoldan, C. F., Elasy, T. A., et al. (2002). A
randomized trial of an intervention to improve
self-care behaviors of African-American women
with type 2 diabetes: Impact on physical activity.
Diabetes Care, 25, 1576 -1583.
[7]. Khamsed, M. E., Vatankhah, N., &
Baradaran., et al. (2007). Knowledge and practice
of foot care in Iranian people with type 2 diabetes.
International Wound Journal, 4, 298-302.
[8]. Lavery, L. A., Armstrong, D. G., Wunderlich,
R. P., Tredwell, J., & Boulton, A. J. (2003).
Evaluating the prevalence and incidence of foot
pathology in Mexican Americans and Non-Hispanic
whites from a diabetes disease management cohort.
Diabetes Care, 26(5), 1435-1438.
[9]. Nather, A., & Wu, P. (2008). Diabetes mellitus
and its complication: A global problem. Retrieved
[10]. Orem, D. E. (2001). Nursing: Concepts of
practice (6th ed.). St. Louis, MO.
[11]. Pollock, R. D., Unwin, N. C., & Connolly,
V. (2004). Knowledge and practice of foot care in
people with diabetes. Diabetes Research and
Clinical Practice, 64, 117-122.
[12]. Sawangjai, S. (2006). Foot care behaviors in
type 2 diabetes patients. Faculty of Graduate
Studies, Mahidol University.
[13]. Westaway, M. S., Seager, J. R., Rheeder, P.,
& Van Zyl, D. (2005). The effects of social
support on health, well-being and management of
diabetes mellitus: A black South African
perspective. Ethnicity and Health, 10(1), 73-89.
[14]. WHO. (2006). Guidelines for the
management and care of diabetes mellitus. Nasr
City: Regional Office for the Eastern
Mediterranean.
[15]. Williams, D. T., Harding, K. G., & Price, P.
E. (2007). The influence of exercise on foot
perfusion in diabetes. Diabetic Medicine, 24,
1105-1111.

59

64Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tài liệu cùng danh mục Y khoa - Dược

Chèn gân cơ chóp xoay vấn đề không thể xem thường

Chèn gân cơ chóp xoay vấn đề không thể xem thường Khoa Vật Lý Trị Liệu - Bệnh viện Chợ Rẫy Được Neer mô tả từ năm 1977 với tên gọi tiếng Anh “Rotator Cuff Impingement”, đến nay hội chứng này được các bác sĩ lâm sàng chú ý ngày càng nhiều hơn: không chỉ vì tần suất thường gặp của nó mà còn vì tính chất nặng nề có thể làm giảm năng suất lao động hoặc phong độ thi đấu của vận động viên nếu phát hiện trễ. Tại khoa Vật Lý Trị Liệu bệnh viện Chợ Rẫy ,...


Trùng roi đường niệu- sinh dục (Trichomonas vaginalis)

Có hình cầu hay hình quả lê, hình trái đào. Có 4 roi đi ra phía trước, 1 roi bám vào thân tạo thành màng vây - Thể hoạt động có kích thước từ 7-23Micromet 2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC - Sinh sản vô giói bằng cách phân đôi theo chiều dọc cơ thể - ở nam giới Trichomonas vaginalis sống trong niệu đạo là chủ yếu, đôi khi có thể gặp trong các túi tinh và trong tuyến tiền liệt. - ở nữ giới Trichomonas vaginalis ký sinh chủ yếu trong âm đạo và trong niệu đạo nhưng đôi...


PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG

Phình động mạch được định nghĩa là sự phình khu trú của động mạch với đường kính ngang lớn hơn 50% so với bình thường. Như vậy, một phình động mạch chủ bụng phải có đường kính tối thiểu 3 cm. Nguyên nhân: Hiện nay, nguyên nhân của phình động mạch chủ bụng được cho là do nhiều


Bài giảng Tắc động mạch trung tâm võng mạc

Tắc động mạch trung tâm võng mạc là một cấp cứu tối khẩn cấp trong nhãn khoa, cần phải xử trí ngay trong những phút đầu tiên. Bệnh nặng vì: -Mù khó hồi phục -Là một biểu hiện của một bệnh toàn thân


Kiến thức, thực hành phòng bệnh Uốn ván sơ sinh của các bà mẹ dân tộc thiểu số có con dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan, tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước năm 2012

Đây là một nghiên cứu cắt ngang có phân tích, nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 181 bà mẹ dân tộc thiểu số có con dưới 1 tuổi tại huyện Đồng Phú theo phiếu phỏng vấn được thiết kế trước với mục tiêu: 1) Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh UVSS của các bà mẹ dân tộc thiểu số có con


CHUYỂN LƯU NƯỚC TIỂU CÓ KIỀM CHẾ THEO NGUYÊN TẮC MITROFANOFF

Mục tiêu: Dùng niệu quản để tạo hình miệng chuyển lưu nước tiểu có kiềm chế theo nguyên tắc Mitrofanoff, trong trường hợp không dùng được ruột thừa như phương pháp Mitrofanoff nguyên thủy. Phương pháp: Dùng ~ 8 cm niệu quản đoạn cuối, không bị trào ngược BQ – NQ, mở ra da để tạo miệng chuyển lưu dùng thông tiểu cách quãng. Kết quả: Đã thực hiện được 12 trường hợp trong khoảng thời gian 19962007. Tỉ lệ thành công ~ 91,7%. Bàn luận và kết luận: Miệng chuyển lưu có kiềm chế bằng niệu quản có...


KHỬ KHUẨN- TIỆT KHUẨN

Mục tiêu: 1.Nêu được định nghĩa: Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn. 2.Trình bày được các phương pháp khử khuẩn. 3.Trình bày được đặc điểm một số dung dịch khử khuẩn. 4.Trình bày được các phương pháp tiệt khuẩn.


Bài giảng Bài 33: Histamin và thuốc kháng histamin

Bài giảng Bài 33: Histamin và thuốc kháng histamin với mục tiêu giúp sinh viên sau khi kết thúc bài học nêu được vai trò sinh lý và bệnh lý của histamin; trình bày cơ chế tác dụng, cách phân loại, chỉ định và độc tính của thuốc kháng histamin.


Spironolacton

Tham khảo tài liệu 'spironolacton', y tế - sức khoẻ, y dược phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả


HỘI CHỨNG SUY CHỨC NĂNG TUYẾN YÊN (Hypopituitarism)

Suy chức năng tuyến yên là tình trạng thiếu hụt một phần hay toàn thể các hormon do thùy trước và thùy sau tuyến yên tiết ra. Suy giảm toàn thể hoặc phần lớn các hormon của tuyến yên gọi là suy chức năng tuyến yên toàn bộ (panhypopituitarism).


Tài liệu mới download

Động từ ghép tiếng Nhật
  • 18/12/2015
  • 83.187
  • 834
Kính ngữ
  • 18/12/2015
  • 30.588
  • 483

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Viêm teo niêm mạc dạ dày
  • 20/08/2011
  • 42.969
  • 583
Bệnh học mắt part 8
  • 02/04/2011
  • 91.478
  • 688

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu