Tìm kiếm tài liệu miễn phí

Ảnh hưởng tương tác của giới tính CEO lên mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn: trường hợp các công ty cổ phần có vốn nhà nước tại Việt Nam

Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng tương tác của giới tính CEO lên mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của các công ty cổ phần có vốn nhà nước tại Việt Nam. Cấu trúc vốn của công ty được tính bằng tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản.



Đánh giá tài liệu

0 Bạn chưa đánh giá, hãy đánh giá cho tài liệu này


  • 5 - Rất hữu ích 0

  • 4 - Tốt 0

  • 3 - Trung bình 0

  • 2 - Tạm chấp nhận 0

  • 1 - Không hữu ích 0

Mô tả

An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 15 (3), 1 – 11

ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC CỦA GIỚI TÍNH CEO LÊN MỐI QUAN HỆ
GIỮA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ CẤU TRÚC VỐN: TRƯỜNG HỢP
CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN CÓ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
Đoàn Vinh Thăng1
Trường Đại học An Giang

1

Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 18/03/2016
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
05/05/2016
Ngày chấp nhận đăng: 06/2017
Title:
Moderating effect of CEO
gender on the relationship
between state ownership and
capital structure: the case of
state-owned corporations in
Vietnam
Keywords:
State ownership, capital
structure, moderating effect,
CEO gender, Vietnam
Từ khóa:
Sở hữu nhà nước,
cấu trúc vốn, ảnh hưởng
tương tác, giới tính CEO,
Việt Nam

ABSTRACT
This paper evaluated the moderating effect of CEOs’ gender on the relationship
between the state ownership and capital structure: the case of state-owned
corporations in Vietnam. Capital structure was measured with the debt on total
asset ratio. The population of this study includes 2,888 state-owned
corporations quoted from the dataset “Enterprise Survey 2010” of General
Statistics Office of Viet Nam. The OLS regression model shows that there is a
statistically significant negative relationship between the state ownership and
the capital structure of state-owned corporations, especially the corporations
controlled by the state. The result also indicates that CEOs’ gender has a
moderating effect on the relationship between state ownership and capital
structure, in which Male CEOs has restricted this negative relationship.

TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng tương tác của giới tính CEO lên mối quan
hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của các công ty cổ phần có vốn nhà
nước tại Việt Nam. Cấu trúc vốn của công ty được tính bằng tỷ lệ nợ phải trả
trên tổng tài sản. Mẫu quan sát của nghiên cứu này gồm 2.888 công ty cổ phần
có vốn nhà nước, được trích từ bộ dữ liệu Điều tra doanh nghiệp 2010 của
Tổng cục Thống kê. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy theo phương pháp OLS
cho thấy rằng, sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều,
đặc biệt là tại các công ty mà nhà nước nắm cổ phần chi phối. Kết quả ước
lượng còn cho thấy rằng, giới tính CEO có ảnh hưởng tương tác lên mối quan
hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn, trong đó, CEO của công ty là nam
giới sẽ làm hạn chế mối quan hệ ngược chiều này.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

chậm chạp (Truong & cs., 2004). Dù thị trường
chứng khoán Việt Nam ra đời vào năm 2000 để
tạo nền tảng cho việc thúc đẩy hoạt động cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước, nhưng do luật pháp
Việt Nam quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài (Trước năm 2003, tỉ lệ sở
hữu nước ngoài tối đa theo luật quy định là
20% tổng số cổ phần của doanh nghiệp nội địa.
Tỉ lệ này được nâng lên mức 30% trong giai

Sau chương trình Đổi Mới 1986, một cải cách
kinh tế quan trọng khác đối với Việt Nam là
chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước đã được thông qua và có hiệu lực thực hiện
từ 1992. Sau khoảng 20 năm từ khi chương trình
này được khởi xướng, nhiều doanh nghiệp nhà
nước đã thực hiện việc chào bán cổ phần cho khu
vực tư nhân. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra khá
1

An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 15 (3), 1 – 11

đoạn 2003 – 2005 và 49% từ sau khi Luật
Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực), nên trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 - 2009, sở
hữu của khối ngoại chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam. Và do đó, vai trò của
sở hữu nhà nước đối với các quyết định trong
công ty cổ phần thường chiếm vị trí chi phối vì
chính phủ còn nắm giữ tỉ trọng lớn cổ phẩn của
các công ty (Vu & cs., 2011; Hoang & cs., 2014).

hưởng lên cấu trúc vốn của các công ty cổ phần
niêm yết.
Sự thiếu nhất quán trong kết luận của các nghiên
cứu trước đây có thể là do các nghiên cứu này chỉ
xem xét ảnh hưởng riêng biệt của sở hữu nhà
nước lên cấu trúc vốn của công ty cổ phần mà
chưa xem xét mối quan hệ này trong sự tương tác
với yếu tố khác, chẳng hạn giới tính của CEO
(Chief Executive Officer – Giám đốc điều hành),
vì nhiều nghiên cứu (Huang & Kisgen, 2013;
Faccio & cs., 2015) cho thấy rằng, giới tính CEO
cũng có ảnh hưởng đáng kể lên cấu trúc vốn của
công ty và có thể, giới tính CEO trong sự tương
tác với sở hữu nhà nước sẽ tạo ra những ảnh
hưởng khác nhau lên cấu trúc vốn của các công ty
cổ phần.

Một trong những quyết định quan trọng đối với
các công ty cổ phần là quyết định về cấu trúc vốn
của công ty. Cấu trúc vốn là hỗn hợp của vốn vay
(nợ) và vốn cổ phần mà công ty sử dụng để tài trợ
cho hoạt động đầu tư của công ty (Hardiyanto &
cs., 2015; Trương Đông Lộc & Võ Kiều Trang,
2008). Nguyễn Minh Kiều (2009, tr. 509) cho
rằng, công ty sử dụng nợ phù hợp sẽ gia tăng lợi
nhuận cho cổ đông. Bởi vì, một trong những lợi
ích của nợ đó là lá chắn thuế (Trương Đông Lộc
& Võ Kiều Trang, 2008; Miller & Modifliani,
1963). Tuy nhiên, công ty có thể gặp rủi ro phá
sản nếu sử dụng nợ quá mức và mất khả năng chi
trả (Hardiyanto & cs., 2015; Trương Đông Lộc &
Võ Kiều Trang, 2008), đặc biệt là trong giai đoạn
khủng hoảng tài chính (Ilman & cs., 2011).

Xuất phát từ khoảng trống tri thức đó, nghiên cứu
này sẽ đánh giá lại mối quan hệ giữa sở hữu nhà
nước và cấu trúc vốn, trong đó, có tính đến ảnh
hưởng tương tác của giới tính CEO lên mối quan
hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của các
công ty cổ phần có vốn nhà nước ở Việt Nam.
Một điểm khác biệt nữa của nghiên cứu này so
với các nghiên cứu trước đây, đó là, trong khi các
nghiên cứu trước chỉ xem xét ảnh hưởng của tỉ lệ
sở hữu nhà nước lên cấu trúc vốn của các công ty
cổ phần đã niêm yết, thì mẫu quan sát của nghiên
cứu này là các công ty cổ phẩn có vốn nhà nước
tại Việt Nam, bao gồm các công ty chưa niêm yết
và cả những công ty đã niêm yết.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng có mối quan hệ
giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của các
công ty cổ phần niêm yết (Li & cs., 2009; Trương
Đông Lộc, 2009; Poyry & Maury, 2010;
Hardiyanto & cs., 2015), trong đó, cấu trúc vốn
được đo lường bằng tỉ lệ nợ trên tổng tài sản. Tuy
nhiên, các nghiên cứu này cho thấy các kết quả
chưa nhất quán. Trong khi Poyry và Maury
(2010), Li và cs. (2009) và Trương Đông Lộc
(2009) kết luận rằng có mối quan hệ cùng chiều
giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của các
công ty cổ phần niêm yết, thì nghiên cứu của
Hardiyanto và cs. (2015) lại đưa ra những kết luận
trái chiều khi cho rằng, sở hữu nhà nước và cấu
trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều. Một số
nghiên cứu khác được thực hiện bởi Zou và Xiao
(2006), Biger và cs. (2007), Okuda và Lai (2010)
lại cho thấy rằng, sở hữu nhà nước không ảnh

2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU VÀ GIẢ
THUYẾT NGHIÊN CỨU
Phần này trình bày lược khảo một số nghiên cứu
về mối quan hệ giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước, giới
tính CEO và cấu trúc vốn của các công ty cổ
phần. Từ đó, các giả thuyết cần kiểm định trong
nghiên cứu này được đề xuất.
Mối quan hệ giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu
trúc vốn (tỉ lệ nợ trên tổng tài sản) của các công ty
cổ phần nhận được sự quan tâm khá nhiều trong
giới học giả. Li và cs. (2009) khi xem xét mối
quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và cấu trúc vốn của
các công ty cổ phần ngoài khu vực công tại Trung
2

An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 15 (3), 1 – 11

Quốc đã kết luận rằng, tỉ lệ sở hữu nhà nước có
mối quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn. Li và cs.
(2009) giải thích rằng, các công ty được kiểm soát
bởi nhà nước dễ dàng tiếp cận với thị trường nợ
vay. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi
Poyry và Maury (2010) đối với các công ty tại
Nga cho thấy rằng các công ty được kiểm soát bởi
nhà nước có mức sử dụng nợ cao hơn so với các
công ty được kiểm soát bởi tư nhân. Nghiên cứu
của Trương Đông Lộc (2009), dựa trên dữ liệu
của 116 công ty niêm yết tại Việt Nam trong
khoảng thời gian từ 2005 – 2008 cũng có kết luận
tương tự như Li và cs. (2009) và Poyry và Maury
(2010), tuy nhiên, mức độ tương quan giữa 2 yếu
tố này rất nhỏ. Nguyên nhân của mối quan hệ
cùng chiều giữa hai yếu tố này, theo Poyry và
Maury (2010) và Trương Đông Lộc (2009) lý giải
là do các công ty có tỷ lệ vốn nhà nước cao được
đối xử đặc biệt từ các ngân hàng cũng có vốn sở
hữu của nhà nước, đồng thời, nhờ mối quan hệ từ
trước nên dễ tạo được sự tin tưởng của ngân hàng
và do đó có khả năng vay nợ cao hơn.

Trung Quốc. Okuda và Lai (2010) cũng có cùng
kết luận như Zou và Xiao (2006) và Huang (2006)
khi xem xét mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và
cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn
2006 – 2008. Tuy nhiên, khi phân tích mối quan
hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn trong sự
ảnh hưởng tương tác của các yếu tố khác như lá
chắn thuế, quy mô công ty, khả năng sinh lợi, tài
sản cố định và tăng trưởng kinh doanh, Okuda và
Lai (2010) phát hiện ra rằng, các công ty được
kiểm soát bởi chính phủ ít có động lực trong việc
tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng cách
sử dụng nợ vay.

Ngược với các kết luận trên, Hardiyanto và cs.
(2015), dựa trên dữ liệu của 228 công ty niêm yết
tại Indonesia thuộc tám ngành công nghiệp khác
nhau cho thấy rằng, tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu
trúc vốn đo lường bởi tỉ lệ nợ trên tổng tài sản, có
mối quan hệ ngược chiều. Hardiyanto và cs.
(2015) lý giải rằng, dù các công ty được sở hữu
hoặc kiểm soát bởi nhà nước có nhiều đặc ân hoặc
ưu đãi hơn trong việc vay nợ từ các ngân hàng
thương mại cũng thuộc sở hữu nhà nước, nhưng
nếu mức sử dụng nợ cao sẽ phá hủy giá trị công
ty. Do đó, các công ty có vốn nhà nước chịu ảnh
hưởng bởi các quy định và chính sách của Bộ
Doanh nghiệp Nhà nước (Ministry of State
Enterprises) về các quyết định tài chính liên quan
đến cấu trúc vốn và thường duy trì tỉ lệ nợ trên
tổng tài sản trong phạm vi 50% - 70%
(Hardiyanto & cs., 2015).

Bên cạnh đó, dù Poyry và Maury (2010), Li & cs.
(2009), Trương Đông Lộc (2009) và Fraser và cs.
(2006) tranh luận rằng, các công ty mà nhà nước
nắm vốn chi phối dễ dàng tiếp cận với nợ vay nhờ
vào các mối quan hệ cũng như sự tin tưởng từ
phía chủ nợ và sự đảm bảo của nhà nước, tuy
nhiên, xét dưới góc độ của Lý thuyết Đại diện
(Agency Theory), Jensen và Meckling (1976),
Fama (1980) cho rằng với sự sở hữu tập trung
(không phân tán), các công ty sẽ hạn chế được chi
phí đại diện của vốn chủ sở hữu. Do đó, họ không
cần sử dụng nhiều nợ vay như một biện pháp để
giảm chi phí đại diện. Ngoài ra, trong bối cảnh
nền kinh tế Việt Nam với tỉ lệ sở hữu khá tập
trung của cổ đông nhà nước, các quyết định về tài
chính công ty, trong đó có quyết định về sử dụng
nợ vay, nhiều khả năng bị chi phối bởi các quy
định và chính sách của các Bộ chủ quản có liên
quan, giống như giải thích của Hardiyanto và cs.
(2015), García-Teruel và Martínez-Solano (2010)
khi cho rằng, công ty do nhà nước kiểm soát
thường chịu sự can thiệp về chính sách cấu trúc
vốn, và do đó, các công ty này thường sử dụng nợ
vay một cách cẩn trọng. Từ các phân tích ở trên,
giả thuyết H1 và H2 được đề xuất như sau:

Một số nghiên cứu khác (Zou & Xiao, 2006;
Huang, 2006) lại không tìm được bằng chứng về
mối quan hệ giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu
trúc vốn của các công ty cổ phần niêm yết tại

H1: Tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn (tỉ lệ
nợ trên tổng tài sản) của các công ty cổ phần có
vốn nhà nước ở Việt Nam có mối quan hệ ngược
chiều.
3

An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 15 (3), 1 – 11

vốn cổ phần, đồng thời tránh được rủi ro phá sản.
Còn trong trường hợp sự sở hữu bị phân tán, chi
phí đại diện của vốn cổ phần gia tăng do vấn đề
đại diện (Agency problem). Khi đó, công ty
thường có xu hướng gia tăng vay nợ để giảm chi
phí đại diện của vốn cổ phần, vì một phần chi phí
này được chuyển sang cho chủ nợ (Fama, 1980).
Ngoài ra, đại diện của cổ đông nhà nước thường
có xu hướng sử dụng nợ để tránh cổ phần bị pha
loãng nhằm duy trì sự kiểm soát công ty (Zou &
Xiao, 2006). Một số nghiên cứu thực nghiệm
(Ruan & cs., 2011; De La Bruslerie & Latrous,
2012) cho thấy rằng có mối quan hệ phi tuyến tính
ngược (inverted U-Shape) giữa cấu trúc sở hữu và
cấu trúc vốn của công ty, nghĩa là, mối quan hệ
cùng chiều khi sở hữu phân tán và chuyển sang
mối quan hệ ngược chiều khi tỉ lệ sở hữu tập trung
cao. Đây là khoảng trống tri thức thứ hai về mối
quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn của
các công ty cổ phần mà nghiên cứu này sẽ xem
xét, bởi vì các nghiên cứu trước đây (Trương
Đông Lộc, 2009; Okuda & Lai, 2010) chưa xem
xét liệu rằng có mối quan hệ phi tuyến tính giữa
sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn đối với các công
ty cổ phần có vốn nhà nước tại Việt Nam. Do đó,
giả thuyết H4 được đề xuất như sau:

H2: Tỉ lệ nợ trên tổng tài sản của các công ty cổ
phần có vốn nhà nước ở Việt Nam sẽ thấp hơn
trong trường hợp các doanh nghiệp mà nhà nước
nắm cổ phần chi phối (≥ 50%) so với các doanh
nghiệp mà nhà nước không nắm cổ phần chi phối
(< 50%).
Một khoảng trống tri thức trong nghiên cứu của
Okuda và Lai (2010), cũng như các nghiên cứu
khác (Poyry & Maury, 2010; Li & cs., 2009;
Trương Đông Lộc, 2009) là chưa xem xét mối
quan hệ giữa sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn
trong sự ảnh hưởng tương tác của giới tính CEO
lên mối quan hệ này. Bởi vì nghiên cứu của
Huang và Kisgen (2012), Faccio và cs. (2015) cho
thấy rằng, giới tính CEO cũng có ảnh hưởng đáng
kể lên cấu trúc vốn của công ty, trong đó, CEO là
nữ thường sử dụng nợ ít hơn so với các đồng
nghiệp là nam giới, và có thể, giới tính CEO trong
sự tương tác với sở hữu nhà nước sẽ tạo ra những
ảnh hưởng khác nhau lên cấu trúc vốn của các
công ty cổ phần. Do đó, giả thuyết H3 được đề
xuất:
H3: Giới tính CEO có ảnh hưởng tương tác lên
mối quan hệ ngược chiều giữa tỉ lệ sở hữu nhà
nước và cấu trúc vốn, trong đó, CEO của công ty
là nam sẽ làm hạn chế mối quan hệ ngược chiều
giữa tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn (tỉ lệ
nợ trên tổng tài sản) ở các công ty cổ phần có vốn
nhà nước tại Việt Nam.

H4: Có mối quan hệ phi tuyến giữa tỉ lệ sở hữu
nhà nước và cấu trúc vốn của các công ty cổ phần
có vốn nhà nước tại Việt Nam.
3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Dữ liệu

Một câu hỏi khác đặt ra cho nghiên cứu này là,
liệu rằng tỉ lệ sở hữu nhà nước và cấu trúc vốn
của các công ty cổ phần có vốn nhà nước ở Việt
Nam có mối quan hệ phi tuyến tính (non-linear),
nghĩa là, sẽ ngược chiều trong một giới hạn của tỉ
lệ sở hữu và cùng chiều trong một giới hạn tỉ lệ sở
hữu nhất định. Jensen và Meckling (1976); Fama
(1980) giải thích rằng, công ty với sự sở hữu tập
trung sẽ hạn chế được chi phí đại diện của vốn cổ
phần, và do đó, công ty không cần sử dụng nợ
như một biện pháp để giảm chi phí đại diện của

Mẫu quan sát của nghiên cứu này là 2.888 công ty
cổ phần có vốn nhà nước ở Việt Nam, được trích
từ bộ dữ liệu Điều tra doanh nghiệp năm 2010 của
Tổng cục Thống kê. Các thông tin về quy mô
công ty, cấu trúc vốn, tỉ lệ sở hữu nhà nước, hiệu
quả hoạt động kinh doanh của các công ty được
tính đến hết năm tài chính 2009 và được trình bày
chi tiết trong Bảng 1.

4

An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 15 (3), 1 – 11
Bảng 1. Mô tả mẫu nghiên cứu

Chỉ tiêu

Trung
bình

Sở hữu nhà nước (%)

Độ lệch
chuẩn

Nhỏ nhất

Lớn nhất

43,25

20,98

1,00

100,00

Sở hữu nhà nước (≥ 50% = 1, 0 = trường hợp
khác)

0,48

0,50

0

1

NamCEO

0,93

0,26

0

1

481.428

6.072.708

370

255.000.000

Tài sản cố định/Tổng tài sản (%)

36,02

25,46

5,00

90,24

Tiền và tương đương tiền/Tổng tài sản (%)

19,35

19,17

4,92

90,61

Nợ/Tổng tài sản (%)

57,65

25,85

0,00

99,00

ROA (%)

5,47

7,64

(29,95)

77,54

ROE (%)

13,38

16,75

(98,65)

98,52

Tổng tài sản (triệu đồng)

(Nguồn: Tính toán từ 2.888 công ty cổ phần có vốn nhà nước ở Việt Nam, trích trong Bộ dữ liệu Điều tra doanh nghiệp
2010 của Tổng cục Thống kê)

Bảng 1 cho thấy rằng, trong tổng số 2.888 công ty
cổ phần có vốn nhà nước ở Việt Nam vào năm
2009 trong mẫu quan sát, có khoảng 48% số công
ty là do nhà nước nắm cổ phần chi phối (≥ 50%).
Quy mô trung bình của công ty trong mẫu nghiên
cứu này là 481,4 tỉ đồng với tỉ lệ nợ trên tổng tài
sản hơn 57,6%. Trong tổng số 2.888 CEO của các
công ty trong mẫu khảo sát, khoảng 93% là nam
giới. Điều này cho thấy, sự bất cân bằng về giới
tính lãnh đạo cao cấp trong các công ty cổ phần có
vốn nhà nước ở Việt Nam nói riêng. Ngoài ra, xét
về hiệu quả hoạt động kinh doanh, kết quả thống
kê cho thấy, dù chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009, các công ty cổ
phần có vốn nhà nước trong mẫu khảo sát này
kinh doanh có lợi nhuận với tỉ suất lợi nhuận trên

tổng tài sản (ROA) và tỉ suất lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (ROE) trung bình lần lượt đạt 5,47%
và 13,38%.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu đã được xem xét ở phần
lược khảo tài liệu về mối quan hệ giữa sở hữu nhà
nước và cấu trúc vốn, cũng như một số yếu tố
khác có ảnh hưởng lên cấu trúc vốn như quy mô
công ty, cấu trúc tài sản cố định và cấu trúc tài sản
thanh khoản đã được chứng minh ở các nghiên
cứu trước đây (xem Bảng 2), các mô hình hồi quy
được xây dựng để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu
nhà nước lên cấu trúc vốn của các công ty cổ phần
có vốn nhà nước ở Việt Nam cũng như ảnh hưởng
tương tác của giới tính CEO lên mối quan hệ này.

5

Tài liệu cùng danh mục Quỹ đầu tư

Có nên chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận khác?

Chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm những khoản lợi nhuận khác lớn hơn luôn là lẽ thường trong hoạt động của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng dễ dàng như mong muốn: có những lúc thị trường chứng khoán lên giá khiến nhiều nhà đầu tư “mừng ra mặt”, nhưng cũng có khi thị trường sụt giảm làm không ít nhà đầu tư “mất ăn mất ngủ”.


Asset Management in Europe: Facts and Figures 2012

Our paper proceeds as follows. Section 2 reviews our data, and describes the economic state variables and risk factors used in the study. Section 3 reviews the investor types considered in our study, and provides details on the methodology. Section 4 presents the main empirical results, while Section 5 conducts an attribution analysis and Section 6 provides robustness results. Finally, Section 7 concludes. Details on data sources, variable construction, and additional robustness results are provided in a series of appendices available from the web....


REGULATION FOR INVESTMENT FUNDS: Issued pursuant to the Administrative Decision No. (10 /2004)

The innovative nature of social funds, their contributions to poverty reduction, their wide- spread recognition as well as controversy surrounding them in developing countries and within the development community, all called for a global exchange of experiences and lessons learned. The Economic Development Institute (EDI) of the World Bank, after facilitating some regional exchanges among social funds’ managers in Latin America and Africa, identified the need for a global learning event in 1995 and initiated the preparation of the workshop in early 1996....


Alternative Investment Fund Managers Directive: Survival Kit

Because of the special risks associated with investing in Emerging Markets, sub-funds which invest in such securities should be considered speculative. Investors in such sub-funds are advised to consider carefully the special risks of investing in emerging market securities. Economies in Emerging Markets generally are heavily dependent upon international trade and, accordingly, have been and may continue to be affected adversely by trade barriers, exchange controls, managed adjustments in relative currency values and other protectionist measures imposed or negotiated by the countries with which they trade. These economies also have been and may continue to be affected adversely by economic conditions in the countries in...


An Analysis of Berkshire Hathaway

Although the Standard & Poor's 500 is the most commonly used measure of the performance of the U. S. stock market, it is sometimes argued that, because this index is so heavily populated with high quality, large capitalization stocks, it may not be an appropriate benchmark with which to compare a mutual fund which may be invested in lower quality, smaller capitalization stocks. The obvious refutation: If one can obtain a higher return by investing in...


Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng Công Thương - 7

Phương châm hoạt động của ngân hàng Công thương Đống Đa: an toàn - hiệu quả - tăng trưởng an toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh, hiệu quả mang ý nghĩa kinh tế xã hội, tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng. Cung cấp các dịch vụ ngân hàng hoàn hảo cho khách hàng, quán triệt sâu sắc phương châm mang lại thành công cho khách hàng là trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng chính là tôn chỉ của ngân hàng Công...


Portfolio Performance Evaluation

In some cases the style of a fund is captured using the returns of other managed portfolios in the same market sector. The OE port- folio is then a combination of a manager’s peers’ portfolios. With this approach the measured performance is a zero-sum game, as the average performance measured in the peer group must be zero. This approach can make it easy to control for costs and risks, to the extent that the portfolio and its peers are similar in these dimensions. In such cases, the performance differential can be a relatively clean measure of value added. However, finding truly comparable peer funds may be a challenge. Many...


PIMCO Total Return Fund

Zimbabwe continues to be among the least competitive economies in the World. According to the World Bank 2011―Doing Business Survey‖ Zimbabwe ranked 157 out of 183 countries in the world, a move up of two positions compared with the 2009 report. Its ranking however is still well below those of neighboring countries such as South Africa (34), Namibia (69), and Botswana (52) (Figure 2). The regulatory environment for infrastructure services in particular is deficient, with the institutional and legal framework for public enterprises imposing constraints on their effectiveness, autonomy, and accountability. The major concerns for the investment climate relate to...


Bài giảng Đầu tư tài chính: Chương 3 - TS. Phạm Hữu Hồng Thái

Mục tiêu của Bài giảng Đầu tư tài chính: Chương 3 Danh mục rủi ro tối ưu nhằm trình bày về chiến lược đa dạng hóa danh mục nhằm giảm thiểu rủi ro. Hiểu một số khái niệm như rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Xác định lợi nhuận kỳ vọng, độ lệch chuẩn, phương sai, hiệp phương sai, và hệ số tương quan của danh mục 2 tài sản rủi ro.


Giáo trình Hoạch định ngân sách vốn đầu tư Chương 4

Chương 4 Vận dụng các tiêu chuẩn thẩm định dự án đầu tư trong thực tiễn - Trong thực tế hạn chế nguồn vốn cứng tương đối ít


Tài liệu mới download

Mẫu Bản cảnh cáo nhân viên
  • 19/05/2015
  • 83.311
  • 893

Từ khóa được quan tâm

Có thể bạn quan tâm

Climate Investment Funds
  • 18/11/2012
  • 72.260
  • 987
Mutual Fund Basics Tutorial
  • 18/11/2012
  • 70.413
  • 160
10 quy tắc kiểm soát đầu tư
  • 19/07/2013
  • 16.597
  • 252

Bộ sưu tập

Danh mục tài liệu